41.
TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT
Trong
kinh tạng Pàli, tôn giả Xá Lợi Phất chiếm địa vị quan
trọng hàng đầu, chỉ đứng sau Phật. Nhiều kinh được mở
đầu với câu cổ điển "như vậy tôi nghe" mà người thuyết
kinh thay vì Ðấng Giác ngộ, thì lại chính là bậc Thánh đệ
tử uyên bác ấy đại lao cho Ngài. Có khi đức Ðạo sư thăng
pháp tòa, chỉ trình bày một bài kệ rất vắn tắt, rồi
lui về am thất của Ngài. Trong những dịp như vậy, chúng
ta thường gặp tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện khai diễn
ý nghĩa lời dạy súc tích của Phật, và cuối cùng chính
Phật đã xác chứng cho lối giải thích của tôn giả bằng
một câu còn giá trị hơn tất cả những lời khen tụng: "Nếu
các ông hỏi ta, ta cũng sẽ giải thích như Xá Lợi Phất".
Tôn
giả Xá Lợi Phất (Sàrìputa, dịch nghĩa là Thu tử) là con
trưởng của một gia đình thuộc thế cấp Bà la môn giàu
nhất làng Upatissa, gần Nàlanda ngày nay. Upatissa cũng là tên
được đặt cho ngài khi sơ sinh. Mẹ ngài tên là Sàrì. Trong
bốn người con trai, ngài được mang tên của mẹ, trong khi
một người em của ngài lại có tên của cha là Vagantaputra.
Tôn giả có ba em trai và ba em gái, về sau đều theo ngài xuất
gia đắc quả A La Hán. Những tiểu sử của các vị này đều
được tìm thấy trong "Trưởng lão tăng kệ" và "Trưởng lão
ni kệ".
Ba
người em trai của Tôn giả có tên tuần tự như sau: Cunda
(Thuần đà), Upasena và Revata (Ly Bà Ða). Ba em gái của Tôn
giả là Càlà, Upacàlà và Sìsùpacàlà. Ly Bà Ða là vị đệ
tử thiền định đệ nhất của Phật. Vì ngài là con út,
bà mẹ rất cưng quí không muốn cho xuất gia nên tìm cách
cưới vợ cho ngài rất sớm. Vào ngày hôn lễ, không may cho
hai gia đình, cậu bé tình cờ thấy bà ngoại già 120 tuổi
của cô bé, và trực nhận lý vô thường, trong phút chốc
cậu đâm ra chán ngấy tất cả cảnh hoa lệ giả dối của
cuộc phù sinh, và muốn thoát ly bằng mọi giá. Ðược anh
cả yểm trợ, cậu út chuồn ngã sau giữa lúc đám tiệc linh
đình, và trực chỉ đi đến một ngôi tinh xá, xuống tóc
xuất gia. Ít năm sau khi nhập đạo, vào một mùa an cư, trên
đường đi bái yết Phật, tôn giả dừng chân ở một khu
rừng cây Khadìra (cây gai) và tại đây ngài đắc quả, nên
về sau ngài được hiệu là "Ly Bà Ða ở rừng gai". Ngài được
Phật khen là người xuất sắc nhất trong những vị yêu thích
độc cư ở núi rừng.
Em
trai giữa của tôn giả là Upasena hay Vagantaputta, là vị tỳ
kheo được Phật khen ngợi có hạnh hoan hỉ đệ nhất. Ngài
từ trần sau khi bị rắn độc cắn, như được ghi trong một
kinh của Tương ưng bộ.
Người
em kế ngài là Cunda (Thuần Ðà) được mệnh danh là Tiểu
Thuần Ða (Cula Cunda)ø, để phân biết với Trưởng lão Ðại
Thuần Ðà. Khi tôn giả Xá Lợi Phất nhập diệt, chính vị
này đã hầu cận ngài và mang di vật của ngài trở về thông
báo với đức Phật và Thánh chúng.
Ba
người em gái của tôn giả cũng xuất gia sau khi đã lập gia
đình, mỗi người có một người con. Những người con trai
này cũng đã theo tu học với tôn giả Ly Bà Ða. Chính tôn
giả Xá Lợi Phất, vào một dịp đến viếng thăm người
em út của ngài lâm bệnh, đã gặp các cháu và khen ngợi hạnh
kiểm tốt đẹp của họ, như được tìm thấy trong Trưởng
lão tăng kệ 42, phần luận sớ.
HẠNH
NHẪN NHỤC
Mặc
dù cả bảy anh em Tôn giả đều xuất gia theo Phật, bà mẹ
của Tôn giả vẫn giữ đạo Bà la môn, và có thái độ thù
nghịch đối với Phật giáo và tất cả những người xuất
gia. Bà thù hận Sa môn Gotama đã cướp hết đàn con của bà.
Vào một năm gặp thời đói kém, tôn giả Xá Lợi Phất đưa
500 trăm vị tỳ kheo đến khất thực tại nhà bà Sàrì. Bà
vừa bày thức ăn vừa lầm bầm nguyền rủa. Ðể thực phẩm
vào bát Tôn giả, bà mắng:
- Ngu
đi là ngu! Nhà cao cửa lớn, ruộng vườn thẳng cánh cò bay
thì không chịu ở, lại bỏ mà đi đầu đường xó chợ,
ngủ bụi ngủ bờ, ăn cơm thừa canh vụn của người ta.
Tôn
giả vẫn im lặng cùng chúng tăng thọ thực, ăn xong, ngài
im lặng trở về tinh xá. Ðại Ðức La Hầu La nhỏ nhất trong
tăng đoàn thóc mách thuật lại cho Phật nghe mọi sự đã
được chứng kiến tại nhà bà thí chủ nọ. Phật nhân đấy
thốt lời kệ sau đây, được ghi trong Kinh Pháp cú, phẩm
Bà la môn:
Ðầy
đủ đức hạnh không nóng giận,
giới
thanh tịnh không dục nhiễm,
ngang
thân này là cuối cùng,
không
còn thọ thân sau
Ấy
gọi là Bà la môn
(danh
từ Bà la môn ở đây chỉ người cao thượng).
Hạnh
nhẫn nhục của Tôn giả được Phật và những vị đồng
phạm hạnh không ngớt tán dương. Một hôm, một nhóm người
đang đề cấp về các đức tính của Tôn giả.
