Vấn đề đào tạo
Tăng tài
Các Thầy và các
đạo hữu hẳn cũng đã nhận thấy số lượng ít ỏi cũa
các vị tăng già có tu học ở xứ ta. Hàng triệu phật tử
cư sĩ đang ở vào tình trạng thiếu các bậc tăng già hướng
dẫn. Bao nhiêu tỉnh hội, chi hội và bao nhiêu đơn vị "khuôn"
hiện giờ đang khao khát một vị tăng già trú trì tại địa
phương mình để hướng dẫn sự tu học. Bao nhiêu cặp mắt
tin tưởng đổ dồn về cấp lãnh đạo. Nhưng số lượng
của các vị giảng sư qua một vài lần trong những dịp đại
lễ, thế rồi thôi. Biết bao nhiêu đơn vị Phật học gởi
thơ về thiết tha mong cấp lãnh đạo gởi về một vị tăng
già để nắm giữ việc sinh hoạt hoằng pháp tại địa phương,
nhưng đã mỏi mắt trông chờ mà chưa thấy có kết quả.
Thiếu một vị tăng già, không khí tu học sẽ trở nên lệch
lạc. Vấn đề đào tạo tăng tài bây giờ đã trở nên một
công việc khẩn bách.
Giảng sư của cả hai miền Nam Trung
hiện giờ gồm lại không đây ba mươi vị. Các vị trú trì
được bổ nhiệm đi làm phật sự cũng không quá số lượng
ấy bao nhiêu. Tự viện trong toàn quốc có đến hàng mấy
vạn, mà số các vị trú trì có khả năng hóa độ và hướng
dẫn tính ra không được một phần mười. Quần chúng Phật
tử thiếu các vị tăng già hướng dẫn, và đó là một nguy
hại lớn cho nền đạo đức cổ truyền của dân tộc. Nguy
hại là ở chỗ quần chúng không biết đạo, mà không biết
đạo thì rất có thể dễ dàng bị lời tuyên truyền của
ngoại đạo, của duy vật, của ma quỷ lung lạc. Vấn đề
đáng đặt ra và cần đặt ra trong thời đại, vì ở ngày
xưa, mối lo ngại ấy không cần phải có.
Khắp các nơi, tổ chức giáo dục
thanh thiếu niên Phật tử được thành lập theo phong trào
du học hiện thời. Nhưng thật là một điều đáng ngại nếu
mỗi nơi không có một ban hướng dẫn vững vàng lành mạnh,
thông hiểu đường lối và phương pháp giáo dục Phật giáo.
Các trại huấn luyện co dấp Tổng trị sự mở chung cho hai
ba tỉnh tuy là cần thiết và kịp thời, nhưng chưa đủ, phải
nói là còn thiếu lắm mới đúng. Thông hiểu đường lối
giáo dục của đạo Phật, không ai hơn là các vị tăng già
nhất là các vị này có ít nhiều tân học. Vậy mà có nhiều
gia đình Phật tử vắng hẳn bóng chiếc áo nâu trong nhiều
tháng và trong nhiều năm. Bên cạnh Ban Hướng Dẫn phải có
một vị tăng già. Ðó là điều cần thiết. Và giáo lý do
chính miệng nhà tu hành đó dạy lại cho các em mới mang được
sức cảm hóa cần thiét và đầy đủ của nó.
Nhiều trường tư thục Phật giáo
cũng đã được mở ra các nơi. Nhưng hiện có nhiều trường
thiếu hẳn bóng của các nhà tăng sĩ. Một trường Phật giáo
thiếu mất một giờ giáo lý không còn là một trường Phật
giáo nữa. Bóng dáng của chiếc áo nâu ơe đây thật cũng
là cần thiết. Theo nhận xét của chúng tôi, trường tư thục
nào mà có quý thầy dạy thì các học sinh đều thuần hậu
và ngoan ngoãn hơn các trường khác.
Vậy ta có thể kết luận rằng
Phật giáo Việt Nam hiện thiếu rất nhiều các bậc tăng già
để hướng dẫn sự tu học cho các đạo hữu.
