Phần I
- Bài 3
Bốn
Ðại, Sáu Ðại,
Mười
hai Xứ, và Mười tám Giới
(Tứ đại,
Lục đại, Thập nhị xứ và Thập bát giới)
Thích Tâm Thiện
A- Dẫn nhập
Các
vấn đề liên quan đến con người và sự hình thành con người,
theo quan điểm của Phật giáo, thường được bàn đến gồm:
bốn Ðại, sáu Ðại, mười hai Xứ và mười tám Giới. Trong
quá trình tu tập, các vấn đề trên được Ðức Phật phân
tích cụ thể, nhằm xây dựng cho người tu tập một cái nhìn
chính xác về bản chất của thân năm Uẩn và thế giới sự
vật hiện tượng chung quanh con người. Do đó, phân tích về
các Uẩn (Skandha), Xứ (Ayatana) và Giới (Dhàtu) chính là phân
tích về sự hiện hữu của con người và thế giới. Ðấy
cũng chính là thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo. Mục
đích của sự phân tích nội quán này là cái nhìn giúp
người học đạo thấy rõ sự thật vô ngã của các pháp.
B- Nội dung
I- Ðịnh nghĩa:
Bốn Ðại, sáu Ðại, mười hai Xứ và mười tám Giới
1)- Bốn Ðại:
Bốn Ðại (Caturmahàdhàtu) là bốn yếu tố cơ bản hình thành
nên thể chất (thân vật lý) của con người, bao gồm: chất
khoáng (Pathavi - đất), chất lỏng (€po - nước), nhiệt
độ (Tejo - sức nóng) và hơi khí (Vàyo - gió). Chúng ta thường
gọi một cách hình tượng về thân tứ đại là đất, nước,
gió, lửa.
2)- Sáu Ðại:
Sáu Ðại là sáu yếu tố cơ bản hình thành nên con người
toàn diện với ba thành tố đặc thù là: thể chất vật lý
(gồm bốn Ðại) cộng với ý thức (thuộc tâm lý) và không
gian.
3)- Mười
hai Xứ: Mười hai Xứ là cơ sở giao tiếp giữa con
người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm sáu nội
xứ (thuộc về tự thân) và sáu ngoại xứ (thuộc về ngoại
cảnh). Sáu nội xứ là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức.
Sáu ngoại xứ là: hình thể, âm thanh, hương khí, mùi vị,
sự tiếp xúc và các sự vật hiện tượng (sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp).
4)- Mười
tám Giới: Mười tám Giới là cơ sở giao tiếp toàn
diện của con người với thế giới thực tại khách quan,
bao gồm: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và sáu tình thức của
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức và ý thức).
II- Phân tích
bốn Ðại qua thể chất vật lý của con người
Như được trình
bày ở phần định nghĩa, bốn Ðại là nói tóm tắt về cơ
thể con người. Bốn Ðại này do nhân duyên hợp thành, chúng
không có gì là bền chắc. Con người từ khi sinh ra được
nuôi dưỡng bởi các loại thức ăn (thực tố) và dưỡng
khí, và tiếp tục sinh trưởng theo thời gian. Trong suốt quá
trình sống của một đời người, thân thể vật lý này không
ngừng thay đổi qua các chu kỳ sinh thành, tồn tại, biến
đổi và phân hủy (chết). Cái mà chúng ta gọi là sự chết
(sự ngưng hoạt động và phân hủy hay thọ mạng chấm dứt),
thực chất chỉ là sự tan rã của bốn Ðại).
Cơ thể của con
người hình thành là do sự hội tụ của bốn Ðại. Trong
bốn Ðại, nếu tiếp tục phân tích, chúng ta sẽ có thêm
bốn nhóm vật chất như sau:
1.
Yếu tố đất: gồm có: tóc, lông, móng, răng, da, thịt,
gân, xương, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột,
phân, mỡ, não, ghèn.
2. Yếu tố
nước: gồm có: mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ
hôi, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương,
nước tiểu.
3. Yếu tố
gió: gồm có: hơi thở (sự hô hấp) và khí.
4. Yếu tố
lửa: gồm có: nhiệt độ hay sức nóng do sự vận hành
của cơ thể phát ra.