- Trưởng
lão Xá Lợi Phất của chúng ta có hạnh nhẫn nhục chẳng
ai bì. Ngài chẳng tức giận ai bao giờ.
Khi
nghe thế, một người Bà la môn lên tiếng:
- Vô
lý! Ai mà khỏi có lúc tức giận. Ðấy là vì không ai khiêu
khích ông ta thôi.
Mọi
người phản đối:
- Không
phải vậy đâu, cư sĩ.
Người
Bà la môn kia nói:
- Ðể
tôi có cách chọc ông ta tức giận cho coi.
Người
ta đồng ý chờ xem. Ngờ đâu, người Bà la môn ấy chực
khi Tôn giả vào thành Xá vệ khất thực, chạy theo đập một
đập như búa bổ vào lưng Tôn giả. Tôn giả vẫn thản nhiên
không quay lui, chỉ lên tiếng hỏi khẽ "Cái gì thế?" và tiếp
tục bước. Người kia sanh tâm hối hận, đến trước tôn
giả sặp lạy xin sám hối. Tôn giả hoan hỉ tha thứ ngay.
Người kia bạch:
- Bạch
tôn giả, nếu Ngài đã tha thứ cho con, xin thỉnh Ngài về
nhà con thọ thực, từ hôm nay trở đi, xin Ngài cho con được
cúng dường Ngài thường xuyên.
Nói
xong y đỡ lấy bình bát trên tay Tôn giả và đưa Ngài về
nhà. Nhưng có một bọn người đã vây quanh lấy người Bà
la môn ấy, sẵn gậy gộc cầm tay, và bạch Tôn giả:
- Bạch
Ngài, xin Ngài giao tên ác ôn đó cho bọn con sửa trị nó một
mẻ.
- Tại
sao?
- Bạch,
nó đánh Tôn giả! Chúng con phải bửa đầu nó ra!
- Kẻ
ấy đánh các ông, hay đánh ta?
- Bạch,
đánh Tôn giả.
- Vậy
thì y cũng đã xin lỗi ta rồi. Các ông hãy đi đi!
Vào
một dịp, Phật ngự tại Kỳ viên tịnh xá, Tôn giả bị
một tỳ kheo vu khống, vì vị này phẫn nộ bất mãn. Khi các
tỳ kheo đến từ giã sau mùa an cư, Tôn giả luôn luôn gọi
tên thân mật từng vị tỳ kheo, nhưng vị này lại không được
tôn giả nhắc đến tên, do nhân duyên ấy, vị này nổi lên
phẫn nộ bất mãn, nghĩ rằng: "Tôn giả đã không thăm hỏi
ta như những người khác". Ðang lúc tức giận, Tôn giả đi
ngang lại đụng chéo y vào người ông một cái, làm cho ông
càng thêm tức, đến kiến với Phật:
- Bạch
Thế tôn, Tôn giả Xá Lợi Phất luôn luôn nghĩ mình là đệ
tử số một của Ðấng Ðạo sư, đã đánh con một cái tát
gần điếc cả lỗ tai, thế mà không thèm nói gì, đã bỏ
đi một nước.
Ðức
Phật cho gọi tôn giả Xá Lợi Phất. Thay vì phủ nhận sự
vu cáo, Tôn giả đã rống tiếng sư tử giữa hội chúng với
một bài pháp hùng hồn xác chứng Ngài đã vĩnh viễn thoát
ly sân hận, có sức chịu đựng những mạ lỵ phỉ báng như
đất nhận đồ phế thải. Vị tỳ kheo ngập tràn hối hận,
xin Ngài tha thứ tội lỗi. Trước đức Ðạo sư, Tôn giả
thốt lên những lời đầy khiêm cung:
- Bạch
Thế tôn, con tha lỗi vị đại đức, và con xin vị ấy tha
lỗi cho con, nếu con có làm gì phật lòng vị ấy.
Ðức
Phật bảo chúng đệ tử đang vây quanh Ngài:
- Này
các tỳ kheo, Xá Lợi Phất và những người đã chứng đắc
như ông không bao giờ ôm lòng hận thù ai. Tâm ông lớn như
đại địa, vững như trụ đồng, và an tịnh như mặt nước
ao thu.
LÒNG
NHỚ ƠN
Trước
khi xuất gia, Tôn giả nhờ trưởng lão Assaji mà ngộ đạo
lý duyên sinh và tìm đến đức Phật để tham học. Tôn giả
nhớ ơn ấy suốt đời. Khi cùng ở một tinh xá. Ngài luôn
luôn đảnh lễ Assaji sau khi đãnh lễ đức Ðạo sư, và khi
Assaji ở chùa khác, Tôn giả thường hướng về ngôi chùa
ấy mà đảnh lễ sau khi đảnh lễ Phật.
Khi
Phật ở Xá vệ trong Kỳ viên tịnh xá có một người Bà
la môn nghèo khổ làm vườn, quét dọn để kiếm ăn. Phật
quán thấy ông ta có thể đắc quả, nên hỏi trong đại chúng
có ai nhớ đã chịu ơn người Bà la môn kia lần nào không.
Ngài Xá Lợi Phất thưa rằng, có lần Ngài khất thực trong
thành Vương xá, người Bà La môn kia đã sớt cho Ngài một
muỗng đồ ăn của y đã xin được. Phật bảo: - Vậy ông
hãy độ y xuất gia. Dưới sự hướng dẫn của tôn giả,
chẳng bao lâu người ấy đắc quả A La Hán.