Có một số các vị tăng sĩ chân
tu hiện giờ vẫn còn ẩn náu những chốn tịch liêu, chưa
muốn ra làm việc hoằng pháp tiếp độ. Một số các vị
trưởng lão Hòa Thượng và các vị Thượng Tọa có học có
tu khác hiện giờ tuy đang đảm đương công việc Phật sự,
nhưng vì số lượng quá ít ỏi nên mỗi vị thường mang nặng
trên vai có khi đến ba bốn chức vụ, làm việc đêm ngày
không ngớt. Một số các vị sớm có nhận thức về đường
lối của Phật giáo dân tộc đã tinh tấn và hoan hỷ tham
gia công việc của giáo hội và của các tập đoàn, hoạt
động Phật sự trong các ngành Hoằng Pháp, Trú trì, và giáo
dục. Một số học tăng và học ni chừng ba trăm vị đang
tùng học tại các Phật học đường, nhưng gặp nhiều trường
hợp cần thiét, cũng đã phải ra làm việc từng tháng một,
xong một khóa lại trở về Phật Học Ðường học tập. Một
số nữa các vị trú trì ở các tỉnh nhờ nhận thấy con
đường mới, đã gia nhập giáo hội toàn quốc và sốt sắng
tham gia các khóa học tập và thực hành hoằng pháp.
Ðó, gia tài của Tăng Bảo Việt
Nam, tuy cũng có thể xứng đáng làm hiển lộ chân tướng
Tăng Bảo, nhưng vỏn vẹn chỉ có từng ấy, một số lượng
quá ít ỏi. Ngoài ra, sót lại của thời đại suy đồi, còn
không biết bao nhiêu vị "hình đồng tăng già" mà tình trạng
ngư mục hỗn châu càng làm tăng thêm nỗi hoang mang cho người
tín đồ chưa biết đạo.
Nhìn vào tình trạng ấy, người
hữu tâm với nền đạo lý phải kết luận rằng: thế nào
cũng phải đào tạo một thế hệ tăng già mới, cao quý về
phẩm và phong phú về lượng. Vấn đề là một vấn đề
căn bản.
Chúng tôi có những nhận xét và
đề nghị sau đây:
A) Về các ngành
chuyên môn của các vị Tăng già:
Theo nhu cầu hoằng pháp thiết thực
ở hiện đại, thì ngoài các vị chuyên tĩnh tu ẩn cư không
tiếp xúc với thế tục, Phật giáo Việt Nam còn cần có các
vị tăng già trong những ngành chuyên môn sau đây:
1- Các vị giãng sư: Các
vị này đã học xong cấp trung học Phật giáo và có trình
độ trung học chuyên khoa. Phận sự của các vị này là theo
đúng chương trình và sự phân phối của ban Hoằng pháp Trung
ương để đi giảng dạy giáo lý cho các từng lớp Phật tử
ở khắp các nơi thành thị và thôn quê. Ðịa điểm diễn
giảng là các tự viện và các niệm Phật đường địa phương.
tại đây, các vị ấy thỉnh thoảng cũng theo chương trình
đã ấn định mà mở những lớp Phật pháp phổ thông để
giúp sự học hỏi cho quần chúng Phật tử. Các vị giảng
sư sẽ làm việc lưu động, từng khóa một và thay phiên nhau
để mỗi người đều có thể có những khóa an cư tu tập
và học hỏi thêm.
2- Các vị giáo sư:
Hiện thời số lượng các trường tư thục Phật giáo đã
tăng thêm rất nhiều. Các vị tăng sĩ cần phải đứng ra
đảm nhiệm một phần lớn sự giáo dục cho các trường này.
Các vị sẽ dạy ở cấp trung học và tiểu học. Trong số
các giáo sư trường Bồ Ðề chẳng hạn, ít ra phải có vài
ba vị tu sĩ để chăm lo về phần đức dục, giảng giờ giáo
lý và dạy ở một vài lớp trong trường.
