Lễ nhạc của Phật
giáo Việt Nam
Trong gần một
thế kỷ nay, lễ nhạc của Phật giáo Việt Nam đã không nắm
vững được kỹ thuật kỳ diệu và cao tuyệt của lễ nhạc
thời xưa. Cái sa sút ấy chứng tỏ sự suy đồi của đạo
Phật vè mọi mặt: giáo lý, hành trì, tu chứng và truyền
bá. Lễ nhạc là phần phát hiện bên ngoài của một văn hóa.
Mà văn hóa đạo Phật là một nền văn hóa siêu việt thì
cố nhiên lễ nhạc của Phật giáo, phản ảnh của nền văn
hóa siêu việt ấy, cũng phải có những bản sắc siêu việt.
Chúng tôi rất lấy làm buồn tủi
khi thấy kho tàng quý giá của tiền nhân để lại hiện nay
không còn được quý trọng như xưa; người ta đã hờ hững
xem thường, và đôi khi còn muốn hủy hoại đi nữa là khác.
Nghiên cứu lại lễ nhạc Phật
giáo Việt Nam ta thấy văn hóa Phật giáo Việt Nam ngày xưa
đã lên đến một trình độ khó diễn tả bằng lời nói.
thật vậy, chúng tôi đã say mê những nét sáng sủa huy hoàng,
những nét trầm hùng uy nghiêm, những nét nhẹ nhàng uyển
chuyển, những nét giải thoát nhiệm màu khi bước chân vào
ngôi nhà lễ nhạc Phật giáo.
Từ một nghi thức tụng niệm, một
khóa lễ hàng ngày cho đến một nét nhạc xưng dương Tam Bảo,
tất cả đều diễn tả một trỉnh độ tu chứng thanh thoát,
một tâm niệm giải thoát vô ưu.
Hãy đi tìm nếp sống văn minh của
những Phật tử ngày xưa trong lễ nhạc! Ta sẽ thấy tâm hồn
ta nhẹ nhàng thanh thoát khi thoáng thấy nếp sống an hòa tịnh
lạc của họ. Ta sẽ ước ao trỡ về với nếp sống thuần
tịnh để tâm hồn khỏi vướng bận những rộn ràng của
kiếp sống xao động hiện nay.
Hãy tìm đến một ngôi chùa xưa
nằm yên lặng bên một nếp đồi, dưới rừng thông xanh đậm
và cao vút. Mái chùa uốn cong nhè nhẹ, không vươn lên một
cách ngạo nghễ như những kiến trúc lắm tiền nhiều bạc
của Trung Hoa. Tam quan hùng mạnh uy nghiêm nhưng vẫn hiền từ
đón tiếp chúng ta như một bà mẹ trìu mến nhìn đứa con
đi xa mới về quê cũ. Tâm hồn ta yên tĩnh khi bước vào sân
chùa, vòng quanh hồ bán nguyệt thả sen, đi lên chùa dưới
hàng sến cao vút như những chiếc lọng to lớn. Trong hơi gió
thoảng, ta nghe tiếng chuông gia trì khoan thai điểm trong nhịp
mõ đều đều và ấm áp. Tiếng mõ trầm trầm và lâng lâng
kia không phải có ra do một sự tình cờ. Ðó là công phu của
bao nhiêu ngày tháng. Gỗ dùng để đục chạm nên chiếc mõ
ấy được lựa chọn hằng tháng trong các thứ cây. Nghệ
thuật đục mõ đã quyết định âm thanh của mõ. Có những
chiếc mõ mà tiếng ấm như nắng mùa xuân, dịu như lời nói
ôn tồn của vị sư già ngồi xếp bằng trên tọa cụ, bên
cạnh chiếc án thư đen bóng. Chúng ta hãy đến các ngôi chùa
xưa nhất để thọ trì một thời kinh và để thử xem âm
thanh của những chiếc mõ. Toàn là những thứ mõ rất quý
giá mà âm thanh thật ngọt ngào êm dịu. Buổi chiều đứng
trên hồ sen nghe tiếng mõ trầm trầm đưa tiếng kinh lan rộng,
tâm hồn ta thanh thoát không biết chừng nào. Nhưng đến các
chùa mới lập, ta sẽ không thế nào chịu nổi khi nghe tiếng
mõ chát như ổi non và loãng như nước gạo. Một người thợ
đục mõ vừa đem lên chùa Linh Sơn hơn bốn mươi chiếc mõ
con để dùng cho tư gia, mà chúng tôi đã không chọn được
chiếc nào có âm thanh đạo vị và giải thoát.