BẬC
THIỆN TRI THỨC
Tôn
giả Xá Lợi Phất là bậc thiện tri thức của tất cả mọi
người. Ngài được tất cả yêu kính không những vì trí
tuệ siêu phàm mà còn vì đức khiêm cung và lòng từ bi hiếm
có. Ngài không bao giờ tỏ ra mình là bậc thượng thủ trong
giáo hội của Phật. Trong tinh xá Kỳ đà lâm, tôn giả luôn
luôn vấn an thăm hỏi những vị thượng tọa già yếu bệnh
tật, và mỗi khi ra khỏi độc cư thiền tịnh Ngài thường
đi một lượt quanh khu tinh xá, quét dọn lại những nơi bừa
bãi, để du khách khỏi chê cười đệ tử Phật ở dơ. Mỗi
khi theo Phật du hóa một vùng xa, tôn giả thường đi sau cùng,
sau khi thu xếp cho những vị tỳ kheo yếu bệnh. Cũng vì lẽ
ấy mà mà có bận Tôn giả đến nơi đã định khi đã quá
nửa đêm; không còn chỗ nào dành cho Tôn giả, tôn giả đành
ngồi nghỉ tạm ngoài trời, dưới một gốc cây. Khi đức
Phật rõ biết việc này, Ngài liền chế định, phải dành
chỗ sẵn cho các bậc tôn túc trưởng thượng.
Thông
thường, những người quá thông minh xuất chúng phải trả
giá thiên tài của họ bằng nỗi cô đơn. Nhưng Tôn giả Xá
Lợi Phất lại là một ngoại lệ. Ngài có rất nhiều bạn,
có thể nói Ngài là bạn của tất cả, kể từ đức Phật
trở xuống.
Nhiều
kinh điển Pali đã ghi lại những cuộc luận đàm kỳ thú
giữa Tôn giả Xá Lợi Phất với những bậc Thánh đệ tử
khác. Chính đức Ðạo sư dường như cũng ưa nói chuyện với
Tôn giả hơn với những người khác. Ngài thường gọi: "Này
Xá Lợi Phất" mỗi khi thuyết pháp. Thật là một địa vị
đáng thèm!
Ðức
tín thứ nhất làm cho mọi người yêu kính tôn giả, là ngài
biết thấy ưu điểm của người khác. Một lần, khi tôn giả
đang thiền định ngoài khoảng trống, có một con quỷ chơi
xấu, đến đánh một cú như trời giáng vào đỉnh đầu.
Nhưng do định lực sâu xa, tôn giả không bị giao động. Khi
ngài xuất định, Tôn giả Mục Kiền Liên đến hỏi:
- Hiền
giả có hề gì không?
Xá
Lợi Phất đáp:
- Không
sao cả thưa hiền giả. Tôi chỉ bị nhức đầu chút ít.
- Kỳ
diệu thay! Thật kỳ diệu thay định lực của hiền giả.
Vừa rồi có một con quỷ đến phá hiền giả, mặt mày con
quỷ hết sức dữ tợn, nó đánh một búa vào đầu hiền
giả, tưởng chừng núi đá cũng có thể vỡ ra!
Tôn
giả Xá Lợi Phất đáp lại bằng một lời khen ý nhị:
- Kỳ
diệu thay! Thật kỳ diệu thay năng lực thần thông siêu việt
của hiền giả Mục Kiền Liên, có thấy được mặt mày con
quỷ dữ ấy.
Tôn
giả Mục Kiền Liên và Tôn giả Xá Lợi Phất là đôi bạn
chí thiết từ nhỏ, ra đời cùng một ngày, trưởng thành
trong một môi trường sang quý như nhau. Trong lúc tham dự cuộc
vui huyên náo kéo dài nhiều đêm, đôi bạn cùng một lúc khởi
tâm nhàm chán cuộc sống thế tục với những lớp sơn lừa
phỉnh của ngũ dục tạm bợ và cùng nhau đi tìm thầy học
đạo. Trước hết, họ theo Sanjaya, một du sĩ ngoại đạo
nổi danh ở thành Vương xá. Với sự gia nhập của Xá Lợi
Phất và Mục Kiền Liên, uy tín của Sanjaya càng tăng gấp
bội, và những thanh niên thuộc danh gia vọng tộc nối gót
hai ngài đến thụ giáo với Sanjaya. trong một thời gian ngắn,
đôi bạn đã học xong tất cả những gì Sanjaya có thể trao
truyền, nhưng vẫn không tìm thấy đâu là con đường đưa
đến giải thoát. Họ phải giã từ Sanjaya, và sau này, khi
gặp được Phật, nghe giáo lý của Ngài, họ sung sướng trở
về khuyên Sanjaya theo Phật. Khi ấy Sanjaya nói một câu điển
hình của hạng thầy dốt:
- Ðịa
vị của ta không cho phép ta làm một học trò được. Ngươi
tốt hơn hết nên ở lại với ta, ta sẽ chia cho một nửa
đồ chúng mà lãnh đạo.
Xá
Lợi Phất thưa:
- Thưa
thầy, tôi không hiềm gì phải làm một người học trò suốt
cả đời, bao lâu chưa tìm ra được con đường giải thoát
sinh tử. Và một Ðấng giác ngộ không dễ gì được gặp!
Xin thầy hãy cùng đi với chúng tôi!
- Trong
thiên hạ kẻ ngu nhiều hơn hay người trí nhiều hơn?
- Thưa
thầy, kẻ ngu bao giờ cũng nhiều hơn người trí.
- Vậy
thì hãy để người trí đến với sa môn Gotama, còn kẻ ngu
sẽ theo ta.
Khi
đôi bạn ra đi, một nửa đồ chúng của vị thầy cũng đi
theo họ đến quy y Phật, Sanjaya tức đến thổ huyết. Trong
tăng đoàn của Phật, hai vị tôn giả trở thành đôi cánh
của một con chim đại bàng. Hai vị đối với Ðấng Ðạo
sư là hai cánh tay đắc lực trên đường hoằng pháp đến
nỗi khi hai ngài nhập Niết bàn, đức Phật đã thốt ra:
-"Hội
chúng từ nay đối với ta thật trống rỗng".
Qua
lời dạy ấy, chúng ta có thể hiểu rõ tầm quan trọng của
hai bậc Thánh đệ tử đối với đức Ðạo sư và đối với
chánh pháp.
Một
đức tính khác làm cho tôn giả Xá Lợi Phất được tất
cả đồ chúng của Phật yêu kính, là Ngài biết tôn trọng
ý kiến của mọi người. Ngài không bao giờ tự cho là trí
tuệ đệ nhất để áp đảo kẻ khác bằng lý luận. Trong
những cuộc luận đàm tôn giả thường hỏi ý kiến từng
người, để họ tự do phát biếu, và khi có sự bất đồng
Ngài rủ mọi người cùng đi đến yết kiến Phật để xin
đức đạo sư giải quyết, chứ không bao giờ tự cho ý kiến
mình đúng, thiên hạ đều sai.
