x
| x |
|
|
|
PHẦN
I-GIÁO LÝ CƠ BẢN
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Bài
đọc thêm
|
|
|
|
|
|
|
|
PHẦN
II - LICH SỬ PHẬT GIÁO
|
|
|
|
|
|
|
|
Bài
đọc thêm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| x |
|
Ban
Hoằng pháp Trung ương, GHPGVN
PHẬT
HỌC CƠ BẢN
Tập
Hai
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002) - Nguyệt san Giác Ngộ
Phần I
- Bài 5
Bốn
đề mục quán niệm
(Tứ niệm
xứ)
Thích Phước
Lượng
A- Dẫn nhập
Sau
khi thành đạo, Ðức Thế Tôn đã vận dụng phương tiện
để dẫn dắt chúng sanh đến với con đường giác ngộ theo
từng cấp độ tùy thuận. Bốn đề mục quán niệm là một
trong những phương pháp tu tập được Thế Tôn thuyết giảng
đầu tiên.
Giáo lý Ðức
Phật thuyết giảng tuy bao la từ nhân sinh đến vũ trụ, nhưng
tựu trung vẫn xoay quanh vấn đề con người. Lấy con người
làm đối tượng quán chiếu để thấy được vũ trụ vạn
hữu, pháp môn Bốn đề mục quán niệm giúp chúng ta nhận
diện được sự thật của tự thân, tha nhân và xã hội.
Ðó cũng chính là ý nghĩa cao cả mà Ðức Phật nhắm đến
khi muốn giác ngộ chúng sanh.
B- Nội dung
I- Ðịnh nghĩa
Giáo lý Phật
giáo khẳng định rằng: Muốn thấu triệt một sự vật hiện
tượng nào, nhất thiết phải dùng phương pháp quán niệm.
Không có quán niệm thì không thể đánh giá được sự vật
chân thật, khách quan được. Quán là dùng trí tuệ để tư
duy, soi rọi và phân tích đối tượng, để thấu triệt được
bản chất sự vật. Niệm được hiểu một cách đơn giản
là nhớ nghĩ đến đối tượng để thực hiện một quá trình
quán sát, tư duy. Ở giai đoạn sơ khởi thì niệm là tiền
đề cho quán. Nếu không có niệm thì quán không thể xảy
ra. Niệm còn có nghĩa là ký ức lưu giữ đối tượng sau
khi quán. Nếu đối tượng cho ta một kết quả tích cực,
lợi ích cho việc tu tập dẫn đến giác ngộ, thì ta dùng
niệm để nhớ nghĩ mà hành trì. Trong giáo lý Tứ diệu đế,
Bốn đề mục quán niệm được Thế Tôn tuyên giảng ở phần
Ðạo đế. Trước hết, đây là một pháp môn tu tập quân
bình về chỉ và quán. Gồm có:
1. Quán
niệm về thân
2. Quán niệm
về thọ
3. Quán niệm
về tâm
4. Quán niệm
về pháp.
Theo dõi về sự
có mặt của thân, các cảm thọ, tâm thức và các pháp, đây
gọi là thiền chỉ. Ði sâu vào quán tánh sanh diệt để thấy
được bản chất của chúng, đây gọi là thiền quán.
II- Nội dung
Bốn đề mục quán niệm
1. Quán niệm
về thân:
Quán niệm về
thân có nghĩa là thực hành thiền định về thân. Thực hành
phép quán niệm này để ý thức được về sự bình yên,
thanh thản trong cuộc sống hiện tại, để thực hành nếp
sống oai nghi và để thấy được mặt trái của thân này.
a/ Quán thân thông
qua hơi thở
Ðây là
hình thức quán sổ tức (đếm hơi thở). Tuy nhiên, quán thân
thông qua hơi thở không chỉ có đếm hơi thở mà còn phải
theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra dài ngắn như thế nào và
biết rõ như vậy. Nói cách khác, lúc ấy ta đang ý thức và
nhận biết chính mình. Hơi thở đối với sự sống con người
là tối quan trọng. Con người có thể nhịn ăn, nhịn uống
trong một thời gian dài, nhưng mạng sống sẽ kết thúc nếu
thiếu thở trong vài phút đồng hồ. Trong kinh Tứ thập nhị
chương, Ðức Phật hỏi các vị Sa môn: Mạng người sống
được bao lâu? Vị thứ nhất trả lời trong vài ngày. Vị
thứ hai trả lời trong một bữa ăn. Phật bảo hai vị ấy
chưa hiểu đạo. Vị thứ ba trả lời mạng sống trong chừng
hơi thở. Phật khen vị ấy là người hiểu đạo. Chúng ta
thở suốt ngày suốt đêm, nhưng ít khi chúng ta nắm bắt được
hơi thở của mình. Chúng ta quá bận bịu lo cho cái ăn cái
mặc mà quên đi tính diệu dụng của hơi thở. Chúng ta chưa
quan tâm hơi thở cho buồng phổi và trái tim của chúng ta.
