Phần I
- Bài 2
Năm
uẩn
(Ngũ uẩn)
Thích Viên
Giác
A- Dẫn nhập
Theo
đạo Phật, những nỗi khổ đau của con người đều xuất
phát từ sự thiếu hiểu biết, thiếu trí huệ. Vô minh thường
được coi là nỗi bất hạnh lớn nhất của chúng sinh. Ðức
Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, tất cả những nỗi sợ hãi,
thất vọng, vấp ngã và tai nạn đều do ngu si mà sinh khởi.
Tất cả những điều ấy không sinh khởi nơi người có trí
tuệ, cũng như ngọn lửa bùng cháy từ bụi lau, bụi cỏ làm
cháy luôn cả nhà cửa, lầu gác và cung điện. Cũng vậy,
ngọn lửa ngu si bùng lên làm cho những nỗi sợ hãi, thất
vọng, vấp ngã và tai nạn có mặt« (Kinh Ða Giới, Trung Bộ
kinh III). Ðức Phật khuyên dạy mọi người hãy trở thành
kẻ hiền trí bằng cách suy tư quán chiếu để nhận chân
được bản chất của nhân sinh và vũ trụ, qua đó dập tắt
ngọn lửa ngu si, thành tựu trí tuệ và đoạn diệt khổ đau.
- Suy tư quán chiếu
về cái gì? Suy tư quán chiếu như thế nào để có trí huệ
và đoạn diệt khổ đau? Ðó là những gì mà Ðức Phật đã
thuyết giáo suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài. Ðó là
điều mà đạo Phật cống hiến cho nhân loại hơn 25 thế
kỷ qua.
- Ðối tượng
mà chúng ta cần suy tư và quán chiếu chính là đời sống
của chính ta: con người và thế giới mà chúng ta đang sống.
Nhưng con người và thế giới quá bao la, thiên hình vạn trạng,
muôn màu muôn vẻ làm sao rõ biết hết được? Ðối tượng
của tư duy là vô tận, vậy phải tư duy theo hướng nào?...
Ðể giải quyết vấn đề ấy, đạo Phật đã phân tích,
hệ thống hóa, khái quát hóa những cái tưởng như phức tạp
ấy thành những phạm trù, những lãnh vực có thể nắm bắt
được, đó là Uẩn, Xứ, Giới - tức là 5 uẩn, 12 xứ, 18
giới. Sự biết rõ về Uẩn, Xứ, Giới nghĩa là biết rõ
về bản chất của thế giới hiện tượng bao gồm con người
và thế giới mà con người đang sống.
Trong phạm vi của
bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về 5 uẩn.
Ðề tài năm uẩn được đề cập đến ở nhiều nơi trong
kinh tạng và luận tạng, thuộc truyền thống Nguyên thủy
cũng như Ðại thừa. Lý thuyết năm uẩn là một cách phân
tích, một lối nhìn về con người và thế giới, nhưng đây
không phải là cách duy nhất mà chỉ là cách phổ biến nhất
mà thôi. Ðiểm đặc biệt của phân tích năm uẩn là chú
trọng về con người và nhấn mạnh phần tâm lý hơn vật
lý.
B- Nội dung
I. Ðịnh nghĩa:
Năm uẩn, Phạn
ngữ là Pãnca-skandha (Sanskrit), Pãnca khandha (Pàli). Pãnca là
năm; Khandha là nhóm, là yếu tố là tích tụ, Ngài Huyền Trang
dịch là Ngũ uẩn; Ngài La Thập dịch là Ngũ ấm, ấm nghĩa
là ngăn che, chướng ngại (che mất chân tánh) - Năm uẩn được
dùng phổ biến hơn.
Năm uẩn là năm
yếu
tố hay năm nhóm kết hợp lại tạo thành con người; hay nói
cách khác, con người là một hợp thể của năm yếu tố,
gồm có: Sắc uẩn (Rùpa) là yếu tố sinh lý - vật lý; Thọ
uẩn (Vedanà) là yếu tố cảm giác; Tưởng uẩn (Sãnnã) là
yếu tố tri giác, là sự nhận biết đối tượng giác quan
hay tâm lý; Hành uẩn (Sankhàra) là yếu tố tâm lý hoạt động
ngoài Thọ và Tưởng là những tâm lý tạo động lực đi
tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn,
quyết định... thuộc ý chí còn gọi là Tư; Thức uẩn (Vinãna)
là yếu tố nhận thức, phát hiện sự có mặt của đối
tượng, gồm có sáu thức. Thức làm nền tảng cho Thọ, Tưởng
và Hành, theo Duy thức học thì có tám thức. Thức là Tâm
vương (Citta); Thọ, Tưởng, Hành là Tâm sở (Cetasika).