Một
kinh của Trung bộ III kể, vào một đêm rằm trăng sáng chiếu
xuống khu vườn cây sala nơi tôn giả đang trú ngụ. Ðêm khuya,
trăng tỏ, hương hoa đang mùa rộ nở cùng với sương đêm
tỏa ngát không gian. Cảnh thật xứng với người: một cuộc
hội kiến giữa các bậc thượng thủ đến thăm tôn giả
Xá Lợi Phất. Tôn giả mở màn cho cuộc pháp thoại bằng
một câu hỏi, cũng vừa là một lời chào:
- Ðêm
thanh, trăng tỏ, vườn sa la khả ái thơm nức một mùi hương
như thiên giới. Chư hiền nghĩ sao, vị tỳ kheo nào, theo ý
kiến chư hiền, sẽ là người làm sáng chói khu vườn? (tức
một mẫu tỳ kheo lý tưởng trong Phật giáo phải như thế
nào?)
Tôn
giả A nan đáp:
- Theo
tôi, một vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn là vị nào đa
văn đệ nhất.
Tôn
giả Ca Diếp:
- Vị
tỳ kheo sáng chói khu vườn là vị trì khổ hạnh đầu đà
đệ nhất.
Tôn
giả Mục Kiền Liên:
- Tôi
thì cho rằng vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn, chính là
vị nào thành tựu biện tài số một.
Tôn
giả Ly Bà Da:
- Ý
kiến tôi thì, vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn phải là
người thiền định bậc nhất.
Khi
tất cả mọi người đều cho ý kiến, Tôn giả Mục Kiền
Liên giục bạn:
- Hiền
giả nghĩ sao? Ý kiến của người nào đúng? Và ý hiền giả
như thế nào về một vị tỳ kheo làm sáng chói khu vườn?
Tôn
giả Xá Lợi Phất đáp:
- Vị
tỳ kheo nào chế phục được tâm, không bị tâm chế phục.
Vị tỳ kheo nào, buổi sáng muốn trú tâm như thế nào, có
thể an trú tâm như thế ấy vào buổi sáng. Buổi trưa vị
ấy muốn an trú tâm thế nào, vị ấy cũng có thể làm như
ý muốn vào buổi trưa. Buổi chiều, buổi tối cũng vậy.
Như
một vị vua hay đại thần có một tủ đầy áo đẹp, và
sáng muốn mặc cái áo nào, trưa muốn mặc cái nào, chiều
muốn mặc cái nào, đều có thể làm theo ý muốn của mình.
Cũng thế, đối với một vị tỳ kheo đã chế phục được
tâm ý, không bị tâm chế phục. Một vị tỳ kheo như thế,
này hiền giả, sẽ làm sáng chói khu rừng sa la khả ái này.
Nhưng này chư hiền, chúng ta hãy đi đến đảnh lễ Ðấng
Ðạo sư để thỉnh giáo về vấn đề này.
Khi
đức Phật nghe thuật lại ý kiến của từng vị, Ngài dạy
rằng mọi người đều trả lời đúng theo địa vị và khả
năng của mình. Tuy nhiên Ngài thêm ý kiến của Ngài như sau:
- Vị
tỳ kheo sáng chói khu vườn chính là vị nào sau khi đi khất
thực về, sau khi chánh niệm thọ thực xong, rửa chân rồi
trải tọa cụ ngồi thiền cho đến khi nào không còn lậu
hoặc móng khởi.
Ðiểm
lý thú trong kinh này là ở chỗ khi mới nghe qua, chúng ta thấy
dường như mỗi vị tự đề cao cá nhân, song kỳ thật không
thế. Mỗi người phát biểu cái lý tưởng mình muốn đạt,
cho nên ngài A Nan, con người ưa đa văn, tôn trọng học vấn,
đương nhiên phải cho đa văn là nhất. Ngài Ca Diếp thì cho
hạnh đầu đà là lý tưởng của xuất gia, nên ngài mới
chuyên môn hạnh ấy. Mục Kiền Liên yêu thích biện tài, muốn
phát triển mặt ấy, nên cho rằng thành tựu biện tài là
nhất. Ly Bà Ða chú trọng thiền định cũng thế, vì cho thiền
định là lý tưởng. Câu đúc kết của Phật rất ý vị ở
chỗ, cái điều Ngài cho là lý tưởng chính là những việc
làm rất thường, không có gì quái dị phức tắp, thế mà
lại rất khó, chỉ có Phật mới thành tựu trọn vẹn được.
Ðó là những việc như ăn cơm, mặc áo, rửa chân, trải tọa
cụ ra ngồi... những việc Phật làm khi mở đầu kinh Kim Cương.
Như vậy, ta thấy rõ Phật muốn ám chỉ đạo là rất giản
dị, đó là cái tâm bình thường (bình thường tâm thị đạo);
nhưng đồng thời, quả thật cái việc "thường" ấy lại
khó khăn gấp bội những việc "phi thường" của các bậc
đa văn, biến tài, trí tuệ.
Tôn
giả Xá Lợi Phất lại còn một đức tính khác thu hút tất
cả những bậc đồng phạm hạnh, ấy là khiêm tốn và hâm
mộ những tài đức khác. Kinh Trạm xe (Trung Bộ II) kể, có
vị tôn giả là Phú Lâu Na được Phật và chúng tỳ kheo ở
chung luôn tán thán về giới hạnh không thiếu sót, yêu thích
độc cư, tinh tấn, tri túc, thiểu dục, đầy đủ giới, định,
tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và là người thường
khuyến khích người khác tu những hạnh kể trên. Khi nghe như
vậy tôn giả Xá Lợi Phất vô cùng hoan hỉ mong muốn có ngày
sẽ gặp được Tôn giả. Một hôm Phú Lâu Na đến yết kiến
Phật và lui về ở một nơi lân cận. Các vị tỳ kheo báo
tin cho ngài Xá Lợi Phất biết để đi thăm. Ðến nơi, tôn
giả bắt đầu hỏi chuyện:
- Hiền
giả, hiền giả vì mục đích gì mà sống phạm hạnh dưới
đức Ðạo sư? Phải chăng vì mục đích thành tựu giới thanh
tịnh?
