Phần II
- Bài 3
Nhân
quả
Khải Thiên
A- Dẫn nhập
Héraclite,
một triết gia Hy Lạp cổ đại, bảo rằng: «Không ai có thể
đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước«. Ðiều đó
đã nói lên sự chuyển biến liên tục của con người và
thế giới sự vật hiện tượng. Tất cả hiện hữu ấy đều
là hiện hữu của tương duyên, chúng luôn diễn ra trong vòng
nhân quả. và cũng chính trong mối tương quan nhân quả này
mà vấn đề luân lý đạo đức Phật giáo được đặt ra
dưới tên gọi của nghiệp thiện và ác. Do đó, nói đến
nhân quả - nghiệp báo là nói đến một tiến trình tạo tác
của con người, và từ đó hình thành đời sống an lạc hoặc
khổ đau cho mỗi con người; trong đó, mỗi tư duy và hành
động cụ thể là một nguyên động lực kiến tạo nên trạng
thái tâm lý an hay bất an, kiến tạo nên cuộc sống hạnh
phúc hay bất hạnh. Tất nhiên, trong suốt tiến trình tạo
tác (nhân quả - nghiệp báo) đó, con người luôn luôn đóng
vai trò trung tâm và chủ động. Ở đây, theo lời Ðức Phật
dạy, không hề có bất kỳ một sự chi phối nào bởi một
quyền năng, bởi một đấng tạo hóa, thần thánh v.v... trong
tiến trình tạo tác ấy, mà chỉ có con người và các hành
động tâm lý của nó mà thôi.
B/- Nội dung
I- Ðịnh nghĩa
Các tôn giáo nói
chung đều có quan niệm khác nhau về nhân quả. Ở đây, chúng
ta chỉ tìm hiểu thuần túy về nhân quả theo quan niệm của
Phật giáo.
Nhân là
nguyên nhân, quả là kết quả. Trong thế giới tương
quan duyên sinh, mỗi sự vật, hiện tượng đều có những
nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của một sự thể (pháp) gọi
là nhân, và hiện hữu (pháp) của sự thể đang tồn
tại là quả. Trong mối tương quan nhân quả này, mỗi
hiện hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả như sự tuần
hoàn của mây, mưa, nước, hơi nước... Nguyên nhân chính (trực
tiếp) của một hiện hữu gọi là nhân, nguyên nhân
phụ (gián tiếp) có ảnh hưởng đến quả gọi là duyên
(hay các điều kiện phụ thuộc); do đó, nếu nói đủ là
nhân - duyên - quả.
II- Nội dung
Trong tương quan
nhân quả, như đã đề cập, còn có các yếu tố duyên (trung
gian) xen vào; do đó, sự thành tựu một quả hẳn là còn tùy
thuộc vào các duyên. Vì thế, ở đây chúng ta cần ghi nhận
một số điểm như sau:
* Trong giáo thuyết
nhân quả, một nhân không thể đưa đến một quả, hay một
quả không thể chỉ có một nhân. Và nhân quả thường là
đồng loại. Ví dụ: trứng gà chỉ nở ra con gà, chứ không
thể có trường hợp trứng gà nở ra con vịt. Như thế là
không có sự lẫn lộn trong đồng loại.
* Nhân quả tuy
cùng một giống (đồng loại), nhưng do các duyên trung gian
xen vào, cho nên có thể quả cùng loại với nhân nhưng vẫn
khác với nhân. Ví dụ: một nắm muối nếu bỏ vào tô canh
thì mặn, nhưng nếu bỏ vào hồ nước mênh mông thì không
mặn. Sự khác biệt này tùy thuộc vào các duyên (thuận hay
nghịch) và theo đó mà quả hình thành.
* Nhân quả - nghiệp
báo là sự hiện hữu của các mối tương quan thiện-ác, chánh-tà
v.v..., nó thuộc pháp hữu vi sanh diệt vốn là hiện thân của
ý niệm phân biệt; do đó, với tâm thanh tịnh và xả ly thì
vấn đề nhân quả - nghiệp báo không còn được bàn đến.