Khi lo lắng, cáu giận làm cho tim đập nhanh, phổi khó hấp
thu không khí, thì chính lúc này việc nắm bắt hơi thở là
hết sức quan trọng, giúp ta lấy lại trạng thái bình tĩnh
của tâm và điều hòa của thân. Khi hơi thở và thân thể
được điều hòa thì trạng thái an tịnh của thân sẽ sanh
khởi.
Thật ra, việc
hít vào thở ra sâu cạn chưa phải là điều quan trọng. Ðiều
quan trọng hơn cả là ta có ý thức được trong khi thở. Phật
dạy khi hít vào thở ra ta phải ý thức theo dõi hơi thở ấy.
Hơi thở ra dài, ngắn thì phải biết là dài, ngắn thật sáng
suốt và tỉnh táo. Ngày nay trong cuộc sống văn minh hiện
đại, con người hoạt động như con thoi trong khung cửi. Con
người có thể thực tập phép quán niệm hơi thở để đem
lại sức khỏe cũng như năng suất công việc. Ở mức độ
cao hơn, nó giúp hoàn thiện và phát triển trí lực.
b/ Quán thân thông
qua các cử chỉ hoạt động
Ðây là
hình thức quán thân thông qua đi, đứng, ngồi, nằm, các hoạt
động khác của thân, nhằm kiểm soát hoạt động của thân
bằng chánh niệm. Có nghĩa là dùng chánh kiến để duy trì
và phát huy chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Thật ra, ý nghĩa
của việc quán niệm là nhằm tập trung tư tưởng để sanh
khởi ý thức. Ðức Phật khuyến cáo người Phật tử phải
ý thức trong từng hành động dù nhỏ nhặt nhất. Cũng như
ý thức về hơi thở, khi đi ta biết mình đang đi, khi đứng
biết mình đang đứng... Biết như vậy để cảm nhận hành
động được trọn vẹn trong giây phút hiện tại. Sống như
vậy là sống trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức và trong
an lạc. Ý thức về bước đi của mình để thấy rằng ta
đang đi giữa đất trời mây nước, với cỏ cây hoa lá chim
muông... Mỗi bước đi của ta đang hòa với cảnh vật, không
gian và thời gian, hòa với cả vũ trụ bao la, và vũ trụ bao
la đang có mặt trong mỗi bước đi của mình. Ý thức rằng
lời nói ta đang nói có mặt của tham lam, sân hận hay không.
Bởi vì ngôn từ mà ta nói ra đều hàm chứa những tâm tư,
suy nghĩ của mình. Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta không
có đủ bản lĩnh để ý thức và kiểm nghiệm về mình. Cuối
cùng ta chỉ có ý thức về sự nông nổi, và cuộc sống bị
đánh mất trong giây phút hiện tại.
Thường thì trong
cuộc sống, chúng ta bị chi phối bởi quá khứ và tương lai.
Do vậy, ta không thưởng thức được hạnh phúc hiện tại.
Hãy nhìn một người đang ngồi trong giảng đường nghe pháp,
nhưng tâm người ấy đang nghĩ đến số tiền cho vay chưa
lấy lại được và đang tìm cách lấy lại trong một ngày
gần đây. Thử hỏi người ấy có cảm nhận trọn vẹn nguồn
pháp lạc hay đang vun đắp cho một mối lo toan sầu não? Do
vậy, ý nghĩa thật sự của việc tỉnh thức đối với hoạt
động của thân là sống với hành động hiện tại. Khi ta
ý thức, tỉnh táo trước một hành động thì có hai khả
năng xảy ra: hoặc ta đang đắm mình trong hành động, sống
với hành động mà không nghĩ gì khác ngoài chánh niệm, giác
tỉnh, không thấy mình trong hành động thì ngay đó đã là
một kết quả tốt đẹp rồi. Hoặc là ta tự ý thức đến
cái «tôi« trong hành động, tức tư duy hữu ngã gắn liền
với hành động. Như vậy, ý thức về hành động của thân
để nhiệt tâm tinh cần thì đó là ý nghĩa đích thực của
chánh niệm tỉnh giác. Còn khi ý thức ta đang hành động gắn
liền với cái «tôi« thì đó là bước đầu quay về với
sự tự chủ trong dòng vận hành của tự thân.