Còn chuông! Ðó là một công phu
tinh tế hơn nhiều. Nghệ thuật pha đồng, nắn khuôn để
tạo nên một cái chuông có âm thanh thiền vị không phải
là một nghệ thuật thô sơ. Hình dáng của chuông, sự dày
mỏng của những bộ phận trong chuông, công thức pha trộn
các thứ kim khí đã quyết định giá trị của tiếng nói
nhà thiền. Nghe tiếng đại hồng chung của chùa Linh Sơn Ðà
Lạt rồi về Huế nghe tiếng chuông Từ Hiếu hay Linh Mụ,
ta thấy khác nhau đến thế nào! Ðại hồng chung của hai ngôi
cổ tự, âm thanh mới thiền vị làm sao. Trầm lặng và ấm
áp, thanh tao. Trong khi ấy chuông chùa Linh Sơn chỉ là một
tiếng đồng lạnh lẽo, rời rạc và âm thầm. Nghệ thuật
đúc chuông chỉ còn sót lại ở nhóm đạo hữu khuôn Dương
Biều, nhưng ai có thể quyết chắc rằng nghệ thuật đó đã
không mất dần giá trị cũ? Tiếng chuông của chùa Viên Giác
Cầu Ðất tượng trưng cho nghệ thuật Dương Biều làm sao
so sánh với tiếng chuông Báo Quốc, tiêu biểu cho nghệ thuật
đúc chuông ngày xưa?
Giá Dương Biều chịu khó trở về
nghe lại tiếng chuông ngày xưa và quan sát hình thức cùng
cách chế biến của những quả hồng chung cổ điển , cố
gắng để đào luyện một tâm hồn đạo vị và một khiếu
thẩm âm tinh tế, chúng tôi tin chắc rằng Dương Biều có
thể đưa cao nghệ thuật đúc chuông lên như cũ được.
Mãi nói chuyện về chuông mõ, ta
bước vào Lạc Nghĩa Ðường mà không hay. Nhìn cách bài trí
trong Lạc Nghĩa Ðường, ta cảm thấyngát hương thiền vị.
Ba chữ Lạc Nghĩa Ðường xương kính uy nghi ngự trên tấm
hoành gỗ lim nâu bóng, mát dịu. Tường vôi màu khói hương
nhạt. Những bức đố, những trường kỷ, những bồ đoàn
có hộc tộ, cho đến những cột kèo chạm trổ tinh vi đều
mang một màu nâu bóng làm mát dượi cả gian nhà. Nếu ta ở
ngoài nắng vào, ta sẽ thấy mát mẻ như tắm mình trong dòng
nước trong. Màu sắc thanh nhã và uy nghi làm cho ta không dám
nói lớn tiếng và không dám lê guốc hững hờ trên nền gạch
nâu sẩm màu. Thật khác hẳn với cách trang hoàng của các
ngôi chùa mới: từ cái khăn trải bàn màu rực rỡ, đến
những bức họa lắm màu treo trên tường, những bộ bàn ghế
đánh véc ni bóng lộn, những bình hoa giấy lòe loẹt... cho
đến những lá cờ năm sắc treo cùng nơi khắp chốn làm ta
nhức mắt như khi bước vào một hiệu tạp hóa của người
Tàu. Thật không còn gì là đạo vị nữa!