III- Phân loại
nhân quả
Thông thường,
một quả khi hình thành nó cần có đầy đủ nguyên nhân chính
và các nhân duyên phụ, cho nên nhân quả được xét đến
qua nhiều góc độ như thời gian, không gian, vật lý, tâm lý
v.v...
1- Phân loại
1 (theo thời gian):
a- Nhân quả
đồng thời: Là loại nhân quả mà từ nhân đi đến quả
rất nhanh. Ví dụ: ăn thì no, uống nước thì hết khát, tức
giận thì buồn phiền v.v...
b- Nhân quả
khác thời: Là loại nhân quả mà thời gian đi đến quả
có một khoảng thời gian. Và khoảng thời gian đó được
chia làm 3 loại như sau:
* Hiện
báo: Nghĩa là nghiệp nhân trong đời này đưa đến quả báo
ngay trong đời này. Ví dụ: tuổi nhỏ lo học hành chăm chỉ
nên lớn lên trở thành người có tri thức.
* Sinh báo: Nghĩa
là tạo nhân trong đời này nhưng đến đời sau mới thọ
quả báo. Ví dụ: kinh Ðịa Tạng bảo rằng ai hay trêu chọc
người, đời sau sẽ thác sinh vào loài vượn, khỉ.
* Hậu báo: Nghĩa
là tạo nhân trong đời này nhưng đến các đời sau mới thọ
quả báo (xem Truyện tiền thân, Bổn Sinh, Bổn Sự).
Ba thời nhân quả
này vì có một thời gian tương đối ổn định (có khoảng
cách), do đó chúng được xếp vào loại định nghiệp. Cũng
có trường hợp do các nhân duyên trung gian can thiệp mạnh
vào làm cho nghiệp quả trở nên khó xác định về thời gian
và chủng loại. Trong trường hợp này, chúng được gọi là
bất định nghiệp. Ba thời nhân quả, đồng thời cũng là
câu trả lời tại sao (một số trường hợp) có người làm
lành trong đời này lại gặp những điều bất hạnh, và ngược
lại, người làm việc ác lại gặp may mắn.
2)- Phân loại
2 (theo vật lý và tâm lý): Cách phân loại này nhằm
chỉ đến sự biểu hiện của nghiệp quả thông qua thái độ
tâm lý tiếp thọ nghiệp, đồng thời nói lên những khoảng
cách khác nhau của nghiệp quả giữa tâm lý và vật lý, giữa
nội tâm và ngoại cảnh.
a- Nội tâm
và ngoại giới: Nhân quả biểu hiện ở trong tâm lý của
con người được gọi là nhân quả nội tâm (nội giới) và
ngược lại là ngoại cảnh (ngoại giới).
Như trường hợp
một vị sư bị vu khống phải ở tù, thân vị ấy ở trong
tù nhưng tâm vị ấy thì an định, ly thủ, giải thoát. Như
thế, nghiệp quả chỉ biểu hiện ở thân chứ không biểu
hiện ở tâm.
b- Tâm lý và
vật lý: Sự biểu hiện khác nhau của nhân quả trên cùng
một con người được chia thành hai phần: tâm lý và vật
lý.
Như một người
có thân thể (thể chất vật lý) xấu xí, khó nhìn, nhưng
tâm thì thông minh và sáng suốt, hiền từ, độ lượng và
tu tập tốt (tương tự như vậy đối với các trường hợp
ngược lại).
Tuy nhiên, cũng
có trường hợp được phước báo cả hai mặt thân và tâm,
hoặc ngược lại.
IV- Các phạm
trù nhân quả
Có thể nói rằng,
nhân quả là giáo lý gắn liền với đời sống tu tập của
hàng Phật tử, gắn liền với các vấn đề luân lý đạo
đức của con người; và nhân quả đã nghiêm túc đặt ra
vấn đề trách nhiệm của con người đối với chính tự
thân cũng như xã hội. Bởi lẽ, Ðức Phật dạy rằng: «Con
người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp«
(Tăng Chi II, HT Thích Minh Châu, Viện Phật học Vạn Hạnh,
1982, tr.101). Từ đó, nhân quả được bàn đến thông qua các
phạm trù cơ bản của đời sống con người.
