Phần II
- Bài 5
Luân
hồi
Thích Tâm Thiện
A- Dẫn nhập
Luân
hồi là một thể tài rất sinh động và rất được quan tâm
đối với con người. Chết rồi sẽ đi về đâu? Tại sao
sinh, rồi tái sinh? Có cõi âm hay không? v.v... Ðó là những
dấu hỏi lơ lửng trong tâm của phần lớn của nhân loại.
Các nền tín ngưỡng và tôn giáo trên thế giới đều có
những quan niệm khác nhau về luân hồi. Riêng đối với Phật
giáo, luân hồi không phải là một giáo lý đặc thù, cũng
không phải là một vấn đề triết học cơ bản, nhưng nó
là một sự thật hiển nhiên đối với những con người còn
bị trầm luân trong sanh tử khổ đau. Do đó, trong các kinh
điển của cả Nam tạng và Bắc tạng đều thảng hoặc đề
cập đến vấn đề luân hồi, như là một hiện tượng trôi
chảy của những đời sống nối tiếp nhau. Ðặc biệt là
trong Bổn Sinh (Tiểu Bộ kinh) đã ghi lại các mẩu chuyện
tiền thân của Ðức Phật, như là một xác chứng hùng hồn
về cuộc sống luân hồi của một vị đại Bồ Tát.
B- Nội dung
I- Ðịnh nghĩa
Luân hồi, tiếng
Phạn là Samsàra, có nghĩa là sự chuyển sinh, sự chuyển tiếp,
sự diễn tiến liên tục của những kiếp sống; và, sự chuyển
sinh liên tục đó, thường được biểu thị bằng bánh xe
(cakka) và được gọi là bánh xe luân hồi (samsaracakka).
Chúng ta có thể
hình dung bánh xe luân hồi như là một «vòng tròn sinh sinh
- hóa hóa« của đời sống của muôn loài chúng sanh. Trên
vòng tròn ấy, không có điểm khởi đầu cũng không có điểm
kết thúc, và bánh xe ấy cứ quay mãi trong vòng trầm luân
của sanh tử khổ đau cho đến khi nào con người tu tập và
đạt đến sự giải thoát tối thượng.
Ðức Phật dạy:
«Ðêm
dài đối với kẻ thức
Ðường dài
đối với kẻ mệt
Luân hồi dài
đối với kẻ ngu
Không biết
rõ chân diệu pháp« -- (PC 60)
II- Nội dung
Sau khi thành đạo
tại cội bồ đề, một trong những tuyên ngôn (khải hoàn
ca) đầu tiên của Ðức Phật đã được cất lên giữa dòng
đời với nội dung giải thoát vòng luân hồi - trầm luân,
đã được ghi lại trong kinh tạng như sau:
«Trong
dòng sống chết vô tận
Ta đi mãi không
dừng
Từ bào thai
này sang bào thai khác
Ðuổi theo
người chủ ngôi nhà
(trong vòng
luân hồi)
Chủ nhà !
Ta đã nắm được ngươi rồi
Ngươi không
cất nhà lại được
Cột kèo đã
gãy hết
Mái, rường
đã sụp đổ
Tâm lìa hết
tạo tác
Tất cả đã
diệt trừ xong
(giải thoát
khỏi vòng luân hồi) -- (Pháp Cú - 153-154)
1)- Luân hồi
- tái sinh: Qua bài kinh trên, chúng ta thấy rõ Ðức Phật
đã xác định sự thật về luân hồi một cách cụ thể qua
hình ảnh tái sinh (từ bào thai này sang bào thai khác). Tái
sinh (reincarnation) là sự trở lại một đời sống mới hoặc
cao hơn, hoặc thấp hơn hoặc như cũ trong lục đạo (trời,
người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) sau khi đã
kết thúc một chu kỳ sống (life cycles), hay còn gọi là thọ
mạng đã hết - chết.
Thông thường,
khi nói đến luân hồi - tái sinh, trong Phật giáo thường đề
cập đến hai khái niệm cơ bản về sự sinh tử, đó là:
a)- Chu
kỳ sinh tử của từng sát na
b)- Chu kỳ sinh
tử của một đời sống
* Về chu kỳ sinh
tử của từng sát na, vì nó diễn ra quá nhanh chóng như sự
sinh ra rồi mất đi của một làn chớp (điện chớp) mà thuật
ngữ Phật học gọi là «niệm niệm - sinh diệt« (sự sinh
tử diễn ra trong từng ý niệm), do đó vấn đề chỉ được
bàn đến trên một bình diện cao hơn, như trong thiền định,
hoặc các cảnh giới của tâm thức v.v...