Các vị giáo sư tu sĩ này có điều
kiện gần gũi tuổi trẻ. Sự gần gũi đó gây được nhiều
thông cảm, vì đã từ lâu, tuổi trẻ vẫn thường bỡ ngỡ
và hình như còn ngại ngùng khi nhìn thấy các vị học tăng.
3- Các vị giảng viên tại
Phật học viện: Các vị này phải học xong cấp
Ðại học Phật giáo nếu họ là giáp sư của cấp Trung Học.
Nếu là giáo sư của cấp Ðại Học thì họ phải có một
trình độ khá cao hơn, đã trước tác những tác phẩm hữu
danh hoặc đã trình bày một vài luận án mà ban giáo sư của
Phật học viện đã thảo duyệt.
Số lượng các vị này bao giờ
cũng ít. Họ ở tại các Phật học viện để giảng dạy,
nghiên cứu, trước tác và phiên dịch. Họ lại lo lập những
thư viện, xuất bản báo chí.
4- Các vị trú trì:
Số lượng cần rất to tát. Các vị này cần học xong những
năm giáo lý mở tại Phật học viện, những năm giáo lý quy
định cho ngành trú trì chánh pháp. Các vị lại phải thông
thạo về nghi lễ, tổ chức, giảng dạy tín đồ. Phận sự
của các vị là thường trú tại một chùa để trực tiếp
hướng dẫn sự tu học cũa dân chúng địa phương. Nhưng đến
mùa hè, các vị lại cần phải về an cư tu học thêm tại
các địa điểm an cư do Giáo hội thiết lập. Các vị có
thể ở nhiều năm, có khi hai ba mươi năm - tại một dịa
phương. Nhưng khi cần, các vị cũng được thuyên chuyển đi
nơi khác để được thích hợp với khả năng và với sức
khỏe.
Bốn ngành chuyên môn trên đây cần
được phân biệt rõ ràng, và nếu cần cũng nên quy định
những điểm dị đồng trong phẩm phục của các ngành tu ấy.
B) Về chương
trình học tập của Học tăng:
Các nhà Phật học tiếng tăm đời
Lý Trần, trước tiên đều là những người học nho rất
giỏi. Cần có một trìnhj độ phổ thông vững chắc mới
có thể học Phật được, bởi vì học Phật là một thứ
học chuyên môn, một môn đại học. Do đó Phật học viện
chỉ có thể thâu nhận làm sinh viên những học tăng nào có
trình độ phổ thông cần thiết. Bên Nhật, có bằng tú gài
mới được xuất gia. Xứ ta, chưa được thế tưởng cũng
nên bắt buộc có trình độ Trung Học Phổ Thông.
Vậy nếu cần có lớp dự bị xuất
gia, thì lớp này cần thu nhận các học sinh có trình độ
đệ thất. Thời gian dự bị xuất gia là bốn năm, phân làm
ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, các em ỡ nhà 20 ngày,
ăn mặn như thường, ở trường 10 ngày, ăn chay và sinh hoạt
như học tăng. Áo đen quần dài, tóc rẽ. Giai đoạn thứ hai,
ở trường 20 ngày, ở nhà bốn ngày. Xong giai đoạn này, các
em được xuất gia; trình độ đã lên Trung Học Phổ Thông,
chữ Hán đã dịch được một bài hơi dài và Phật Pháp đã
có thể vào năm thứ nhất Trung học.
Suốt thời gian ấy, các em được
học tại trường Phật học trong một khóa dự bị xuất gia
dành riêng cho các em. Nếu có trình độ Trung học Phổ Thông
rồi thì không cần theo học sáu tháng trước khi thi vào năm
Nhất niên Trung học. Nếu đã có trình độ Trung học chuyên
khoa thì cũng chỉ cần học một năm dự bị (căn bản Hán
tự và giáo lý) để xin vào năm Nhất niên Ðại học. Ðại
học chỉ cần ba năm.
Riêng về các em nghèo thì trong 4
năm dự bị xuất gia, Phật học đường sẽ phụ cấp. Phụ
huynh thường cứ tưởng cho con em đi xuất gia là cực khổ
lắm, không biết đâu rằng đời của một vị tăng rất ít
chứa chất những lo âu, buồn chán và sầu khổ, và đượm
rất nhiều niềm an lạc.