- Không
phải vậy, hiền giả.
- Vì
mục đích kiến thanh tịnh?
- Không
phải vậy, hiền giả.
- Vì
mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
- Không
hiền giả.
- Vì
mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
- Cũng
không, hiền giả.
- Khi
ấy tôn giả Xá Lợi Phất nói:
- Hiền
giả, tôi hỏi cái gì hiền giả cũng đáp không phải vì mục
đích ấy mà hiền giả sống phạm hạnh. Vậy thì, hiền giả
sống phạm hạnh vì mục đích gì?
- Hiền
giả, với mục đích vô thủ trước Niết bàn.
Xá
Lợi Phất hỏi tiếp:
- Có
phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn?
Phú
Lâu Na đáp không. Hỏi tâm thanh tịnh, cũng đáp không, lần
lượt hỏi bảy thanh tịnh, cũng đáp không phải là vô thủ
trước Niết bàn. Khi ấy, Xá Lợi Phất lại hỏi:
- Trong
bảy thanh tịnh, hiền giả đều nói không có cái gì là vô
thủ trước Niết bàn, nghĩa là làm sao?
Phú
Lâu Na đáp:
- Hiền
giả, nếu Thế tôn dạy giới thanh tịnh là vô thủ trước
Niết bàn thì vô thủ trước ấy cũng đồng đẳng với hữu
thủ trước (chấp vào giới), về sáu thanh tịnh kia cũng vậy.
Và nếu Thế tôn dạy cái gì ở ngoài bảy pháp ấy là vô
thủ trước Bát Niết bàn, thì kẻ phàm phu cũng gọi là Bát
Niết bàn, vì phàm phu không có bảy pháp ấy. Hiền giả, tôi
lấy một ví dụ. Như vua Ba Tư Nặc đi xe từ Xá Vệ đến
Saveta qua bảy trạm xe. Khi vua đến nơi bằng chiếc xe của
trạm thứ bảy, đình thần ra đón và hỏi có phải nhờ chiếc
xe này mà vua đi từ Xá vệ đến hay không. Khi ấy vua phải
trả lời thế nào mới đúng?
Xá
Lợi Phất đáp:
- Dĩ
nhiên vua phải nói, đã đi từ trạm xe thứ nhất đến trạm
xe thứ hai bằng một cỗ xe khác, lần lượt đổi xe ở mỗi
trạm cho đến cỗ xe cuối cùng này.
- Hiền
giả, cũng như vậy với bảy thanh tịnh. Giới thanh tịnh chỉ
có mục đích đạt được tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh là
để đạt đến đoạn nghi thanh tịnh, đoạn nghi thanh tịnh
là để đạt đến đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo
phi đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến đạo tri kiến
thanh tịnh, đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến tri
kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là để đạt đến vô
thủ trước Bát Niết bàn.
Nghe
xong tôn giả Xá Lợi Phất hỏi tôn giả Phú Lâu Na:
- Tôn
giả tên gì? Các vị đồng phạm hạnh gọi tôn giả như thế
nào?
- Tên
tôi là Phú Lâu Na, các bạn gọi tôi là Di Ða La Ni Tử.
- Thật
vi diệu thay, hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được
một bậc đệ tử đa văn của Ðấng Ðạo sư giải, và vị
ấy là tôn giả Phú Lâu Na. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được
thân cận thăm viếng Tôn giả.
Khi
ấy, tôn giả Phú Lâu Na hỏi lại:
- Còn
hiền giả tên chi, các vị đồng phạm hạnh gọi hiền giả
như thế nào?
- Tên
tôi là Tích Sa, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá Lợi
Phất.
Một
bất ngờ kỳ thú! Tôn giả Phú Lâu Na muốn bật ngửa người
vì ngạc nhiên, không ngờ nãy giờ mình đã múa rìu qua mắt
thợ! Nhưng ông thợ này quá khiêm tốn dễ thương. Ngài Phú
Lâu Na ngợ đi một một hồi mới bảo:
- Tôi
đang nói chuyện với bậc đệ tử được xem ngang hàng với
đức Ðạo sư mà không biết! Nếu tôi biết Ngài là Tôn giả
Xá Lợi Phất, thì tôi đã không nói nhiều như vậy
NHỮNG
NGÀY CUỐI CÙNG
Sau
một mùa an cư ở làng Beluva gần Vesàlì, đức Thế tôn tuần
tự trở về Xá vệ. Tôn giả Xá Lợi Phất đến đảnh lễ
đức Ðạo sư rồi trở về độc cư thiền tịnh. Khi tôn
giả an lành xuất định, Ngài khởi lên ý nghĩ: "Thông thường
các Ðấng Giác ngộ nhập Niết bàn trước hay các đệ tử
trưởng nhập trước?" Rồi quán sát nội lực của tự thân,
Ngài thấy thân dư báo chỉ còn tồn tại bảy ngày. Kế đó
Tôn giả tự hỏi: "Không biết ta sẽ xả bỏ báo thân ở
chỗ nào? La Hầu La thì nhập diệt ở cõi Tam thập tam thiên,
Tôn giả Kiều Trần Như ở trên đỉnh núi Hy mã lạp. Còn
ta, thì chỗ nào?" Nghị đi nghĩ lại, Ngài bỗng nhớ đến
mẹ. "Mẹ ta, mặc dù là Mẹ của bảy vị A La Hán, bà vẫn
không có lòng tin đối với Phật, Pháp Tăng. Bà còn chút duyên
nào để sanh khởi tịnh tín chăng?" Tôn giả quán sát một
hồi và thấy rằng Mẹ có thể chứng quả Dự Lưu. Rồ Ngài
tự hỏi do ai mà bà sẽ được chứng quả? Quán sát bằng
thiên nhãn thuần tịnh, Ngài thấy chính do mình mà Mẹ đắc
quả. Do đó Ngài quyết định trở về quê cũ để nhập diệt.