* Về chu kỳ sinh
tử của một đời sống, do tính cách giới hạn của một
chu kỳ sống, nghĩa là có thể ghi nhận qua bốn giai đoạn:
sanh, lão, bệnh, tử và / hoặc sinh thành (sinh), tồn tại (trụ),
biến chuyển (dị) và hoại diệt (diệt) của một chúng sinh,
nên chu kỳ này trở thành chủ đề nghiên cứu về luân hồi
- tái sinh.
Theo quan điểm
của Phật giáo, tất cả muôn loài chúng sinh đều phải chịu
sự chi phối của định luật vô thường. Ðối với con người,
vô thường chính là sự biểu hiện của sinh, lão, bệnh, tử
trải qua nhiều kiếp sống, và cứ mỗi kiếp sống như thế
đều được giới hạn bởi hai đầìu sinh và tử. Tuy nhiên,
sinh và tử chỉ là sự hoàn tất của một chu kỳ. Như thế,
khi thân xác này hủy hoại, cái gì sẽ tiếp tục tái sinh
- mở đầu một kiếp sống mới? Ðây là then chốt để tìm
hiểu về luân hồi.
Kinh Trung Bộ (Majjhima
Nikaya - 135), Ðức Phật dạy rằng: «Con người là chủ nhân
của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp, là quyến thuộc của
nghiệp; nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được
sinh ra«.
Từ lời dạy
trên, chúng ta thấy rằng nghiệp (karma) luôn luôn có mặt cùng
với sự có mặt của con người. Và khi chết, thì sự thể
vật lý này tan hoại, còn nghiệp vẫn cứ tiếp tục trôi
lăn theo dòng trầm luân của nó (hoặc thiện nghiệp, hoặc
ác nghiệp). Nhưng nghiệp không phải là linh hồn bất tử
để nối kết các kiếp sống, vì bản thân nó là vô ngã.
Tuy nhiên, chính nghiệp là cơ sở, là điểm trung tâm, để
qua đó, vòng luân hồi xoay chuyển.
Vậy, nghiệp là
gì?
Nghiệp là hành
động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm; và
thông qua hành động của thân, miệng và ý mà nghiệp được
hình thành. Nói đến nghiệp là nói đến thiện ác trong tương
quan nhân quả; và trong mối tương quan đó, động cơ chính
để kiến tạo nghiệp là tham, sân, si (ác nghiệp) và ngược
lại là không tham, không sân, không si (thiện nghiệp).
Từ đây, chúng
ta thấy rõ rằng, chính tâm lý của mình là cơ sở để tạo
nên nghiệp của mỗi người. Con người là kẻ quyết định
cái nghiệp của mình - cái định niệm do mình tạo tác. Và
cũng chính con người là kẻ duy nhất có thể giải thoát mọi
nghiệp lực của mình, đi ra khỏi vòng luân hồi - tái sinh.
2)- Nghiệp
và tái sinh: Trong đạo Phật, nghiệp được trình bày
gồm nhiều loại, nhưng nghiệp cơ bản là thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Về mặt tính chất, nghiệp được phân
thành bốn loại như sau:
1) Cực
trọng nghiệp (weighty karma): nghiệp loại nặng như giết
cha mẹ, giết người v.v...
2) Tập quán
nghiệp (habitual karma): nghiệp do thói quen hình thành.
3) Tích lũy
nghiệp (stored up karma): nghiệp do tích tụ từ cuộc sống
thường ngày.
4) Cận tử
nghiệp (death-proximate karma): nghiệp lúc sắp chết.
Như đã trình bày,
trong suốt vòng luân lưu của sinh tử, tử sinh, từ đời sống
này sang đời sống khác, nghiệp bao giờ cũng đóng vai trò
trung tâm của sự luân chuyển. Tuy nhiên, trong lĩnh vực tái
sinh (reincarnation), thì cận tử nghiệp là điều kiện quan
trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến sự tái sinh. Cận
tử nghiệp, trên một góc độ nào đó, có thể nói là hệ
quả được cô kết trong suốt đời sống của một kiếp
người; đồng thời, nó cũng là dòng nghiệp thức mạnh nhất,
thúc đẩy thần thức của con người trước, trong hoặc sau
khi chết tìm kiếm một sự tái sinh.