Ta hãy nhìn xem bộ ghế "quá đường"
nằm chính giữa. Chỗ ấy là nơi vị Thượng Tọa trưởng
lão ngồi, và dù khi người không ngồi đấy mà đi ngang qua,
tự nhiên ta cũng pnải cúi đầu. Trong đại chúng, không một
ai dám có tư tưởng ngồi thử lên đấy xem có cảm giác thế
nào, vì đạo hạnh uy nghi của vị trưởng lão làm mọi người
kính sợ. Ở đây tùy theo tuổi tu và tùy theo đức hạnh,
có một trật tự tôn ty rất hợp lý và nghiêm nhặt. Không
một vị tăng nào ngồi ngang Thượng Tọa. Các bậc tỳ kheo
nhỏ tuổi và các thầy Sa Di mỗi khi hầu chuyện phải đứng
một bên, hoặc nếu người cho phép sẽ bắc chiếc ghế con
ngồi ghé một bên rất khiêm tốn. Nói gì đến các vị cư
sĩ tại gia; khi vào chùa, họ không dám động mạnh và khi
gặp Thượng Tọa, lắm người sụp xuống đảnh lễ. Sự
tô nghiêm về lễ giáo này không có một tý gì là "phong kiến"
hay "giai cấp" cả; ở đây không hề có sự bó buộc: nhân
cách và đạo đức của người tu hành đã cảm hóa được
mọi người. Và lễ nghi chính là do tinh thần đạo đức hình
thành.
Ðảnh lễ một vị đại đức,
tâm hồn ta thấy an tịnh, thuần kính, không phải như khi ta
bị cưỡng ép phãi giữ lễ độ trước một vị công chức
hống hách. Ta tìm thấy trong những lễ nghi thuần cẩn ấy
một nếp sống có uy hướng, có mục đích, những tâm hồn
thuần cẩn kính tín, khẩn thiết và chí thành. Chúng tôi không
biết ăn làm sao nói làm sao khi thấy lối tiếp khách của
một vài ngôi chùa mà tăng tục bình đẳng một cách sổ sàng;
lắm người xem bậc tăng già không ra gì, không biết sự thuần
cẩn của họ làm sao mà có được để họ tự xưng mình
là Phật tử? Hoặc giả cũng vì tại các bậc tăng già ấy
chưa có một đạo đức thâm sâu để phát ra một nhân cách
đáng sùng thượng cũng nên.
Trên chiếc tủ cổ kính dưới bức
"Lạc Nghĩa Ðường" dựng một thạch bản có những đường
vân hình một vị Bồ Tát đang ngồi thiền tọa. Ðối diện
với bức "Lạc Nghĩa Ðường" là một bức hoành bằng gỗ
màu cánh dán, trên khắc mười lăm lời đại nguyện của
một vị tổ khai sơn. Phía tả, chân dung đức Quan Thế Âm
bằng nét thủy mạc linh động, lồng trong một chiếc khung
thật lớn. Nét vẽ thần diệu diễn tả được một phần
nào vẻ thanh tú và từ bi của một đấng đại sĩ. Lối trang
hoàng thật thanh nhã, thật công phu, sự sắp đặt trong ngôi
nhà thật có thứ tự sít sao, màu sắc và hỉnh dáng ăn khớp
với nhau để tạo nên một khung cảnh thiền vị, khác hẳn
lối trang hoàng ồn ào của những phòng khách của các chùa
"tân thời" ngày nay.
Tiếng guốc mộc khoan thai báo cho
ta biết rằng nhà tu hành sắp ra. Ta đứng dậy đến đón
chào Người. Nụ cười hiền dịu của Ngài làm cho ta dịu
cả tâm hồn. Người ngồi xuống tràng kỷ và cho phép ta ngồi
trên chiếc bục kê sát một bên. Trong khi chú điệu soạn
khay pha trà, dáng điệu nhẹ nhàng và cung kính trong chiếc
áo năm thân màu lam, ta lễ phép đáp lại một vài câu hỏi
hiền từ của nhà tu hành đáng kính. Màu áo nâu sẫm cũa
Người, sao ta thấy tinh khiết và đẹp đẽ quá chừng. Màu
nâu sồng là một màu thanh đạm, trầm mặc, nhưng kiên nhẫn,
chứa đầy hùng lực. Thật là một màu sắc được chọn
lọc của đạo Phật nước nhà, thích hợp với tinh thần
nước nhà, thích hợp với tinh thần đạo lý Ðông Phương
và ngát màu quê hương xứ sở.