1- Nhân
quả - vấn đề luân lý đạo đức Phật giáo: Trước
hết, giáo lý nhân quả dạy con người thức tỉnh trong các
hành động tạo tác của mình để xa lánh các việc ác và
nỗ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui, thanh
bình cho cuộc sống. Giáo lý nhân quả chú trọng đến vấn
đề thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của
con người nói chung và của hàng Phật tử nói riêng. Tuy nhiên,
vấn đề trọng yếu của giáo lý nhân quả là ở chỗ nó
đặt ra trách nhiệm cá nhân của mỗi con người đối với
các điều kiện sống của con người ấy. Do đó, không thể
quy ước giáo lý nhân quả - tức luân lý đạo đức Phật
giáo - theo khuôn mẫu ước lệ như luật pháp được ban hành
trong xã hội. Chẳng hạn, một người phạm tội, luật pháp
sẽ trừng phạt y khi hành vi phạm tội được xác định -
nghĩa là y đã thực hiện điều tội lỗi, Trong khi, với đạo
đức và luân lý, anh ta sẽ có tội ngay khi những ý niệm
tội lỗi (xấu ác) phát sinh trong tâm của y, mặc dù đó chỉ
là ý niệm chứ chưa phải là hành vi. Do đó, trách nhiệm
cá nhân theo giáo lý nhân quả, ở đây, là trách nhiệm cao
nhất đối với thái độ tâm lý đạo đức của mỗi con
người, mà không phải là trách nhiệm theo quy ước luật pháp
trong xã hội.
Trong một số
trường hợp, những người khôn ngoan có thể chạy trốn pháp
luật, nhưng với luân lý đạo đức, họ không thể chạy
trốn lương tâm của chính mình. Vì thế, nếu đứng trên
phương diện giáo dục, giáo lý nhân quả thực là một phương
pháp giáo dục vô cùng lành mạnh và tích cực. Vì ngay từ
đầu, tinh thần nhân quả đã đưa con người về với chính
nó. Con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những
tư duy và hành động của chính mình. Hạnh phúc hay khổ đau
là do mình tự tạo cho mình. Ở đây không hề có một sự
trừng phạt hay ban thưởng nào, cũng không có một giáo điều
hay tín lý nào có thể thiết lập trên cơ sở nhân quả của
Phật giáo. Một nền luân lý đạo đức như thế, nhân bản
và tích cực như thế, trí tuệ và đầy tình người như thế,
nếu được áp dụng vào mỗi con người, gia đình, học đường
và xã hội; ắt hẳn sẽ đưa đến một cuộc sống an lạc,
hạnh phúc.
2- Nhân
quả - khởi điểm của tiến trình giải thoát: Như
đã đề cập, giáo lý nhân quả đặt trọng tâm vào vấn
đề thiện-ác, chánh-tà, , tốt-xấu v.v..., tức là các vấn
đề liên quan đến đời sống đạo đức của con người.
Tuy nhiên, đó cũng là điểm khởi đầu của con người để
đi vào đạo. Nhưng đối với Phật giáo, sự giác ngộ và
giải thoát không chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân quả-thiện
ác, mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là đi ra khỏi thế giới
phân biệt, đối đãi giữa thiện-ác (thực tại giải thoát).
Vì lẽ, Ðức
Phật dạy các pháp là vô ngã. Do đó, mọi sự phân biệt
thiện-ác, chánh-tà... đều là sản phẩm của ý niệm vốn
sanh khởi từ sự có mặt của ngã tưởng. Ở đây, điều
tối quan trọng là hãy nỗ lực tư duy và nhận ra rằng không
hề có mặt bất luận một ngã tưởng nào thực sự hiện
hữu; tất cả là vô ngã. Khi nhận ra điều này nghĩa là đã
bước lên đường để đi vào thế giới thực tại giải
thoát - một thế giới vượt lên trên mọi ý niệm phân biệt,
mọi ngã tưởng điên đảo, thế giới của sự thanh tịnh,
xả ly và vô niệm. Tại đây, thần chết sinh tử của nhân
quả không còn nữa, vì rằng khi ngã tưởng được buông bỏ
thì tham ái và chấp thủ sẽ tiêu tan, và khi ngã tưởng, tham
ái và chấp thủ bị đoạn diệt thì trụ cột của thế giới
tương quan nhân quả của nghiệp báo thiện ác đã bị sụp
đổ; đây là ý nghĩa của Niết bàn tối thượng.