Trong kinh tạng
Nikàya và A Hàm thường dùng từ Năm thủ uẩn (Pãnca upàdana
khandha), nghĩa là năm uẩn là đối tượng của sự chấp thủ,
của tâm tham ái thì gọi là năm thủ uẩn.
II. Nội dung
năm uẩn:
1)- Sắc uẩn
(Rùpa-khandha): Là yếu tố vật chất bao gồm vật lý
- sinh lý, có bốn yếu tố vật chất căn bản là Ðịa (chất
rắn), Thủy (chất lỏng), Hỏa (nhiệt độ), Phong (chất khí).
Các yếu tố do bốn đại tạo ra thuộc về sinh lý như: mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân; các đối tượng của giác quan như:
hình sắc, âm thanh, mùi vị, vật xúc chạm. Tóm lại như Ðức
Phật dạy: « Này các Tỳ kheo, phàm sắc gì thuộc quá khứ,
vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay
thắng, xa hay gần, như vậy là sắc uẩn« (Kinh Ðại Kinh Mãn
Nguyệt, Trung Bộ kinh III). Như vậy yếu tố vật chất là
thân thể hay ngoài thân thể, thuộc vật chất hay năng lượng,
thuộc thời gian hay không gian đều bao hàm trong sắc uẩn.
Thân thể là sắc
uẩn, vì vậy chúng không phải là một thực thể độc lập
mà là một hợp thể vật chất biến động và mâu thuẫn.
Thân thể muốn tồn tại phải nương vào các yếu tố sắc
không phải là thân thể như mặt trời, dòng sông, ruộng lúa,
thời tiết, không khí... Quan điểm của Phật giáo về thân
thể vật lý dựa trên cơ sở lý duyên sinh, nghĩa là trình
bày rõ về mối tương hệ bất khả phân ly giữa yếu tố
con người với yếu tố vũ trụ thiên nhiên gồm môi trường,
hoàn cảnh... Ðó là cái nhìn về con người một cách toàn
diện.
Bản chất của
sắc uẩn là vô thường, vô ngã và chuyển biến bất tận
theo lý duyên sinh, vậy bản chất của chúng là không. Sự
chấp thủ, tham ái thân thể (sắc uẩn), hoặc bất cứ một
đối tượng vật lý, sinh lý nào cũng đều tiềm ẩn nguy
cơ đau khổ. Như trong kinh Phật đã dạy, ai cho rằng sắc
uẩn là ta, là của ta, là tự ngã của ta thì chắc chắn gặt
hái đau khổ, thất vọng, sầu muộn, vấp ngã và tai nạn.
Nhờ thấy rõ
thân thể qua phân tích sắc uẩn đưa đến trí tuệ sâu sắc
làm rơi rụng tâm lý tham ái thân thể, chặt đứt sợi dây
trói buộc vào sắc uẩn.
2)- Thọ uẩn
(Vedanà-khandha):
Thọ là cảm giác, do sự tiếp xúc giữa giác quan và đối
tượng mà sinh ra thọ. Ðức Phật dạy có sáu thọ: mắt tiếp
xúc với hình sắc mà sinh thọ, tai với âm thanh, mũi với
mùi, lưỡi với vị, thân với vật cứng-mềm, ý với đối
tượng tâm ý. Cảm giác theo Phật giáo không dừng lại ở
mức độ tiếp xúc đơn thuần mà là cảm xúc, một biểu
hiện sâu hơn của cảm giác; cảm giác có ba loại: một là
cảm giác khổ, hai là cảm giác vui sướng, ba là cảm giác
không vui không khổ.
Cảm giác khổ
là một loại cảm giác khó chịu khi ta tiếp xúc với một
đối tượng không thích ý, nó kèm theo một chuỗi tâm lý
khó chịu, bất mãn, tránh xa... Ví dụ khi ta nhìn thấy một
con vật dơ bẩn xấu xí, ta nảy sinh cảm giác ghê tởm không
muốn nhìn. Cảm giác vui sướng là một loại cảm giác dễ
chịu, thoải mái, phấn khởi khi ta tiếp xúc với một đối
tượng thích ý, nó tạo cho ta niềm vui, sung sướng xích lại
gần... Cảm giác trung tính không khổ không vui, nó không tạo
cho ta cảm giác khó chịu hay dễ chịu, nó không tạo ra một
lực hút hay lực đẩy nào. Ví dụ khi ta nhìn một dòng sông,
không khởi lên khổ hay lạc mà chỉ là cảm giác thông thường.