Cần có một lớp thế hệ thanh
niên xuất gia biết yêu đời, làm việc cho đời, biểu dương
được chân tinh thần của đạo, để số lượng người xuất
gia càng lúc càng tăng. Các lớp dự bị xuất gia vì thế cần
được tổ chức hoàn bị và cần được luôn luôn ở những
địa phương nào thuận lợi.
Khi học xong cấp trung học Phật
học, nếu còn điều kiêẹn, họ sẽ thi lên Ðại Học. Nếu
không, họ sẽ học bổ túc một năm và sẽ ra làm việc cho
đạo trong ba ngành giảng sư, giáo sư tư thục, và trú trì
chánh pháp. Năm năm sau, họ có thể hoặc phát nguyện tu trọn
đời, hoặc có thể hoàn tục tự nhiên làm cư sĩ và hộ
trợ chánh pháp. Những vị cư sĩ nào đã từng được xuất
gia như thế chắc hẳn sẽ có một căn bản vững vàng về
đạo và cũng sẽ có lợi ích nhìều cho đạo.
Trong cấp Trung học, sinh viên tăng
sẽ học Phật pháp bằng hai thứ chữ, phần chính là Quốc
văn, phần phụ là Hán văn. Lên Ðại học, họ sẽ học bằng
Hán văn và tham khảo các sách Phật học và các bản dịch
Anh hay Pháp văn. Ở cấp Trung học, họ vẫn tiếp tục học
các môn phổ thông đồng thời với giáo lý. Ở Ðại học,
các môn văn chương, sinh ngữ, khoa học... chấm dứt để chỉ
chuyên học Phật học. Bổ túc môn này, có những giờ triết
học, xã hội học, sử học, dạy kèm theo.
Các môn Phật giáo truyền bá sử,
Phật giáo tư tưởng sử, Phật giáo giáo lý hệ phải có
những giáo sư chuyên môn, và các tác phẩm kinh luận phải
giảng theo từng giai đoạn của môn tư tưởng sử và giáo
lý hệ theo phương pháp phân tích mới.
C) Về toàn
thể Ni chúng:
Các vị ni cô, trong giới xuất gia,
cần có một chương trình học và hành khác biệt. Các ni cô
sẽ không làm việc trong ngành trú trì, mà chỉ chuyên về
mặt giáo dục, giảng diễn và xã hội.
Các ni cô cần được học thêm
về nghề nuôi dạy trẻ em, điều dưỡng bệnh nhân, và về
khoa sư phạm để sau này ra làm việc xã hội. Có nhiều công
việc rất hợp với khả năng họ: tổ chức các vườn trẻ
(jardins d'enfants), các trường mẫu giáo, các cô nhi viện, các
bệnh viện, các trường nữ học. Theo chúng tôi nghĩ, đó
là việc làm rất thích hợp với các ni cô, với tinh thần
đạo. Các ni cô làm việc nửa ngày trong các vườn trẻ, hoặc
trong trường mẫu giáo, các cô nhi viện, các bệnh viện, các
trường nữ học. Các cô cần phải thương đời, gần đời
hơn nữa để có thể biểu lộ được tinh thần từ bi, hoan
hỷ, của đạo Phật, để đừng cho người ta tưởng lầm
rằng "ni cô là những người yếm thế nhất trong phái nữ
lưu."
Kết luận:
Một vài ý kiến hèn mọn đưa ra
đây, chúng tôi mong sẽ làm quý Thầy và quý đạo hữu suy
nghĩ. Khi nói ra, chúng tôi đã suy nghĩ nhiều đến tình trạng
và điều kiện của chúng ta hiện tại. Chúng tôi không đến
nỗi ước mơ viển vông; việc là việc chung, có thể làm
được. Ước vọng của chúng tôi là một ngày kia được
trông thấy tiền đồ quang minh của đạo Phật, do công phu
của đoàn thể Tăng già chân chính của Phật giáo Việt Nam.