V- Một số
nhận định về giáo lý nhân quả
Qua các phần được
trình bày ở trên, nhân quả có vị trí rất quan trọng trong
việc giải thích sự khác biệt nghiệp quả ở mỗi con người,
và sự thiết lập nên một nền tảng đạo đức luân lý
Phật giáo rất nhân bản và tích cực. Nhân quả theo Phật
giáo không phải là định mệnh, cũng không mang tính chất
tiền định cố hữu. Bởi lẽ, sự hiện hữu của con người
không đơn giản chỉ tùy thuộc vào các nhân đã gieo trong
đời sống quá khứ, mà nó còn tùy thuộc ngay nơi các hành
động (nghiệp mới) tạo tác trong hiện tại. Ðiều này cũng
khai phóng cho con người một lối đi năng động, tích cực
để vượt qua mọi trở ngại của nghiệp quả, thậm chí
có thể chấm dứt dòng sinh tử khổ đau ngay tại cuộc đời
này. Thực ra, theo lời Ðức Phật dạy, tất cả nghiệp quả
(của vô lượng kiếp quá khứ) đã tập trung vào thân năm
uẩn này rồi, vấn đề còn lại là hành vi tạo tác (xúc)
giữa thân căn và thế giới, nói cụ thể là những nghiệp
mới được tạo tác thông qua sự giao tiếp giữa 6 căn, 6
trần để ý thức (hay 6 thức) cảm thọ vui, buồn, khổ, lạc
hoặc không khổ, không lạc mà thôi. Từ đó, lối đi của
giải thoát chân thực, thực sự không phải là nghiệp quả
của năm uẩn, mà chính là hành vi tạo tác của năm uẩn.
Cho đến khi nào chúng ta ngộ được rằng năm uẩn là vô
ngã, chúng không có tự tánh và không còn tham ái và chấp
thủ năm uẩn là ta, là của ta, là tự ngã của ta; ngay lúc
đó, nhân quả - nghiệp báo sẽ không còn hiện hữu.
Trong kinh điển,
thảng hoặc có nói về nhân quả xuất thế gian, nhưng thực
ra, nếu ngay tại thế gian này mà phiền não, lậu hoặc đã
được đoạn tận thì xuất thế chính là tại thế, cũng
như hoa sen đã vươn lên khỏi mặt nước và nở rộ giữa
hư không vô tận.
C- Kết luận
Nhân quả - nghiệp
báo là pháp duyên sinh, do đó không có lý do gì mà nó thường
trụ vĩnh hằng. Vấn đề là nỗ lực tận dụng năng lực
của trí tuệ soi sáng bóng mờ của tự ngã để đi vào chân
trời thực tại như thực; đó chính là hình ảnh của bậc
A La Hán đã chấm dứt dòng sinh tử luân hồi ngay trên mảnh
đất trần thế này.
Và đối với
người Phật tử, cần phải hiểu rõ nhân quả, xây dựng
niềm tin trên cơ sở của nhân quả, để từ đó kiến tạo
cho mình một đời sống thanh bình, an lạc. Kinh Pháp Cú, Ðức
Phật dạy rằng: «Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ tạo
tác, đối với ý nhiễm ô, nói năng hay hành động, khổ não
bước theo sau, như xe (đi) theo chân vật kéo, ... đối với
ý thanh tịnh, an lạc bước theo sau, như bóng không rời hình«./.
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1)- Hãy trình
bày đại cương về giáo lý nhân quả.
2)- Có bao nhiêu
loại nhân quả?
3)- Mối quan
hệ giữa nhân quả và luân lý đạo đức Phật giáo như thế
nào?
4)- Hãy trình
bày mối quan hệ giữa nhân quả và con đường giải thoát