Ðức Phật dạy:
«Này các thầy Tỳ kheo, phàm cảm thọ gì quá khứ, vị lai
hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần, như vậy là thọ uẩn« (sđd). Như vậy, những
loại cảm giác về thời gian, không gian, cảm giác sâu sắc
bên trong tâm như thiền định chẳng hạn, hay cảm giác bên
ngoài qua các giác quan, cảm giác cường độ mạnh hay yếu
đều nằm trong thọ uẩn. Phân tích ta sẽ thấy có những
cảm giác đến từ thân thể (sắc uẩn) như ăn uống khoái
khẩu hay bị thương tích đau đớn; có những cảm giác đến
từ tâm lý (tưởng, hành) như thiền định hay tưởng tượng;
có những cảm giác đến từ tâm lý và vật lý như thưởng
thức một bản nhạc hoặc ngắm một bức tranh, hoặc sự
đau khổ do hoàn cảnh bất hạnh... Tất cả những loại cảm
thọ ấy tạo thành một dòng sông cảm thọ tâm lý chi phối
hệ thống tâm thức, chúng sinh khởi biến hiện thay đổi
vô chừng; chúng chuyển biến vô tận, vô thường, vô ngã
và hiện hữu có điều kiện. Chấp thủ vào cảm thọ bao
giờ cũng sai lầm và gặt hái khổ đau.
3)- Tưởng
uẩn (Sãnnã-khandha): Là nhóm tri giác có khả năng nhận
biết đối tượng là cái gì, đây là khả năng kinh nghiệm
của sáu giác quan và sáu đối tượng của giác quan. Sự nhận
biết đối tượng có hai loại: một là nhận biết đối tượng
bên ngoài như mắt thấy sắc nhận biết đó là đóa hoa hồng,
tai nghe âm thanh nhận ra bản nhạc tiền chiến...; hai là khả
năng nhận biết đối tượng bên trong, tức là các đối tượng
tâm lý như những khái niệm, hồi tưởng ký ức... Như vậy,
tưởng uẩn là cái thấy, cái biết của mình về con người,
hoặc sự việc hay sự kiện. Tri giác là một trong những tác
dụng của thức.
Ðức Phật dạy:
«Này các Tỳ kheo, phàm tri giác gì thuộc quá khứ, vị lai
hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn« (sđd). Như vậy, những
tri giác về các đối tượng bên ngoài, bên trong, thuộc thời
gian, không gian, đơn giản hay phức tạp đều gồm trong tưởng
uẩn. Tri giác là tri giác về cái gì, không thể có một tri
giác thuần chủ thể; vì vậy, tưởng bao gồm mọi nhận thức
về thế giới vật lý, tâm lý. Tuy nhiên, thế giới vật lý,
tâm lý ấy được ký hiệu hóa, khái niệm hóa, nên giữa
tri giác và thực tại luôn có một khoảng cách.
Sự có mặt của
tri giác là sự có mặt của kinh nghiệm. Tri giác tùy thuộc
vào những kinh nghiệm đã qua như khi thấy đóa hoa hồng biết
đây là đóa hoa hồng, cái tri giác về đóa hoa hồng đã có
sẵn (chủng tử) nên cái kinh nghiệm đã cho biết đó là đóa
hoa hồng. Vì vậy tri giác dễ bị đánh lừa bởi kinh nghiệm,
do vì thực tại thì luôn sinh động.
Tri giác tồn tại
có điều kiện, vì vậy chúng vô thường, trống rỗng; và
do duyên sinh nên tri giác đầy hư vọng mà ta thường gọi
là vọng tưởng.