Ðạo Phật Việt Nam từ ngàn xưa
đã được nhìn qua màu nâu sồng thanh nhã và trầm hùng. Các
vị tăng già chỉ đắp y vàng khi vào lễ Phật và khi giảng
kinh thuyết pháp. Pháp phục, vì vậy, được tôn trọng ngang
với kinh điển. Tăng già của Cao Miên, Tích Lan dùng y vàng
luôn trong cả ngày nên màu vàng trở thành tầm thường, không
gợi được niềm cung kính tuyệt đối như màu vàng của "vàng
son điện thép" của Ðại Hùng Bảo Ðiện. Một vài vị tăng
già sang Xiêm, sang Tích Lan, sang Lào, khi về, muốn cho tăng
già Việt Nam đổi phẩm phục, dùng y vàng. Các vị ấy không
có kiến thức về nền văn hóa của nền Phật Giáo dân tộc
và cổ truyền của đất nước, cho nên mới có ý tưởng
vong bản và ngoại lai đó. Màu sắc nâu sồng của Phật giáo
nước nhà đã trở nên thiêng liêng, mang đầy hồn dân tộc,
hồn đất nước, chứa đựng bao nhiêu ý nghĩa về đức tánh
trầm hùng, tượng trưng cho một nền phật giáo lịch sử
có những thời đại huy hoàng như Lý, Trần ngày trước. Màu
sồng của Phật Giáo Việt Nam bất diệt! Tinh thần Phật giáo
truyền thống và dân tộc đòi hỏi như thế, và không cho
chúng ta đi xa mất gốc.
Khi các bậc tăng già Việt Nam hành
lễ, thì có áo hậu màu khói hương và ngoài thì đắp y ngũ
điều, thất điều, hay nhị thập ngũ điều, tùy theo trường
hợp khinh trọng và tùy theo giới lạp đức hạnh của mình.
Trang nghiêm và thành kính không biết chừng nào mà kể.
Sau khi đã cung kính nhận lấy hai
lần chén trà thơm ngát mùi hoa mộc hoa sói, chúng ta đứng
dậy xin đi vãng cảnh chùa. Vị tăng già đáng kính với nụ
cười hiền dịu, bảo chú điệu lấy nón cho Ngài, rồi đưa
chúng ta đi ra vườn cảnh.
Dưới ánh nắng mai, hình dáng nhà
tu hành dưới chiếc nón lá thật rộng vành - có đến hai
mươi mấy vành là ít, trông khoan tha, điềm đạm và ung dung
một cách lạ lùng. thật là hiện thân của đạo hạnh, của
giải thoát. Ta nhớ lại là đã trông thấy một vài vị tăng
đội mũ tây, cỡi xe đạp phóng nhanh trên đường đô thị.
Sao mà khó nhìn đến thế! Trông một vị đội mũ tây, ta
thấy mất đi hết một nửa con người của nhà tu hành, và
cảm thấy khó chịu. Có lẽ các vị cho là tiện lợi. Chúng
tôi đồng ý là có thể đặt ra những thứ che đầu thích
hợp và tiện dụng hơn nón lá, nhưng với điều kiện hình
htức cũa các thứ ấy phải thích ứng với tinh thần đạo
đức Ðông phương. Nhìn một vị tăng đội mũ đi giày, tôi
tưởng như đang nhìn một giáo sĩ Tây phương đang đi làm
việc xã hội. Không, Phật giáo Việt Nam phải có những hình
bóng tăng già tượng trưng cho nền đạo từ bi và giãi thoát:
Toàn
thể con người của một nhà tu phải là một bài thuyết pháp
không lời. Ðội cái mũ Tây và có những cử động lăng
xăng thiếu khoan thai, thiếu phong độ, tức là đã phản với
hình thức và nội dung của bài thuyết pháp ấy.
Chúng ta viếng cảnh những mộ tháp
và để ý nhỉn lối kiến trúc cổ điển của Phật giáo
dân tộc. Những đường cong thanh tú, những trạm trổ tinh
vi mà mỗi nét mỗi hình tượng trưng cho mỗi ý đạo: khổ,
không, vô thường, vô ngã, diễn tả một tinh thần phong phú
đạo lý, lành mạnh, vững chắc trước mọi biến thiên. Nhìn
những kiến trúc đặc biệt ấy của tiền nhân rồi nghĩ
đến các ngôi chùa mới dựng, ta hoảng hốt thấy rằng kiến
trúc của Phật giáo Việt Nam hiện thời đang đi đến chỗ
phá sản. Nhiều chùa đã xây dựng như nhà tây. Phần nhiều
đều lai: lai đình miễu còn khá, lai Cao Miên, lai rạp hát,
lai Tây và hại nhất là lai nhà thờ. Ngôi chùa sư nữ nào
đó ở Phan Thiết đã có những cửa đi xây dựng theo kiểu
"art gothique" của nhà thờ Thiên Chúa. Không khéo, vào các chùa
ấy và nghe hát những "bản nhạc Phật" mới sáng tác theo
điệu Gia Tô, ta sẽ tưởng lầm là ta lạc vào một cái nhà
thờ mất. Nguy hại cho nền Phật giáo dân tộc biết chừng
nào! Mong rằng từ nay những ngôi chùa mới, như chùa Xá Lợi
hay một ngôi chùa toàn quốc tương lai chẳng hạn, sẽ trở
về với kiến trúc cao đẹp của Phật giáo Việt Nam cổ điển
và nếu có dung cải, sẽ dung cải theo những luật tắc nằm
sẵn trong kiến trúc truyền thống.