Thông thường
khi sinh tiền, con người làm lành hay làm ác, các hành động
(của thân, miệng, ý) đó đều được lưu vào trong tàng thức
(alaya) như những hạt giống được gieo vào và nằm im trong
lòng đất, cho đến khi sắp chết hoặc chết, thân thể và
các quan năng không còn hoạt động, lúc bấy giờ chỉ có
tâm thức hoạt động. Tuy nhiên, tâm thức lúc đó không phải
là tâm thức ở trạng thái định tĩnh, tự chủ, linh hoạt
v.v..., mà trái lại nó rơi vào trạng thái bất tỉnh, hôn
mê, hoảng hốt, phách lạc hồn xiêu... Và ngay lúc bấy giờ,
mọi tạo tác của con người hoặc thiện hoặc ác (còn gọi
là thiện nghiệp hoặc ác nghiệp) từ trong quá khứ (khi còn
sống) sẽ tạo thành dòng nghiệp thức gồm những ý lực
cực mạnh để thôi thúc thần thức của con người đi tìm
cảnh giới tái sinh. Cần lưu ý rằng, các tập quán, thói
quen, nhất là sự luyến ái, chấp thủ khi còn sống sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến cận tử nghiệp. Do đó, nếu sống
an lạc thì chết cũng an lạc. Sống còn khổ đau vì tham, sân,
si thì đương nhiên chết cũng khổ đau như thế. Vì sống
và chết chỉ xuất hiện trên một tiến trình, như thức và
ngủ. Vì vậy, để có sự giải thoát, ngay tại đây và bây
giờ, cần phải luôn luôn hướng tâm đến với sự xả ly
thanh tịnh, xóa bỏ mọi sự tham ưa và bám víu. Thánh nhân
có dạy rằng: «Thế gian như một con thuyền, hãy đi trên
nó chứ đừng mang vác...«.
Từ một vài chi
tiết trên, chúng ta thấy rằng sự sống và sự chết của
con người có được an lạc hay không là tùy thuộc vào dòng
tâm thức của mỗi cá thể. Sau khi thọ mạng đã hết - chết,
thì thân xác sẽ tan hoại, nhưng dòng nghiệp thức (thần thức)
sẽ tiếp tục đi vào các đời sống mới trong sáu cõi: trời,
người, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, tùy theo
nghiệp lực thiện hay bất thiện.
3)- Nghiệp
thức - sinh và tái sinh: Theo kinh Trung Bộ (tập I), sự
xuất hiện của một con người bao giờ cũng hội đủ 3 điều
kiện: a/- Cha mẹ có giao hợp; b/- Người mẹ có thể thụ
thai; và c/- Phải có mặt nghiệp thức. Nếu không có mặt
nghiệp thức thì thai nhi không thể sống.
Về nghiệp thức
(conscious), còn được gọi là hương ấm, hay là kiết sinh
thức (Gandhabha). Khi điều kiện hội đủ và do nghiệp chiêu
cảm mà kiết sinh thức đi vào thai mẹ; lúc bấy giờ, kiết
sinh thức được xem như là «ý niệm tối sơ« của một đời
sống mới. Cho đến khi chết, cũng dòng nghiệp thức ấy thúc
đẩy tìm kiếm tái sinh, nên được gọi là «nghiệp dẫn
tái sinh«. Thực ra, cả sự sinh và tái sinh đều được căn
cứ trên dòng vận hành của nghiệp thức. Và từ sinh cho đến
tái sinh (sau khi chết), trong suốt quá trình đó, đời sống
của một sinh thể được hình thành qua cơ cấu của 12 nhân
duyên: vô minh - duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh
sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên
thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên
sinh, sinh duyên lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu não... (về ý nghĩa
của 12 nhân duyên, xem bài Tam bảo, ba pháp ấn). Như
vậy, 12 nhân duyên chính là sự hiện hữu của con người.
Và trong 12 nhân duyên, các chi phần vô minh, hành, thức và
danh (sắc) là các yếu tố chính của nghiệp dẫn tái sinh.
4)- Các quan
niệm về chết và thân trung ấm: Trong Nikàya đề cập
đến sự chết một cách cụ thể như sau: thứ nhất là chết
do sắc thân đoạn diệt, hai là chết do thọ mạng đã hết,
và do nghiệp ở đời đã hết. Bên cạnh đó, còn có trường
hợp chết đột ngột (bất đắc kỳ tử, chưa đến lúc mà
chết). Nhìn chung, sự chết được xem như là sắc thân (cơ
thể) đã đoạn diệt.