4)- Hành uẩn
(Sankhàra-khandha): Hành là từ gọi cho mọi hiện tượng
sinh diệt như trong câu kệ «Chư hành vô thường«. Hành uẩn
ở đây có nghĩa là các hiện tượng tâm lý mang tính chất
tạo tác nghiệp, có năng lực đưa đến quả báo của nghiệp,
nói cách khác là tạo động lực tái sinh. Hành uẩn là những
hiện tượng tâm lý còn được gọi là tâm sở. Duy thức
học chia thành 51 tâm sở gồm cả thọ, tưởng, tức là cảm
giác và tri giác cũng gọi là hành. Nhưng ở đây không xếp
cảm giác và tri giác vào nhóm hành vì chúng (thọ và tưởng)
không có khả năng tạo nghiệp và quả của nghiệp.
Hành uẩn cũng
có sáu loại do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối
tượng, hành còn gọi là Tư. Ðức Phật dạy: «Này các Tỳ
kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: sắc tư, thinh tư,
hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Ðây gọi là hành«
(Tương Ưng Bộ kinh III). Tư là động lực quyết định, là
ý chí, ý muốn; tâm sở này tạo động lực dẫn dắt tâm
ý theo xu hướng thiện, bất thiện. Một số tâm sở có tác
động mạnh mẽ để hình thành nghiệp hay hành như: dục,
xác định, niềm tin, tinh tấn, tham lam, sân hận, ngu si, kiêu
mạn, tà kiến... Hành uẩn bao gồm mọi hiện tượng tâm lý,
Ðức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, phàm hành gì thuộc quá
khứ, hiện tại hay vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt
hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn« (sđd). Tất cả
những hiện tượng tâm lý, sinh lý hiện tại là kết quả
của hành trong quá khứ, nghĩa là hành tạo nên một năng lực
tiềm ẩn điều khiển thúc đẩy ở trong chiều sâu tâm thức
mà trong kinh thường gọi là «phiền não tùy miên«, hay trong
luận gọi là «câu sanh phiền não«. Chúng làm nền tảng và
lực đẩy để hình thành một năng lực hành mới, dẫn dắt
con người đi tới tương lai.
Hành uẩn tồn
tại nhờ các điều kiện do duyên sinh nên chúng vô thường,
trống rỗng và biến động bất tận.
5)- Thức
uẩn (Vinnãna-khandha): Thức là có khả năng rõ biết,
phản ánh thế giới hiện thực. Khi giác quan tiếp xúc với
đối tượng, thực nhận biết sự có mặt của đối tượng,
thức không nhận ra đối tượng ấy là gì, là cái gì, màu
gì... đó là chức năng của tri giác (tưởng); thức chỉ nhận
biết sự hiện diện của đối tượng giống như tấm gương
phản chiếu tất cả những hình ảnh đi ngang qua nó. Thức
có sáu loại: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức và ý thức. Thức là nền tảng của thọ, tưởng,
hành. Thức là Tâm vương; thọ, tưởng, hành là Tâm sở.
Thức uẩn là
nền tảng của các hiện tượng tâm lý như biển là nền
tảng của các ngọn sóng nhấp nhô, vì vậy thức còn gọi
là yếu tố căn bản của tâm lý, thức dung chứa các hiện
tượng tâm lý và căn cứ để các hiện tượng tâm lý phát
khởi. Duy thức học triển khai lý thuyết tám thức, ngoài
sáu thức trên còn phát triển thêm hai thức nữa là Mạt na
thức (Manas) và A lại da thức (Alaya), mục đích là khai thác
các khía cạnh sâu kín của thức. Mạt na thức là ý căn,
là căn cứ của ý thức đồng thời nó cũng có tác dụng
nhận thức sự tồn tại của một thực thể, một bản ngã.
A lại da thức là khả năng duy trì và bảo tồn những chủng
tử, những kinh nghiệm; chúng được tích lũy, lưu trữ ở
trong thức (A lại da). Mặt khác, A lại da làm căn bản cho
các hoạt động tâm lý trở về sau khi không còn điều kiện
hoạt động. Nhờ khả năng bảo tồn của thức (A lại da)
mà các hiện tượng tâm lý phát khởi trở lại khi hội đủ
các yếu tố.