Ði vãng cảnh chùa xong, ta xin phép
nhà tu vào chánh điện lễ Phật. Thời kinh sáng chưa chấm
dứt. Chúng ta cởi giày, bỏ guốc, mặc áo tràng lam và trước
khi bước vào chánh điện, ta nhẫm lại câu mà các vị tăng
già mỗi khi nhìn thấy Phật, đều đọc lên để xưng tán:
" Kiến Phật tướng hảo, đương
nguyện chúng sinh, đắc thanh tịnh nhãn kiến nhất thiết Phật"
- Thấy tướng đẹp của Phật, xin nguyện cho chúng sinh đều
đắc được pháp nhãn thanh tịnh để thấy được tất cả
chư Phật mười phương."
Các tăng già mỗi khi đi, đứng,
làm việc, đều ý thức được công việc mình làm và luôn
luôn nhiếp được thiện niệm nhờ đọc những câu kệ như
thế. Thử lật cuốn "Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu" ra xem,
ta sẽ thấy nếp sống tinh thần của nhà tu giàu thịnh và
ý nghĩa không biết mấy mà nói. Rửa tay, các vị đọc: "Dĩ
thủy quán chưởng, đương nguyện chúng sanh, đắc thanh tịnh
thủ, thọ trì Phật pháp" - "Lấy nước rửa tay, nguyện cho
chúng sinh đều được hai bàn tay trong sạch để thi hành và
nắm giữ Phật pháp."
Ý nghĩa bao gồm trong những câu
ấy thật sâu xa, xúc tích, cho đến một việc tầm thường
nhất như khi đi đại tiểu tiện các vị cũng đọc :"Ðại
tiểu tiện thời, đương nguyện chúng sanh, khử tham sân si,
quyên trừ tội pháp" - "Khi đại tiểu tiện, xin nguyện chúng
sinh tống ra ngoài những tham sân si và dứt sạch mọi tội
lỗi."
Ðáng kính phục thay, nếp sống
đạo vị ấy. Tất cả chỉ là nghi lễ và lễ nghi. Lễ nghi
với đạo là một. Thấy một giòng nước rửa mặt, rửa
chân, ngồi ngay thẳng, thắp một cây đèn, uống một tách
nước...các ngài đều đọc một câu đầy ý nghĩa để nhiếp
phục tâm niệm. Buổi khuya, nghe chuông tỉnh dậy, cho đến
buổi chiều tĩnh tọa để an nghỉ, suốt ngày, nhà tu hành
nhiếp được tâm niệm trong chánh đạo, trách gì chánh niệm
không chánh thành tựu. Ðọc hết cuốn sách ấy, ta đã thấy
được cái cao đẹp vô biên của nếp sống đạo lý.
Nhưng kìa, tiếng chuông gia trì đã
ngân nga trong trẻo dịu dàng và ấm áp. Qua khói trầm hương,
ta nhìn thấy Ðức Phật với nụ cười muôn thuở. Nghệ thuật
điêu khắc xưa đã diễn tả được nhiều đức từ bi, trí
tuệ và hùng lực. Thi sĩ Thanh Tịnh, một đêm đứng trước
bàn thờ Phật của một ngôi chùa cổ chốn Thần kinh, đã
cảm động mà có hai câu thơ:
"Gió luồn khe cửa, chao đèn
Phật,
Một nụ cười xưa phát thệ nguyền"
Cảm giác thật là cảm giác hiền
dịu của ta khi đứng trước cảnh tôn nghiêm cuea chánh đdiện.
