Vị sơ tổ của
Phật giáo Việt Nam
Phật giáo Việt
Nam đã có một lịch sử muời lăm thế kỷ, lẽ cố nhiên
phải tôn thờ một vị Sơ Tổ để tượng trưng cho mười
lăm thế kỷ lịch sử ấy. Không phải là ngày nay chúng ta
mới lo tìm nguồn đâu. Ngay từ hồi xưa, nhiều người đã
cố ý tìm tòi nguồn gốc Phật giáo Việt Nam.
Trong sách Thuyền Uyển Tập Anh có
ghi câu chuyện bà Ỷ Lan, mẹ vua Lý Nhân Tông hỏi Thông Biện
quốc sư đã trả lời rành mạch và dẫn chứng những thư
tịch cũ để minh chứng. Về sau, có các sách Tam Tổ Thực
Lục, cũng có mục đích ghi lại những sự kiện lịch sử
của đạo Phật ở Việt Nam.
Trong khi Phật giáo Trung Hoa tôn thờ
Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma làm Sơ Tổ, thì tại sao Phật Gíáo
Việt Nam lại không tôn thờ Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi mà lại
cứ mãi bắt chước theo Tàu?
Ðã đành rằng ngài Tỳ Ni Ða Lưu
Chi chỉ là Sơ Tổ của phái Thiền Tông có đầu tiên trên
đất Việt. Nhưng ngoài Thiền Tông ra, thử hỏi ở Việt Nam
ta còn có những tông nào?
Ngay ở Trung Hoa nói rằng có mười
tông nhưng kỳ thực chỉ có Thiền Tông là có cơ sở vững
vàng chắc chắn. Ngài Bồ Ðề Ðạt Ma là vị Tổ đầu tiên
của Thiền Tông Trung quốc và được xem như là Sơ Thổ của
Phật giáo Trung Hoa. Vậy thì ở Việt Nam, Ngài Tỳ Ni Ða Lưu
Chi, vị sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam, tại sao ta lại không
xem như là Sơ Tổ của Phật Giáo Việt Nam được?
Cũng đã đành rằng trước khi Ngài
Tỳ Ni Ða Lưu Chi qua đất Vìệt, đã có các ngài Ma Ha Kỳ
Vực, Khương Tăng, Hội, Mâu Bác, và Chi Cương Lương qua truyền
đạo. Nhưng đó chỉ là một vài người rời rạc, không đủ
sức lập nên được tông phái có truyền thống. Ở Trung Hoa,
trước khi ngài Bồ Ðề Ðạt Ma bước chân đến, vẫn cũng
đã có những vị đi truyền đạo và dịch kinh, như các Ngài
Ma Ðằng Trúc Pháp Lan... Tuy nhiên, các ngài này vẫn không
được suy tôn làm Sơ Tổ vì họ đã không tạo nên một truyền
thống nào.
Ngày xưa ta có thói thường bắt
chước theo Trung Quốc, từ cách thờ tự, lễ tụng cho đến
lề lối học tập, trước thuật. Giờ đây, tất cả mọi
ngành đều vươn đến cá tính dân tộc, ta không thể còn
bắt chước mãi. Về tam tạng, ta phải có một tam tạng quốc
văn. Về lễ nhạc, phẩm phục, tổ chức, kiến trúc, ta phải
đi đến cá tính Việt Nam. Trên bước đường xây dựng nềnPhật
Giáo dân tộc, cố nhiên ta phải tôn thờ vị Sơ Tổ của
Phật giáo Việt Nam để luôn luôn có ý thức về một ngàn
rưỡi năm lịch sử.
Tôn thờ Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi thay
thế cho ngài Bồ Ðề Ðạt Ma không phải là một việc làm
thay bậc đổi ngôi, không phải là việc nâng cao một Ngài
lấy cớ là Sơ Tổ của mình và hạ thấp một ngài lấy cớ
là sơ Tổ nước người. Không, các vị Tổ Sư đều là những
bậc thầy đáng kính của chúng ta. Chúng ta kính trọng liệt
vị và luôn luôn đầu thành đảnh lễ. Nhưng chúng ta phải
có ý thức dân tộc, nghĩa là ta nên thờ Sơ Tổ Phật Giáo
Việt Nam như người Tàu đã thờ Sơ Tổ Phật Giáo Trung Hoa,
và người Nhật đã thờ Sơ Tổ Phật Giáo Nhật Bản.
Hiểu biết rõ ràng như thế rồi
, chúng ta không thấy có điều gì trở ngại trong việc làm
của chúng ta. Tất cả các nhà chùa ở Việt Nam đều nên
thờ Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi thay cho ngài Bồ Ðề Ðạt Ma. Ðó
là việc làm đầu tiên để chúng ta tỏ ra rằng cần xây
dựng một nền Phật giáo dân tộc.
Ngày kỷ niệm Tổ Tỳ Ni Ða Lưu
Chi, chúng tôi đã đòi hỏi nhiều vị cao đức trong Phật
Giáo, đều đồng ý chọn ngày rằm tháng mười âm lịch.
Nếu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam chấp thuận ngày ấy, thì
tất cả các chùa trên lĩnh thổ Việt Nam sẽ cùng làm lễ
Kỵ Tổ trong ngày lễ Hạ Nguyên.
-oOo-
Phụ lục:
Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi, tên Phạn
là VINITARUCI, nguyên người Nam Thiên Trúc, về phái Bà La Môn.
Thuở nhỏ, ngài đã có chí khác tục, đi du hành trong khắp
cõi Thiên Trúc để mong tâm ấn của Phật. Vì cơ duyên chưa
gặp, nên ngài sang các xứ Ðông Nam để qua Tràng An, kinh đô
nhà Trần bên Trung Quốc. Ðó là vào năm 574, niên hiệu Ðại
Kiến thứ 6.