Theo kinh Ðại Bát
Niết Bàn, cơ thể con người gồm có 36 thứ bất tịnh và
được chia thành ba nhóm:
1.
Nhóm một: gồm có 12 thứ ngoài thân: tóc, lông, móng,
răng, ghèn, nước mắt, nước mũi, nước miếng, phân, nước
tiểu và mồ hôi.
2. Nhóm hai:
gồm có 12 thứ trong thân: da, da non, máu, thịt, gân, mạch,
xương, tủy, lớp mỡ da, mỡ óc, màng bọc gân, thịt.
3. Nhóm ba:
gồm có 12 thứ nằm sâu trong thân: gan, mật, ruột, dạ dày,
lá lách, thận, tim, phổi, bàng quang, mề phân, đàm đỏ và
đàm trắng.
Mục đích của sự
phân tích cụ thể như trên là nhằm giúp chúng ta nhìn thấy
rõ ràng, chính xác về thân tướng bất tịnh của con người
để hướng tâm đến trạng thái xả ly, không chấp thủ (1).
III- Sáu Ðại
và con người toàn diện
Như đã trình
bày, sáu Ðại gồm có bốn Ðại (như trên) cộng với không
gian và ý thức. Do đó, con người (theo sáu Ðại) là con người
hoàn chỉnh, bao gồm cả tâm lý và vật lý. Riêng về phần
tâm lý hay tâm thức nói chung, đã được nói đến trong năm
Uẩn. Theo đó, tâm thức của con người bao gồm các phần
chính là: cảm thọ, niệm tưởng, tư duy và ý thức (thọ,
tưởng, hành, thức), nói chung là cấu trúc và sự vận hành
của tâm lý.
Do đó, sáu Ðại
thực ra chỉ là cách nói tóm tắt của năm Uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức). Vì lẽ, đối với con người, cơ cấu
tâm lý chỉ có thể vận hành khi nó dựa vào sinh thân, tức
là thân thể vật lý. Nếu chỉ có tâm thức hiện hữu mà
không có thân hiện hữu, hoặc ngược lại, chỉ có thân hiện
hữu mà không có tâm thức hiện hữu, thì không thể gọi
là con người.
Tương tự như
thế đối với khái niệm tâm thức. Ở đây, nên hiểu rằng,
tâm không đơn giản chỉ là tâm, mà trong tâm luôn luôn hàm
chứa hoạt động của các cảm thọ, các ảnh tượng của
tri giác, các hình thức tư duy và các hoạt động của tâm
thức nói chung.
Nên nhớ rằng,
mọi khái niệm phân biệt trong tâm thức của chúng ta như:
tài sản, nhà cửa, sông suối, núi đồi v.v... cho đến các
khái niệm như: tư duy, ý thức, tình cảm, lý trí, tưởng
tượng v.v..., tất cả đều là biểu hiện của tâm. Và đây
là lý do tại sao Ðức Phật dạy «Nhất thiết duy tâm« (tất
cả đều là sự tạo tác của tâm).
Như thế, sáu
Ðại và năm Uẩn dù khác nhau trên mặt ngôn ngữ, nhưng chúng
giống nhau về mặt ý nghĩa. Tuy nhiên sẽ rất giới hạn nếu
chúng ta dừng lại ở đây. Do đó những gì cần được khảo
sát tiếp theo, chính là mười hai Xứ và mười tám Giới.
IV- Mười hai
Xứ và mười tám Giới
Ðể hiểu rõ
cơ cấu của tâm thức, cũng như sự vận hành của nó, chúng
ta cần thiết tìm hiểu về 12 Xứ và 18 Giới.
Mười hai Xứ,
như đã trình bày, là cơ sở giao tiếp cơ bản để hình thành
những nhận thức, phân biệt của con người. Ðó là sự giao
thoa, tương tác giữa sáu nội Xứ (hay còn gọi là sáu căn
- Ajjhattika-àyatana) với sáu ngoại Xứ (còn gọi là sáu trần
- Bàhyu-àyatana). Căn là thân thể, mạng căn, tức là thể
chất vật lý của con người. Trần là trần cảnh, hay còn
gọi là thế giới sự vật hiện tượng. Sáu căn thuộc về
chủ thể, sáu trần thuộc về đối tượng. Do chủ thể giao
tiếp với đối tượng mà hình thành nên những nhận thức,
phân biệt, như sông, suối, núi, đồi, đàn ông, đàn bà,
con chim, hòn đá, giọt sương...