Lối thờ tự, tuy mới nhìn thấy như phiền phức, nhưng thật
ra có một trật tự không thể nào thay đổi. Mổi bàn, mỗi
tượng, mỗi nhạc khí chuông, mõ, linh, tang, trống đều có
một địa vị nhất định không thể thay đổi. Trật tự
ấy có một ý nghĩa sâu sắc, chứa đựng một triết lý,
biểu lộ cả một văn minh tinh thần cao đẹp. Các nhà mỹ
thuật hãy đến viếng các ngôi chùa xưa để ngắm những
tượng La Hán để rồi khiếp đảm trướcnhững nét kỳ diệu
của điêu khắc cổ điển Phật giáo Việt Nam. Ở miền Nam,
hãy đến chùa Vĩnh Tràng Mỹ Tho, vì ở đấy cũng có nhiều
di tích của nghệ thuật ấy.
Nhắc chi đến cách bài trí bàn
Phật bây giờ cho đau lòng. Tượng Phật chỉ chuộng màu sắc
loè loẹt. Ðèn điện trơ tráo, đèn ống phơi bày văn minh
cơ khí một cách kỳ dị. Không phải là ta không thể dùng
điện, nhưng hãy dùng kín đáo, và không thể bỏ nến vì
nến là một trong những thứ phải có để cúng dường Tam
Bảo cho trang nghiêm.
Ta lặng nghe tiếng xướng uy nghiêm
của vị chủ lễ, tiếng xưng tán Tam Bảo trang trọng mà quy
kỉnh như ánh nến lung linh trang nghiêm. Tiếng chuông mõ khoan
thai mở đầu cho khóa lễ. Phải có một tâm hồn điềm đạm
và trang nghiêm lắm mới điểm được những tiếng chuông
và những tiếng mõ trang trọng như thế kia. Chúng tôi nhớ
lại một buổi lể của Gia Ðình Phật Tử, cũng mõ ấy chuông
ấy, nhưng chát chúa và lủng củng vô cùng, bởi tánh tình
các em còn nóng nảy, vụt chạc, hờ hững. Ta lại gần để
xin thỉnh một tiếng chuông. Nhẹ nhàng, ta cầm dùi chuông
lên, trong lòng yên tĩnh, ta nhẹ tay đưa dùi chuông sát nhẹ
vành chuông: một tiếng ngân trong sáng vọng ra êm ái mà thuần
dịu.
Nhưng nếu tâm hồn không bình tĩnh,
ta sẽ đánh lên những tiếng chuông mà nếu thâu thanh lại,
ta thấy không thể nào dùng được. Một vị cao tăng đã nói
với chúng tôi rằng người có thẻ xét biết trình độ tu
chứng và giải thoát của một người, khi nghe giọng tụng
kinh và tiếng chuông mõ của người ấy.
Một bài tán hương được cử lên,
tang mõ cùng điểm trong một sự nhịp nhàng tuyệt đối. Bài
tán là một bài thơ phổ nhạc thiền. Ta hãy lắng mà nghe.
Nếu ta mang nặng một tâm hồn trần tục, ta sẽ không cảm
nhận được những nét nhạc giải thoát siêu tuyệt ấy. Giá
trị văn thơ và triết lý của các bài thơ đã là đáng kể;
nét nhạc diễn tả ý thơ lại càng đáng cho ta khâm phục
hơn nữa.
Viết về cổ nhạc Phật giáo, nhạc
sĩ Nguyễn Hữu Ba nói: "Trong âm nhạc giữa đời, chúng ta
nghe có điệu như máu sôi, lửa cháy, như quỷ khóc, tù van,
có khúc như say đắm dâm ô, như reo cười múa hát. Thật chúng
đã tượng trưng đúng cho cảnh vui buồn tương đối của
trò đời giả dối vậy. Trái lại, âm nhạc nhà Phật là
phản ảnh của đời sống an lạc đạm bạc của tâm hồn
bình dị, thanh khiét, của đạo màu giải thoát khổ đau...