Ngài muốn sang đất Nghiệp, (thuộc
tỉnh Hồ Nam bây giờ) nhưng may được gặp Tổ Tăng Xán ở
núi Tư Không. Thấy Tổ phong độ khác thường, Ngài động
lòng kính phục, chắp tay làm lễ. Ba lần làm lễ mà Tổ Tăng
Xán vẫn ngồi lim dim mắt, không nói gì. Ngài đứng yên, nghĩ
ngợi một lúc, bỗng thấy bâng khuâng như có sở đắc điều
gì, liền sụp xuống lạy ba lạy. Tổ Tăng Xán cũng chỉ gật
đầu ba cái mà thôi.
Ngài bước lại ba bước mà bạch
rằng :
-" Ðệ tử đến đây xin Hoà Thượng
từ bi cho được theo hầu bên tả hữu".
Tổ trả lời :
-"Ngươi phải đi sang ngay phương
Nam mà tiếp chúng, không nên ở lâu đây làm gì."
Ngài liền từ tạ ra đi, đến trụ
trì chùa Chế Chỉ đất Quảng Châu. Ở đấy ngài dịch kinh
trong sáu năm. Tháng ba năm Canh Tý (580) Ngài sang Giao Châu, trụ
trì chùa Pháp Vân (ở làng Văn Giáp, huyện Thượng Phúc, tỉnh
Hà Ðông bây giờ) dịch kinh Tổng Trì. Ngài ở luôn đó được
mười lăm năm mới tịch, và truyền tâm pháp lại cho Ngài
Pháp Hiền, để tử của Ngài.
Ngài tịch vào năm Giáp Dần 591,
đời Tùy Khai hoàng. Ngài gọi Pháp Hiền thiền sư vào phòng
và dặn:
- " Người nên biết, tâm ấn của
chư Phật không có thể mập mờ được. Tâm ấy viên mãn
như thái hư, không thừa, không thiếu, không đến, không đi,
không được, không mất, không phải đồng nhất cũng không
phải sai dị, không thường cũng không đoạn, không sinh cũng
không diệt, không xa cách cũng không phải không xa cách. Chỉ
vì đối với vọng duyên nên gỉa đặt ra tên ấy mà thôi.
"Vì thế, cho nên chư Phật trong
ba đời do đấy mà chứng đạo, lịch đại tổ sư do đấy
mà có chỗ sở chứng. Ta đây cũng vậy và rồi ngươi cĩng
thế. Cho đến các loài hữu tình vô tình đều cũng phải
như thế.
"Vả Tổ Tăng Xán khi ấn chứng
tâm ấy cho ta, đã bảo ta rằng :"Ngươi nên sang phương Nam
mà tiếp chúng, chớ nên ở đây lâu mà làm gì.". Vì thế
, ta đi trải bao nơi mới đến nơi đây. Nay gặp ngươi thật
là đúng lời huyền ký ấy. Vậy mà ngươi phải nhớ kỹ
lấy lời ta: đã đến lúc ta đi rồi đây".
(Phù chư Phật tâm ấn , tất bất
tương chẩn, viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư, vô khứ
vô lai, phi nhất phi nhị, phu thường phi đoạn, bản vô sinh
xứ diệc vô diệt xứ, diệc phi viễn ly, phi bất viễn ly.
Vị đối vọng duyên, gỉa lập danh dĩ. Sở dĩ tam thế chư
Phật diệc dĩ như thị đắc. Lịch đại tổ sư diệc dĩ
như thị đắc. Ngã diệt dĩ như thị đắc. Nhữ diệc dĩ
như thị đắc. Thả ngô tổ Xán Công, ấn ngô thử tâm thời,
vị ngô tốc nam, hành giao tiếp, bất nghi cữu trú. Khoáng
lịch vu tư, kim dữ nhữ ngộ, quá phù huyền ký. Nhữ thiện
tri chi, ngô khứ thời chí hỹ).
Nói xong, Ngài Tỳ Ni Ða Lưu Chi chắp
tay ngồi yên mà hóa. Ðể tử rước Ngài lên trà tỳ rồi
thu xá lợi xây tháp thờ.
Ðến đời nhà Lý, Vua Thái Tông
(1028-1054) có làm bài kệ truy tán Ngài như sau:
Sáng tự lai Nam Quốc
Văn quân cữu tập thiền
Ưng khai chư Phật tín
Viễn hợp nhất tâm nguyên.
Hạo hạo Lăng già Nguyệt
Phân phân Bát Nhã Liên
Hà thời hạnh tương kiến
Tương dữ thoại trùng huyền?
Dịch:
Mở lối qua Nam Việt
Nghe ngài thông đạo thiền
Nguồn tâm thông một mạch
Cõi Phật rộng quanh miền
Lăng già ngời bóng Nguyệt
Bát Nhã nức mùi sen
Biết bao giờ được gặp
Ðàm đạo lẽ thâm huyền?
Và nhà vua kính cẩn sắc phong cho Ngài
là "Pháp Vân Tỳ Ni Ða Lưu Chi Pháp Tự" tôn Ngài là đại
diện của Phật Giáo truyền thống.
Quả như lời truy tán của vua Lý
Thái Tông, đạo hạnh của Ngài sáng ngời như ánh nguyệt
trên núi Lăng Gìa, và trí tuệ của Ngài thơm ngát như hương
sen Bát Nhã. Không còn lời tán dương nào đẹp và xứng hợp
hơn thế nữa...