Tôn giả Thuần Ðà, em ruột Ngài, cùng với 500 đồ chúng
của Ngài được lệnh thu xếp để theo Ngài về Nàlaka. Ði
đến bái biệt đức Ðạo sư lần cuối, Ngài tác bạch:
- Bạch
Thế tôn, xin Ðấng Thiện Thệ hứa khả cho con: thời gian
nhập Niết bàn của con đã đến. Từ đây sẽ không còn luân
hồi sinh tử với con. Ðây là lần cuối cùng con đến đảnh
lễ Thế tôn. Bảy ngày nữa, con sẽ đặt thân xác này xuống,
sẽ quăng bỏ gánh nặng này. Xin Ðấng Ðạo sư hứa khả.
Ðức
Thế tôn im lặng. Nếu Ngài tán thành bằng một câu: "Ðược,
ông, hãy nhập Niết bàn đi", người ta sẽ cho rằng Ngài khuyến
khích sự chết. Nếu Ngài bác bỏ rằng "Ông đừng nhập Niết
bàn", người ta sẽ cho Phật tán thán sự sống. Cho nên Phật
im lặng. Ngài chỉ từ tốn hỏi lại:
- Ông
sẽ nhập Niết bàn tại chỗ nào?
Tôn
giả thưa:
- Bạch
Thế tôn, tại xứ Ma Kiệt Ðà, trong làng Nàlaka, ở ngay trong
cái nhà con đã ra chào đời, con sẽ nhập Niết bàn tại đó.
Khi
ấy, Thế tôn dạy:
- Ông
hãy làm những gì ông nghĩ là phải thời. Nhưng từ nay các
huynh đệ của ông trong Tăng chúng sẽ không còn được thấy
một vị tỳ kheo như ông nữa. Hãy thuyết pháp cho họ lần
cuối cùng.
Tôn
giả vâng lệnh, thăng pháp tòa. Với giọng nói trầm tịnh
mà hùng hồn, đáng điệu uy nghiêm khả kính, tôn giả ban
bố pháp vũ cho đại chúng một lần cuối cùng. Khi thì ngài
đưa tâm hồn cử tọa lên đến những đỉnh cao tuyệt vời
của chân đế, khi thì pháp âm bay lượn là đà xuống tục
đế với những thí dụ trước mắt. Khi thì Ngài thuyết pháp
bằng cách trực chỉ, khi thì ngài dùng ẩn dụ. Thuyết xong
thời pháp, Tôn giả đến đảnh lễ dưới chân đức Thế
tôn. Ngài ôm chân Phật bạch rằng:
- Chính
vì ước nguyện được đảnh lễ đôi chân này mà con đã
hoàn thành các pháp ba la mật trải qua vô lượng kiếp. Nguyện
ước của con nay đã thành tựu. Từ nay sẽ không còn gặp
gỡ, bạch Thế tôn, nếu con có lời nói hay việc làm nào
không vừa ý Thế tôn, xin Thế tôn tha thứ cho con! Bây giờ
đã đến lúc con phải ra đi.
Phật
đáp:
- Ta
tha thứ cho ông, Xá Lợi Phất. Nhưng ông không có lời nói
hay việc làm nào không vừa ý ta. Ông hãy làm những gì ông
thấy phải thời.
Ngay
khi Tôn giả đứng lên từ biệt Phật, đại địa chấn động,
trời nổi sấm sét, một đám mây đen lớn trùm khắp như
một chiếc khăn tang của hoàn vũ, và một trận mưa ào ào
trút xuống, như òa khóc trước cảnh ra đi của một bậc
Chúng Trung Tôn.
Ðức
Thế tôn bảo đồ chúng vây quanh:
- Bây
giờ, các con hãy ra đi đưa tiễn bậc huynh trưởng của các
con lần cuối.
Toàn
thể tứ chúng đều rời Kỳ viên tinh xá, chỉ còn một mình
đức Phật. Họ đi theo Tôn giả từng đoàn từng đoàn lũ
lượt càng lúc càng đông vì dân thành Xá vệ cũng tiếp theo
đoàn đưa tiễn, với đầu tóc nhúng nước rũ rượi (dấu
hiệu tang lễ thời ấy), họ theo khóc lóc ta thán. Tôn giả
ủy lạo quần chúng đang rên siết.
- Ðây
là một đoạn đường mà không ai tránh khỏi.
Và
Ngài bảo họ trở về. Quay lại tăng chúng ở Kỳ viên đang
theo đưa tiễn Ngài, Tôn giả căn dặn:
- Bây
giờ, chư hiền hãy trở lại tinh xá đi. Hãy nhớ chăm sóc
Ðấng Ðạo sư!
Còn
lại 500 đồ chúng, Tôn giả tiếp tục cuộc hành trình. Cuộc
du hành kéo dài cả tuần lễ, khiến nhiều người được
dịp chiêm bái Tôn giả lần cuối cùng. Khi về đến làng
quê, trời đã tối. Tôn giả dừng chân dưới một gốc đa
đầu làng. Tình cờ, một ngưòi cháu của Tôn giả đi mua
đồ, thấy Tôn giả, đến gần chào Ngài. Ngài hỏi:
- Bà
ngoại con có nhà không?
- Bạch
Tôn giả, có.
- Con
hãy trở về báo tin có chúng ta đến. Thưa bà rằng chúng
ta sẽ ở lại trong làng một ngày, và xin bà dọn chỗ cho
ta trong phòng ta đã ra chào đời, và sắp đặt chỗ nghỉ
cho 500 vị tỳ kheo.
Cậu
bé trở về thuật lại cho thân mẫu Tôn giả. Nghe xong, bà
ngẫm nghĩ: "Tại sao con ta trở về? Tại sao y bảo dọn chỗ
cho đông người quá vậy? Sao lại muốn ở trong phòng ra chào
đời? Bộ muốn hoàn tục hay sao?". Bao nhiêu câu hỏi xoay vần
trong đầu óc bà cụ. Nhưng bà vẫn làm theo lời dặn.
Khi
Tôn giả về đến nhà, Ngài vào phòng dành sẵn, và bảo các
tỳ kheo hãy đi đến khu vực dành cho họ. Chúng tỳ kheo vừa
đi khỏi, Tôn giả phát đau bụng dữ dội, quặn thắt cả
ruột. Ngài đi cầu không ngớt, thị giả đem thùng vào rồi
lại đem ra. Bà mẹ lo âu, thầm nghĩ: "Cha chả, bộ con mình
gặp nguy rồi". Và bà cụ cứ đứng như vậy nhìn về phòng
Tôn giả suốt đêm, nhưng không dám đến gần. Trong lúc ấy
Tứ Thiên vương bằng thiên nhãn thấy bậc đại tuệ Xá Lợi
Phất sắp nhập diệt, bàn nhau xuống trần để viếng thăm
Ngài. Giữa đêm khuya, gian phòng sáng rực vì dung sắc của
các vị Thiên vương chiếu ra. Tôn giả hỏi:
- Ai
thế?