Nội tâm thì bình tĩnh an vui, ngoại cảnh thì thanh thoát hồn
nhiên, nên âm nhạc nhà Phật đã thấm nhuần tinh thần thoát
tục siêu phàm, không vướng chút gì gọi là u sầu, phiền
lụy. Ở đây có những nét nhạc lung linh như nến, uyển chuyển
như khói trầm, nhẹ nhàng như hương sen, có những nét nhạc
sáng sủa nbư vàng, huy hoàng như vàng son điện tháp; có những
nét nhạc trầm hùng và tỏa rộng như chuông chiều, oai nghiêm
như đại cổ." (Giác Ngộ, số 3 ra ngày 15-5, Kỷ Sửu)
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba quả đã
thấy được phần nào kho tàng quý giá của Phật giáo Việt
Nam. Phải có một tâm hồn thanh thoát, mới cảm thấy được
tất cả tính chất siêu việt của ý nhạc, mới cảm thấy
được cái hay "ai nhi bất thương, lạc nhi bất dâm", cái đẹp
của tín ngưỡng, của giải thoát. Nguyển Hữu Ba lại đã
nghĩ rất đúng khi ông viết: "Nhạc nhà Phật rất cao siêu,
có nhiều nhạc điệu lạ kỳ, rất hay, đối với nhạc ngoài
đời đã không kém mà lại có chỗ cao siêu hơn. Nhạc điệu
nhà Phật hoàn toàn có màu sắc Việt Nam, không chịu ảnh
hưởng nước nào; chẳng những thế, không giống gì nhạc
điệu của các ngành kia." (Trong bài đã dẫn) "Không
giống" vì đây là nhạc giải thoát. Lượng và phẩm của
nhạc Phật rất đáng kể, nhưng tiếc thay, không ai chịu nghiên
cứu, sưu tầm, bảo vệ; hiện giờ có nhiều nhạc điệu
đã thất truyền. Sự thất truyền ấy đang theo thời gian
mà thực hiện đến toàn vẹn. Mong rằng người ta dẹp ngay
những bài hát Phật "cải cách" lại, để trở về tìm nguồn
trong kho tàng Phật nhạc để rồi duy trì cổ nhạc và sáng
tác, với kỹ thuật Tây Phương, những nhạc phẩm mới cho
Phật giáo Việt Nam, những nhạc phẩm có thể tiêu biểu cho
tinh thần đạo Phật của dân tộc.
Những bài hát lai Tây và loại nhạc
nhà thờ cần phải được loại ra khỏi nền Phật nhạc.
Tâm hồn chúng ta sẽ biến cải nếu ta cứ bị nghe mãi những
nét nhạc ngoại lai không có tinh thần từ bi trí tuệ và giải
thoát.
Một ban nghiên cứu và sưu tầm
phải thu lượm tất cả những bài thơ phổ nhạc của đạo
Phật để tìm hiểu, phân tích, truyền bá, bảo tồn, và phát
huy. Phật tử Việt Nam sẽ tìm nguồn cảm hứng ở đây để
sáng tác, phải cố tu tập cho tâm hồn thanh thoát để sáng
tác.
Ngay đến cách tụng niệm cũng đã
là những bản nhạc thần diệu rồi. Bài "Nguyện Tiêu" và
"Nguyện Sanh" với giọng thiết tha, bai "Lăng Nghiêm" trầm trầm
thanh thoát như canh định, bài "Hồng Danh" nhịp điệu bổng
trầm, chú "vãng sanh" lâng lâng như bay bổng sang Tịnh Ðộ.
Mỗi bài một lối tụng, tùy theo nội dung và ý nghĩa của
từng bài. Ðến như các bài nhạc thỉ tuyệt diệu: Bài "Nhất
Ðiện" với nhạc điệu siêu tuyệt tả cảnh vô thường "thân
hình bào ảnh tợ ngân sương"; bài "Ái hà thiên xích lãng"
diễn tả tâm niệm tinh tấn và cảnh thăng trầm của "khổ
hải vạn trùng ba"; bài "Tọa bồ đề tòa" với những nét
cao vút như đỉnh Tuyết Sơn và đẹp như ánh sao băng diễn
tả giờ Thành Ðạo "Nhất Ðổ Minh tinh, đạo thành giáng
pháp lâm"; bài "Hương tài nhiệt" diễn tả nét lung linh của
khói hương, tràng phan, nét uyển chuyẽn của "Chư Phật Bồ
Tát hạ thiên cung" trong lúc "Hương yên liêu nhiễu liên hoa
động"...