Chúng ta có sáu
căn và sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý; sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- Sắc:
gồm có màu sắc, hình thể, vật thể, hiện tượng, sự vật.
Sắc còn được chia thành hai phần đó là: biểu sắc (hình
tượng, sự vật...), vô biểu sắc (năng lượng vô hình...,
năng lượng tâm thức [mental energy] cũng được xem là một
loại sắc).
- Thanh: gồm tiếng
nói, tiếng động, âm thanh, âm nhạc...
- Hương: hương
khí, hương thơm...
- Vị: mùi vị
như chua, chát, cay, ngọt, mặn, đắng, the, lờ lợ...
- Xúc: sự giao
thoa giữa căn và trần, giữa vật này với vật khác...
- Pháp: tất cả
thế giới sự vật hiện tượng tâm lý và vật lý nói chung..
Khi sáu căn tiếp
xúc với sáu trần, thì liền phát sinh những nhận thức, phân
biệt. Do đó, có sáu loại phân biệt của thức (sự nhận
biết) gồm: sự thấy biết của mắt, sự nghe biết của tai,
sự ngửi biết của mũi, sự nếm biết của lưỡi, sự tri
giác của toàn thân và sự hiểu biết của ý thức.
Như thế, từ
sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành sáu thức
(Vijnàna) và cộng chung lại là mười tám Giới. Ðây là tiến
trình nhận thức luận về thế giới quan và nhân sinh quan
Phật giáo (2).
V- Mối quan
hệ giữa 12 Nhân duyên, 5 Uẩn, 4 Ðại và 6 Ðại, 12 Xứ và
18 Giới
Trong giáo lý về
12 Nhân duyên có đề cập đến chi phần Lục nhập, và trong
giáo lý 5 Uẩn có đề cập đến hai chi phần: vật lý (sắc)
và tâm lý (thọ, tưởng, hành, thức); trong 4 Ðại và 6 Ðại
cũng đề cập đến hai chi phần: vật lý và tâm lý; đặc
biệt trong 12 Xứ và 18 Giới lại nhấn mạnh đến sự giao
thoa, tiếp xúc giữa sáu căn và sáu trần. Sự giao thoa và
tiếp xúc này chính là chi phần Xúc (Phassa) - đứng hàng thứ
sáu trong giáo lý 12 Nhân duyên. Như thế, chúng ta có một bảng
tương đương như sau:
(Lục
nhập = 5 Uẩn + Xúc) # 6 Ðại + (4 Ðại) = 12 Xứ + (18 Giới)
5 Uẩn = Xúc
+ 12 Xứ # (18 Giới = Xúc + 6 Ðại)
Từ những chi tiết
này cho thấy rằng, cái thế giới sự vật hiện tượng với
muôn ngàn khác biệt mà chúng ta nhận biết thì không gì khác
/ ngoài sự phân biệt của tri giác. Và yếu tố hình thành
nên tri giác của con người chính là sự tiếp xúc giữa các
căn thân và trần cảnh, hay nói khác hơn là giữa chủ thể
nhận thức (ví dụ - con mắt) và đối tượng được nhận
thức (ví dụ - đám mây).
Mặc dù trên nền
trời xanh bao la không giới tuyến chỉ có một đám mây, nhưng
đứng ở góc độ này thì đám mây trông giống cô gái; đứng
ở góc độ khác thì đám mây trông giống con cọp v.v..., cứ
như thế mà đám mây được xuất hiện với nhiều hình thức
khác nhau, tùy theo điểm nhìn và chủ thể nhìn. Nên lưu ý
rằng, trước mắt chúng ta chỉ có một đối tượng, nhưng
do mỗi người có một duyên phận khác nhau và trình độ nhận
thức khác nhau, và do đó, đối tượng bị nhìn cũng được
tri nhận và đánh giá khác nhau. Ðấy chính là thế giới sai
biệt đa thù của nhận thức. Và sự sai biệt đó hoàn toàn
tùy thuộc vào yếu tố Xúc (tiếp xúc) ở mỗi con người
khác nhau.