- Bạch
Tôn giả chúng tôi là những vị trời Tứ thiên vương.
- Các
Ngài đến đây làm gì?
- Chúng
tôi muốn hầu hạ Tôn giả trong cơn bệnh.
- Cảm
ơn, tôi đã có thị giả. Các ngài đi đi.
Sau
khi Tứ thiên vương từ biệt, đến lượt Ðế thích và Ðại
phạm thiên đến viếng thăm Tôn giả. Tôn giả đều cảm
ơn bảo họ lui về. Bà cụ suốt buổi quan sát dung sắc thù
thắng của những vị khách cõi trời mà lòng cảm thấy quái
lạ. Bà tự hỏi: "Ai vậy? Ai mà đối với con ta có vẻ cung
kính Thế nhỉ?" Rồi, không cản nổi cơn tò mò, bà đến
tấn cửa phòng Tôn giả. Tôn giả Thuần Ðà báo tin cho sư
huynh. Tôn giả hỏi:
- Tại
sao Mẹ đến vào giờ khuya khoắt Thế này?
- Ðể
thăm con, con ạ! Này, con hãy nói cho mẹ nghe, những người
đến đầu tiên là ai Thế?
- Thưa
Mẹ, đó là Tứ Thiên vương.
Bà
mẹ trố mắt :
- Ồ
ra, con còn lớn hơn cả Tứ Thiên vương nữa à?
Tôn
giả đáp:
- Họ
cũng như những người giữ chùa. Từ ngày đức Thế tôn đản
sinh, họ luôn luôn canh gác đêm ngày, gươm đeo lủng lẳng.
- Và
kế tiếp họ là ai thế?
- Ðó
là Ðế thích, vua của những vị Trời.
- Vậy
thì con lại lớn hơn cả Ðế thích kia à?
- Ông
ấy cũng như chú tiểu ôm y bát theo hầu các tỳ kheo. Khi Ðấng
Ðạo sư lên cõi trời Ba Mươi Ba, chính Ðế thích đã ôm
y bát theo hầu ngài trở về trần thế.
- Ồ
còn sau Ðế thích là ai nữa vậy?
- Ðó
chính là Phạm thiên mà mẹ thờ.
- Ui
chao! Thế ra con còn hơn cả vị trời Ðại Phạm của mẹ
nữa sao?
- Vâng
thưa mẹ. Vào ngày Ðấng Ðạo sư đản sanh, chính bốn vị
trời Ðại Phạm đã đưa lưới báu cõi trời đỡ lấy Thánh
nhi.
Khi
nghe thế, bà cụ suy nghĩ: "Nếu con ta đã có oai thần như
vậy, thì bậc thầy của con ta còn oai thần đến bậc nào".
Và khi nghĩ thế, một niềm hoan hỉ tràn ngập thân tâm bà.
Tôn giả quán thấy mẹ mình đã phát sinh hỉ lạc đối với
Tam bảo, và đã đến lúc nên thuyết pháp cho bà. Ngài hỏi:
- Mẹ
nghĩ gì thế?
- Tôi
đang nghĩ rằng, nếu con tôi có oai thần như vậy, thì Ðấng
Ðạo sư của người còn oai thần tới mức nào.
Tôn
giả Xá Lợi Phất đáp:
- Vào
lúc Ðấng Ðạo sư đản sinh, lúc Ngài xuất gia, lúc đắc
đạo và chuyển pháp luân lần đầu, vào tất cả những dịp
ấy, mười phương Thế giới đều rung chuyển. Không có ai
sánh được với Ngài về phương diện giới, định, tuệ,
giải thoát và giải thoát tri kiến.
Rồi
Tôn giả giải thích cho mẹ nghe vì sao đức Ðạo sư đã được
tôn xưng là Ðấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh
túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự
trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn. Nghe xong thời pháp,
bà cụ đắc quả Dự lưu. Bà hỏi Tôn giả:
- Tại
sao, này con Tích Sa yêu dấu, tại sao suốt nhiều năm ròng,
con đã không ban bố cho mẹ pháp vị cam lồ này?
Tôn
giả nghĩ thầm: "Thế là ta đã báo đền ơn dưỡng dục".
Và ngài bảo mẹ:
- Bây
giờ, tín nữ hãy về nghỉ đi.
Khi
bà cụ đi khỏi, Tôn giả hỏi Thuần Ðà:
- Bây
giờ khoảng canh mấy?
- Bạch
Tôn giả, gần tảng sáng rồi.
- Hãy
triệu tập chúng tỳ kheo.
- Thưa
vâng, bạch Tôn giả.
Khi
chúng tỳ kheo đến, Tôn giả bảo Thuần Ðà:
- Hãy
đỡ ta ngồi dậy, Thuần Ðà.
Sau
khi ngồi dậy, Tôn giả nói với chúng tỳ kheo:
- Này
chư hiền, tôi đã sống, du hành với chư hiền trong 40 năm.
Trong thời gian ấy, nếu tôi có làm gì, nói gì không vừa
ý chư hiền, xin chư hiền hãy tha thứ cho tôi.
Tất
cả đồng thanh bạch:
- Thưa
Tôn giả, không có một điều bất mãn nhỏ nào Tôn giả đã
gây cho chúng con, những người theo Tôn giả như bóng theo hình.
Nhưng bạch Tôn giả, xin Tôn giả hãy tha thứ cho chúng con!
Kế
đó, Tôn giả quấn y quanh mình trùm cả mặt, nằm xuống hông
bên phải. Rồi cũng như đức Thế tôn sẽ làm khi Ngài nhập
Niết bàn, Tôn giả lần lượt nhập và xuất chín tầng lớp
thiền định rồi trở lại nhập sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền, tứ thiền. Sau tứ thiền, Ngài hoàn toàn nhập Niết
bàn Vô dư y. Ðó là ngày rằm tháng Kattika tức vào khoảng
giữa tháng 10 và 11 dương lịch.