Bao nhiêu là màu sắc , là âm điệu
là hình bóng, là nghĩa lý thâm uyên.
Rồi ta sẽ xin phép nhà tu xem qua
nghi thức của các lễ Cầu An, Cầu siêu, Khai kinh, Mông Sơn,
Truyền giới... Trong mỗi nghi thức, ta sẽ khám phá ra được
một quan niệm về nhân sinh, một nếp sống an lành , hiếu
nghĩa, từ bi, xem trọng sự lợi sinh và giải thoát của muôn
loài. Ở đây, lý trí và tình cảm điều hòa trong một nếp
sống vị tha, đạo hạnh,ngát mùi dân tộc và đượm hương
giải thoát. Nếu còn nhiều thì giờ, chúng ta hãy đọc lên
một vài đoạn văn trong khoa "Mông Sơn" để thấy lòng từ
bi lan đến thập loại chúng sinh, vài đoạn văn trong sách
Truyền giới "Ðại Học" để thấy tất cả sự quan hệ của
nếp sống tinh thần của người tu học. Mỗi câu xướng,
mỗi cử động trong nghi thức chứa đựng một ý nghĩa mà
suốt từ đầu đến cuối, một sự sắp đặt toàn mỹ ăn
nhịp theo với mục đích của khóa lễ: Sám hối bao giờ cũng
trước phát nguyện, phát nguyện bao giờ cũng trước hồi
hướng và nghi thức bao giờ cũng chấm dứt bằng Tam Tự Quy
để hành giả quay về với sơ niệm tốt đẹp cũa đời đạo
hạnh.
Trong lễ nhạc, trong các nghi thức,
nếu nhgiên cứu, ta sẽ thấy cả một nếp sống tâm linh cao
đẹp, phong phú, một nền văn minh tinh thần siêu việt, một
khuynh hướng giải thoát an lạc.
Sau khi được lãnh thọ bữa trai
phạn tinh khiết và thanh đạm, chúng ta xin phép trở về. Nhà
tu hành sẽ đưa chúng ta ra tam quan và hẹn ngày tái ngộ. Chúng
ta bước ra khỏi chùa với một tâm hồn an lạc và tin tưởng.
Nhưng nghĩ rằng lể nhạc của đạo
Phật hiện đã hao mòn và hiện giờ còn bị người hắt hủi,
chúng ta thấy buồn vô hạn. Vì đâu nghệ thuật đạo Phật
hiện giờ sút kém ngày xưa như thế? Phải chăng vì trình
độ tu học của tăng đồ và của cư sĩ không được như
xưa?
"Hữu ư trung tắc hình ư ngoại".
Tâm hồn như thế nào thì cách sinh hoạt thế ấy. Sinh hoạt
văn hóa của giới Phật tử ngày nay chứng tỏ một khả năng
tu chứng thấp kém, bạc nhược. Nếu các bậc tăng già thực
hiện được đời sống tâm linh giải thoát an lạc, nếu các
vị cư sĩ tín nhiệm vững vàng, không lợi danh, không khinh
suất thie đâu đến nỗi mà lễ nhạc đi vào con đường phá
sản. Vậy chúng ta đốt hương nguyện cầu cho cácvị tăng
già được nhiều người có tu chứng, có sở đắc tâm linh;
cho các vị cư sĩ lấy lại tín tâm thuần cẩn, để văn hóa
- chân tướng - của đạo Phật được hiển lộ, lợi ích
cho quần sinh. Sống trong lễ nhạc ấy, ta mới có được "thực
tu", "thực chứng".
Vì sự biểu hiện bên ngoài cần
thiết như vậy, nên ta lại phải cố gắng trở về với kho
tàng lễ nhạc cũ để gội mình trong đó, đễ thấm nhuần,
để chiêm nghiệm, để sáng tạo, để loại trừ những hình
thức lố bịch phản tinh thần Phật giáo, phản tinh thần
dân tộc, những hình thức đang mai mỉa hai ngàn năm lịch
sử huy hoàng cũa nền đạo đất nước, và cuối cùng để
xây dựng nếp sống cao đẹp, thuần túy và phong phú mà tiền
nhân đã xây dựng được một cách vẻ vang.