Mặc dù thức
uẩn là nền tảng của tâm lý nhưng nó không tồn tại độc
lập, chúng hiện hữu do duyên sinh, cụ thể là do sắc, thọ,
tưởng, hành; mối quan hệ giữa chúng với nhau là bất khả
phân ly. Ðức Phật dạy: «Thức tồn tại nhờ sắc làm điều
kiện, làm đối tượng, sắc làm nơi nương tựa... Thức phát
triển hưng thịnh nhờ sắc. Thức tồn tại nhờ thọ... nhờ
tưởng... nhờ hành... (như trên). Nếu có ai nói tôi sẽ chỉ
ra sự đi, sự đến, sự sinh, sự diệt của thức biệt lập
với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy đã nói một
điều không thực« (Kinh Tương Ưng III). Như vậy, thức là
một hợp thể của bốn uẩn kia, vì vậy đạo Phật không
chấp nhận có một thức nào đó độc lập, tự chủ như
khái niệm về một linh hồn bất tử chẳng hạn. Thức vô
thường lưu chuyển, vô ngã và do duyên sinh.
Tóm lại, con người
dưới sự phân tích năm nhóm thì thân thể thuộc một nhóm
- nhóm vật lý, sinh lý; tâm lý thì chia thành bốn nhóm: cảm
giác, tri giác, động lực hay ý chí và thức. Mỗi nhóm là
một tập hợp của các yếu tố, đồng thời mỗi nhóm đều
nương tựa vào nhóm kia mà tồn tại, nhóm này có trong nhóm
kia và ngược lại. Nói khác, trong sắc có thọ, trong thọ
có sắc, chúng nương vào nhau mà có mặt, suy rộng ra đều
như vậy. Một cảm giác khổ sở nó bao gồm luôn cả thân
thể và tri giác, tâm tư và thức. Năm uẩn là các khía cạnh
khác nhau của một thể thống nhất là con người. Thể thống
nhất ấy mới nhìn qua tưởng như độc lập, bất biến được
điều khiển bởi một chủ thể, nhưng thật ra chúng chỉ
là một hợp thể vô ngã, vô thường và rất tạm bợ. Trong
kinh có một thí dụ như cây chuối không có lõi, nó chỉ là
một hợp thể của các bẹ chuối. Ðó là bản chất của
năm uẩn, đó cũng là mục tiêu của sự phân tích năm uẩn:
thấy rõ bản chất của con người và vũ trụ mà con người
đang sống, nhờ đó mà khai mở tuệ giác, đoạn diệt khổ
đau.
III. Tu tập
quán chiếu năm uẩn:
Mục đích của
phân tích năm uẩn không phải là hình thành một hệ thống
triết lý về con người và vũ trụ, mà để nhìn thấy một
cách rõ rệt bản chất của con người và thế giới hiện
tượng. Như đã nói, những khổ đau của con người là do
vô minh, là không thấy rõ bản chất của sự sống. Do vô
minh nên chấp ngã, chấp vào cái chủ thể bất biến; do chấp
ngã mà có tham ái, sân hận, si mê; do tham, sân, si mà có sợ
hãi, thất vọng, vấp ngã và tai nạn.
Tu tập quán chiếu
sâu sắc năm uẩn thì «minh« sẽ sinh, trí tuệ sẽ sinh, chấp
thủ và tham ái sẽ diệt, đó là mục đích chính của tu tập
quán chiếu năm uẩn. Tương tự trong Bát Nhã Tâm kinh nói:
«Quán Tự Tại hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu
kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách«, tạm
dịch: Bồ tát Quán Tự Tại (tức Quán Thế Âm) thực hành
trí tuệ thâm sâu thấy rõ tự tánh của năm uẩn là không,
nên vượt thoát mọi khổ ách.
Quán chiếu sâu
sắc năm uẩn như sau:
1)- Quán chiếu
trên cơ sở các pháp ấn:
Tức là quán năm
uẩn là vô thường, là khổ đau, là trống rỗng, là vô ngã.
Trang bị cho mình một cái nhìn sáng tỏ, chánh kiến về thân
thể, về tình cảm, về nhận thức tư tưởng, về những
hoạt động sâu kín của tâm lý, rằng chúng là vô thường,
vô ngã; nếu chấp thủ tham ái chúng sẽ đưa đến khổ đau.
Ðức Phật thường thức tỉnh các đệ tử quán chiếu về
năm uẩn một cách đơn giản như Ngài hỏi các Tỳ kheo:
- «Thân
thể là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn,
vô thường.
- Vô thường
thì đưa đến khổ hay vui?
- Bạch Thế Tôn,
khổ.
- Cái mà vô thường
và khổ thì có hợp lý không khi cho rằng cái này là tôi,
là của tôi, là tự ngã của tôi?
- Bạch Thế Tôn...
không hợp lý« (Tương Ưng III).
Với sức quán chiếu
thường xuyên như vậy sẽ tạo nên năng lực làm rơi rụng
tâm tham ái và chấp thủ.