Một vấn đề
khác nữa là thân trung ấm. Theo một số chủ thuyết của
Ðông sơn bộ, Chính lượng bộ thuộc Hữu bộ cho rằng, sau
khi chết và trước khi tái sinh, ở giữa đó là thân trung
ấm (trung gian). Thời gian của thân này là thời gian chuẩn
bị tái sinh, nó kéo dài không quá 49 ngày (theo Thiết Ma Ðạt
Ða). Có thể do ảnh hưởng của quan niệm này mà có tục
lệ cúng thất - thất trai tuần (7 x 7 = 49 ngày).
Tuy nhiên, theo
Nikàya và A Hàm thì từ «tử tâm« cho đến «kiết sinh tâm«
chỉ diễn ra trong vòng một đến hai sát na (tích tắc), do
đó không cần có thân trung ấm (trung hữu).
Thật ra, theo người
viết nhận định, thân trung ấm cũng là một thân vi tế (tịnh
sắc thân), một cảnh giới trong hằng hà sa thế giới; và
đương nhiên nó cũng vô thường, biến dị, cũng luân hồi
sinh diệt. Vì thế, không có gì mâu thuẫn giữa «tử tâm«
và «kiết sinh tâm« trong Nikàya với quan điểm có hay không
có quan điểm sắc thân trung ấm. Vì lẽ, thời gian 49 ngày
cho một thân - thức đương nhiên không có gì vô lý khi tại
trần gian có những đời sống dài nhất chỉ một vài ngày,
như loài muỗi mòng v.v...
5)- Ðể có
một sự chết trong thanh bình - an lạc: Ðây là vấn
đề trọng yếu của con người. Như đã đề cập, sống và
chết cũng như thức và ngủ, vậy thôi. Chúng ta không nên
quan tâm quá đáng về cái chết, vì ai cũng chết. Nhưng điều
đáng quan tâm hơn là sống và sống như thế nào để lúc
chết được bình an. Vì lẽ đó, đối với Phật tử cần
phải sống giữ tâm linh trong sạch, đừng làm điều gì gây
khổ đau cho chính mình và cho kẻ khác, nhất là phải luôn
luôn ý thức rằng cuộc đời là vô thường, «trần gian này
là chiếc cầu, hãy đi qua nó chứ đừng xây nhà trên nó«.
Cho đến khi nào tâm được trong sạch, thanh bình, không còn
luyến tiếc, không còn bám víu vào bất cứ điều gì, dầu
gia tài sự nghiệp, dầu vợ đẹp con ngoan v.v..., thì khi đó
sự chết của bạn như lên thuyền sang sông, giải thoát mọi
khổ đau, chết trong sự bình an phúc lạc. Ðức Phật dạy:
«Bỏ
quá khứ, hiện tại và vị lai
Ðến bên kia
cuộc đời
Ý giải thoát
tất cả
Chớ vướng
bận sinh, già, bệnh, chết« -- (PC 348)
C- Kết
luận
Tìm hiểu về
luân hồi là để sống được an nhiên, tự tại và chết
cũng được an nhiên, tự tại. Chúng ta không cố tìm gặp
luân hồi, vì luân hồi đang trôi chảy ngay trên thân của
mỗi con người, như dòng máu luân lưu. Cái khổ đau nhất
của người đời là tham muốn và nắm giữ các đối tượng
«của tôi« và của «cái tôi thích, tôi yêu«. Bạn có thể
tập buông bỏ từ từ cái tâm lý tham muốn và nắm giữ đó,
nhưng nếu một mai... khi vô thường đến, thần chết đến
hỏi bạn thì bạn hãy ngay lập tức hướng tâm đến sự
từ bỏ tất cả, sự không tham luyến tất cả, sự thanh tịnh
bình an, sự chánh niệm tỉnh giác; vì đó là điều kiện
tối cần thiết cho sự tái sinh vào một đời sống tốt đẹp
hơn và cao cả hơn. Và để làm được điều đó, ngay bây
giờ và ở đây, bạn hãy thực tập tư duy về vô thường
- vô ngã.
«Ta
còn để lại gì không
Kìa non đá
lở, nọ sông cát bồi
Lang thang từ
độ luân hồi
Vô minh nẻo
trước xa xôi dặm về...« -- (Vũ Hoàng Chương)
Câu hỏi
hướng dẫn ôn tập
1)- Luân hồi
là gì?
2)- Cái gì
thúc đẩy chúng sinh đi vào luân hồi?
3)- Bạn hiểu
như thế nào về thân trung ấm?
4)- Làm thế
nào để thoát ly luân hồi sinh tử?