Có một điều
tối quan trọng cần lưu ý rằng, để có một nhận thức,
bao giờ cũng phải có một chủ thể nhận thức và một đối
tượng được nhận thức xuất hiện trong tương quan. Và như
thế, suy cho cùng, cái mà chúng ta gọi là thế giới quan, hay
nhân sinh quan, hay vũ trụ quan đó, thực ra không gì khác hơn
là sự sinh khởi ý niệm của Thức trong tiến trình giao tiếp
giữa căn và trần. Và điều này, trong kinh Lăng Già, Ðức
Phật dạy: «Cái đa tính của đối tượng sinh khởi từ sự
nối kết giữa tập khí và phân biệt; nó sinh ra từ tâm,
nhưng người ta lại thấy nó hiện hữu bên ngoài; cái đa
tính ấy [ta gọi] (3) là Duy tâm«.
«(Và) thế giới
bên ngoài là không có, nên cái đa tính của các đối tượng
là cái được thấy từ Tâm; thân thể, tài sản, nhà cửa...,
những thứ ấy ta gọi là Duy tâm (4)«.
Từ những trưng
dẫn trên, chúng ta biết rằng, tri giác của con người rất
giới hạn, và mọi sự đo lường phân biệt, nhận thức của
con người đối với thế giới cũng rất giới hạn. Giới
hạn ở chỗ sự hiểu biết của chúng ta là do cái thấy từ
một tâm thức còn vô minh, thấy bằng tri giác phân biệt của
tự ngã chứ không phải là thấy từ một tâm thức toàn tri
(giác ngộ). Do đó, cái mà chúng ta cho là thường thì bản
chất của nó là vô thường, như dòng sông không ngừng trôi
chảy. Bản chất của ý thức phân biệt và vô minh là như
thế. Nó luôn luôn biến động, vô thường.
Con người khổ
đau chỉ vì lầm chấp vào ý thức phân biệt của mình, cho
rằng cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự
ngã của tôi, rồi cố gượng sống và bám víu vào những
suy nghĩ như thế nên chìm đắm trong sinh tử trầm luân, vậy
thôi.
C- Kết luận
Nói tóm lại,
giáo lý về các Ðại, Uẩn, Xứ, Giới là những phần giáo
lý rất cơ bản và quan trọng, giúp chúng ta có một cái nhìn
chính xác về cuộc sống vô thường, khổ và vô ngã. Bao lâu
con người chưa biết Uẩn, Xứ, Giới là gì, thì vẫn không
thể biết được thế nào là con đường thoát ly sinh tử.
Các Uẩn, Xứ, Giới là đề mục của pháp hiện quán - thiền
định, do vậy, con đường tu tập bao giờ cũng được khởi
đầu từ các Uẩn, Xứ, Giới; đấy chính là tu tập Chánh
tri kiến./.
* Sách tham khảo:
Ðề nghị học
viên tìm đọc cuốn Tâm lý học Phật giáo của tác
giả Thích Tâm Thiện, do Nxb TP Hồ Chí Minh ấn hành, 1998.
Phần đọc: Phần
II, chương I; phần III, chương II và phần IV, chương I &
II.
* Chú thích:
(1) Học viên xem
thêm các kinh có đề cập đến bốn Ðại và sáu Ðại như:
kinh Phân biệt sáu giới (M.140) = kinh Phân biệt lục giới
(Trung A Hàm 42+7 - kinh Ðại Câu Hy La).
(2) Xem Tìm hiểu
nhân sinh quan Phật giáo, Thích Tâm Thiện, Nxb TP Hồ Chí
Minh, 1998.
(3) Ðể trong ngoặc
[ ] là phụ chú của tác giả
(4) Lăng Già Ðại
thừa kinh, bản dịch của Thích Chơn Thiện và Trần Tuấn
Mẫn, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1998, tr.305.
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Bốn Ðại
là gì?
2- Trình bày
mối quan hệ giữa 6 Ðại và 18 Giới.
3- Uẩn, Xứ
và Giới khác nhau như thế nào?