Khi
được tin, bà cụ không ngớt than khóc cho tới khi mặt trời
mọc. Bà mở kho xuất nhiều vàng bạc để làm tang lễ. Quần
chúng khắp làng đến nghe thuyết pháp và đảnh lễ thi hài
Tôn giả. Bảy ngày sau, lễ trà tỳ được cử hành. Thi hài
Tôn giả đặt trên một giàn hỏa lớn bằng gỗ trầm. Sau
khi hỏa táng, Tôn giả A Nâu Lâu Ðà rưới nước thơm dập
tắt ngọn lửa.
Tôn
giả Thuần Ðà thâu nhặt xá lợi bọc vào trong một mảnh
y. Liền sau đó, Tôn giả trở về Xá vệ bạch Phật, mang
theo y bát và xá lợi của vị sư huynh. Ðến nơi, Thuần Ðà
bái yết thị giả A Nan trước và tác bạch:
- Bạch
Tôn giả, Tôn giả Sàriputta đã nhập Niết bàn. Ðây là y
và bát của Ngài.
- Hiền
giả, về việc này ta phải đi đến Ðấng Ðạo sư.
- Thưa
vâng bạch Tôn giả.
Rồi
cả hai cùng đi đến đức Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, họ
ngồi qua một phía. Tôn giả A Nan bạch:
- Bạch
đức Thế tôn, chú tiểu Thuần Ðà nói với con rằng Tôn
giả Xá Lợi Phất đã nhập Niết bàn. Ðây là y và bát của
Tôn giả. Khi nghe vậy bạch Thế tôn, con bủn rủn tay chân,
vạn vật xung quanh con trở nên mờ mịt. Con không còn trông
rõ cái gì ra cái gì nữa, khi nghe Tôn giả Xá Lợi Phất từ
trần!
- Sao
vậy, A Nan? Khi Xá Lợi Phất từ trần, ông ấy có đem bớt
đi phần nào giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến của ông chăng?
- Không
phải vậy bạch Thế tôn. Khi Tôn giả Xá Lợi Phất từ trần,
tôn giả đã không đem theo bớt phần nào giới, định, tuệ
của con. Nhưng bạch Thế tôn, Tôn giả đối với con là một
vị hướng đạo, một bậc đàn anh, một người đã thường
khích lệ, làm
con hoan hỉ, phấn khởi, một người giảng
pháp không biết mỏi mệt, một người giúp đỡ những kẻ
đồng phạm hạnh. Chúng con nhớ xiết bao những lời chỉ
giáo bổ ích, linh động và thú vị của Tôn giả!
- A
Nan, há tôi đã không dạy cho ông rằng sớm muộn, chúng ta
đều phải chịu sự chia ly với những gì thân yêu gần gũi?
Cái gì đã sinh thành tất phải hoại diệt, tan rã. Không phân
ly là điều không thể có. Này A Nan, cũng như cành lớn của
một đại thụ vững mạnh đã gãy xuống, Xá Lợi Phất nhập
diệt đối với chúng tỳ kheo thanh tịnh này cũng vậy. Quả
thế, A Nan, có hội tụ tất phải có phân ly. Không phân ly
là điều không thể có. Bởi thế, này A Nan, hãy tự mình
làm một hòn đảo, một chỗ nương cho chính mình, đừng tìm
chỗ nương tựa bên ngoài. Hãy lấy chánh pháp làm hòn đảo,
lấy chánh pháp làm chỗ nương, đừng tìm chỗ nương nào
khác.
Rồi
đức Thế tôn đưa tay đỡ lấy di cốt của vị thánh đệ
tử thân yêu, và bảo đại chúng:
- Này
các tỳ kheo, đây là di cốt trắng như vỏ ốc của vị tỳ
kheo cách đây không lâu đã xin phép ta để nhập Niết bàn.
Vị
tỳ kheo ấy là người thành tựu các hạnh Ba la mật trải
qua vô lượng kiếp. Vị tỳ kheo ấy là người đã giúp ta
chuyển bánh xe pháp. Vị tỳ kheo ấy là người được chỗ
ngồi bên cạnh ta. Vị tỳ kheo ấy là người trong cõi Tam
thiên Thế giới không có ai sánh kịp về phương diện trí
tuệ, chỉ trừ đức Như Lai. Vị tỳ kheo ấy là ngưòi có
trí tuệ lớn, có trí tuệ rộng, có trí tuệ sáng, có trí
tuệ sắc bén, có trí tuệ sâu xa. Vị tỳ kheo ấy ít muốn,
biết đủ, thích độc cư, không thích đám đông, đầy nghị
lực. Vị tỳ kheo ấy là bậc khích lệ những bậc đồng
phạm hạnh, sẵn sàng chỉ điểm những lỗi lầm. Vị tỳ
kheo ấy khi xuất gia đã từ bỏ một gia sản lớn lao có được
nhờ công đức tích lũy từ 500 đời trước. Vị tỳ kheo
ấy là người có hạnh nhẫn nhục như đại địa. Vị tỳ
kheo ấy có tâm bất hoại, như một con trâu đực đã cưa
hai sừng. Vị tỳ kheo ấy có tâm khiêm hạ như đồng tử.
Này
các tỳ kheo, hãy nhìn đây xương trắng tro tàn của bậc Ðại
tuệ, bậc Quảng tuệ, bậc Lợi tuệ, bậc Minh tuệ, con người
ít muốn biết đủ ấy, con người ưa thích độc cư, con người
đầy nghị lực ấy! Nhìn đây, xương tàn của một tỳ kheo
đã khích lệ, làm cho phấn khởi chúng tỳ kheo, sẵn sàng
chỉ điểm lỗi lầm cho chúng tỳ kheo.
Bên
bờ sông Hằng, không lâu sau khi hai Ðại đ? tử của Ngài
nhập diệt, một hôm đức Thế tôn đưa mắt im lặng nhìn
khắp tất cả đại chúng vây quanh rồi dạy:
- Hội
chúng này, hỡi các tỳ kheo, đối với ta bây giờ quả thật
trống rỗng, khi Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên không còn!