2)- Quán chiếu
năm uẩn do duyên sinh:
Quán chiếu thân
thể do bốn đại và bốn đại sở tạo tạo nên, nghĩa là
do các yếu tố như thực phẩm, mặt trời, không khí, dòng
sông, di truyền, đất đá... thân thể hình thành và tồn tại
do vô số nhân duyên. Quán chiếu cảm thọ khổ, vui, không
khổ không vui do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối
tượng mà sinh, các cảm giác ấy tùy thuộc vào rất nhiều
yếu tố như không gian, thời gian, trình độ văn hóa, thời
tiết, điều kiện xã hội... chỉ một cảm giác vui hay buồn
chứa đựng cả một bầu trời duyên sinh và duyên diệt. Quán
chiếu tri giác do sự tiếp xúc với hình sắc, âm thanh, mùi
vị... mà sinh cái biết về sự vật, hình thành các khái niệm,
nhận thức, chúng tùy thuộc vào các yếu tố không gian, thời
gian, điều kiện văn hóa, xã hội... Quán chiếu các hoạt
động ý chí ước muốn cũng do tiếp xúc giữa giác quan và
đối tượng mà sinh, nếu các tiếp xúc không có thì không
có các hoạt động tâm lý ấy. Quán thức tồn tại do duyên
danh sắc tức là do thân thể, do cảm giác, tri giác và tâm
hành mà có mặt, chúng không độc lập, tự có... Cuối cùng
quán các uẩn đều nương vào nhau, có ở trong nhau, cái này
là cái kia. Như vậy thấy một cách sâu sắc và toàn diện
về con người và mối quan hệ con người với thiên nhiên
và vũ trụ.
C- Kết luận
Lý thuyết năm
uẩn phân tích con người là hợp thể của yếu tố sinh lý,
vật lý, tâm lý để làm nổi bật tính vô ngã, biến động,
bất an và duyên sinh của con người và vũ trụ. Trên cơ sở
phân tích quán chiếu năm uẩn sẽ đem đến trí tuệ và giải
thoát khổ đau. Ðức Phật dạy: «Ai không chấp trước, không
tham luyến, không suy tưởng, không hoan hỷ về sắc, thọ,
tưởng, hành, thức... người ấy giải thoát khỏi ác ma«
(Kinh Tương Ưng III). Như vậy, vấn đề chủ yếu không phải
là sự hiện hữu của năm uẩn mà chính là sự có mặt của
chấp trước và tham luyến năm uẩn. Con người có thói quen
tư duy về ngã, về cái tồn tại, cái chủ động đằng sau
cái biến động, nên mọi sự rối loạn từ đó mà sinh. Mặt
khác, chúng ta thường bị dính mắc, bị cột chặt vào một
cái gì đó như là thân thể hay tình cảm, tư tưởng... nếu
cái ấy bị mất mát, bị lấy đi, tâm tư chúng ta sẽ trống
rỗng, bị khủng hoảng ngay. Phật dạy: «Người ngu thường
nghĩ rằng thân này là chính ta, ta có cái thân này, thân này
ở trong tự ngã hoặc có tự ngã ở trong thân... Cái khổ
này là chính ta, ta có nỗi khổ này, nỗi khổ này ở trong
ta, ta đang ở trong cái khổ...«. Do vậy, khi sắc thân, cảm
thọ... thay đổi, con người thay đổi theo; sợ hãi, chướng
ngại, khát vọng và phiền muộn phát sinh.
Khi tâm chấp trước
và tham luyến được rũ bỏ, năm uẩn là thanh tịnh, là vô
lậu, là pháp uẩn. Khi ấy sắc thân là thân tự tại, thọ
là tâm từ bi, tưởng là trí vô phân biệt, hành là trí thanh
tịnh và thức là trí căn bản. Như vậy, đạt được giải
thoát hoàn toàn như Bát Nhã Tâm kinh nói: Vượt thoát mọi
khổ ách./.
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Ðịnh nghĩa
và giải thích ngắn gọn năm uẩn.
2- Ðức Phật
dã dạy tu tập quán năm uẩn như thế nào?
3- Vì sao Ðức
Phật dạy: «Ai không chấp trước, không tham luyến, không
suy tưởng, không hoan hỷ về sắc, thọ, tưởng, hành, thức...
người ấy giải thoát khỏi ác ma«?