Như vậy, quán
thân thông qua các hành động nhằm giúp ta kiểm soát hoạt
động của thân bằng chánh niệm, để thực tập oai nghi chánh
hạnh, đưa ta trở về sống với hiện tại; xa lìa lối sống
tìm cầu hạnh phúc bằng tưởng tượng, bằng mong cầu và
bằng hồi tưởng.
c/ Quán thân bất
tịnh thông qua các bộ phận sai biệt cấu thành
Bình thường
ta ít khi để ý đến thân thể của mình một cách chi tiết.
Ta chỉ quan tâm nó về những nhu cầu như ăn uống, ngủ nghỉ...
làm thế nào cho có sức khỏe, cho thân hình cân đối đẹp
đẽ. Ta tự hào và trân quí thân ta, vì dưới con mắt mọi
người ta có được một thân thể đẹp đẽ, nhan sắc...
Ta nâng niu, nuôi dưỡng và bảo vệ nó tối đa. Ngược lại
ta thật khổ đau và hổ thẹn khi ta có một khuyết tật nào
đó trên thân như mắt lé, mũi tẹt... ta cảm thấy khổ tâm
khi đối diện với mọi người.
Thế nhưng dù
đẹp hay xấu, thân này vẫn là bất tịnh, là duyên sinh, vô
thường, vô ngã. Trong quan điểm truyền thống của Phật giáo,
thân con người là do tứ đại hợp thành, tức bốn yếu tố:
đất, nước, gió, lửa, hay còn gọi là bốn giới: địa giới
là chất rắn (xương, thịt), thủy giới là chất lỏng (máu,
mủ...), hỏa giới là sức nóng (nhiệt độ), phong giới là
sức động (hơi thở).
Trong kinh Niệm
xứ (Trung Bộ I), Ðức Phật đã dạy phương pháp quán sát
thân tứ đại như sau: quán từ lòng bàn chân lên đến đỉnh
tóc được bọc bởi lớp da và chứa đầy những thứ sai
biệt bất tịnh. Không những thế, thân này bất tịnh ngay
khi còn nằm trong bụng mẹ, hấp thụ huyết khí mà sống.
Sự bất tịnh và tính giả hợp của thân này càng được
biểu lộ rõ hơn, mạnh mẽ hơn khi ta quán một thi thể quăng
ngoài nghĩa địa. Bước thứ nhất là quán thi thể trương
phồng lên, thối rữa ra. Bước thứ hai quán thi thể ấy bị
các loài chim và côn trùng ăn thịt. Bước thứ ba quán thi
thể ấy chỉ còn lại bộ xương kết dính với nhau nhờ vào
các sợi gân. Bước thứ tư là quán thi thể ấy chỉ còn
lại các đốt xương trắng rời rạc, theo thời gian tan hoại
thành bột trắng. Trong khi quán niệm như vậy, người Phật
tử biết rõ rằng: «Thân này tính chất là như vậy, bản
tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh ấy«. Ðấy là lời
khẳng định chắc thật của Thế Tôn. Thân này chịu sự
chi phối của sanh, già, bệnh, chết. Thời gian trôi qua thì
mạng sống cũng giảm dần. Một thân thể mà ta yêu chuộng
ngày nào giờ đây chỉ còn lại đống tro tàn nguội lạnh.
Xấu - đẹp, giàu - nghèo, sang - hèn... đều như thế cả.
Tuy nhiên, quán
thân là bất tịnh, là vô thường không có nghĩa là ta bi quan
về nó, bỏ rơi hay hủy diệt nó. Ðức Phật không cho phép
người Phật tử bi quan về bất cứ một điều gì trong cuộc
sống. Nếu chúng ta thấy được mặt trái của thân mà bi
quan, tức chúng ta tự hủy hoại thân mình. Ðó là đi ngược
lại lý tưởng cao đẹp của Thế Tôn.
Bởi lẽ, mục
đích của quán thân bất tịnh là nhằm đưa con người vượt
khỏi những vướng mắc, quị lụy đau khổ chấp trước vào
thân này. Quán như vậy nhằm để đối trị lòng ham muốn
sắc dục.
Tóm lại, quán thân
có thể được hiểu trên hai mặt: quán phần thô và quán
phần tế. Phần thô là quán các hoạt động bên ngoài của
thân như đi, đứng, ngồi, nằm... Phần tế là quán thân này
do tứ đại hợp thành, được kết cấu với nhau qua các thứ
bất tịnh.
2. Quán niệm
về thọ:
a/ Thọ là gì?
Thọ là
nói tắt của cảm thọ. Khi nhận lấy một vật gì, hay chấp
nhận một điều gì thì gọi là thọ. Thọ gồm có thân thọ
và tâm thọ. Hai mặt này tương tác với nhau. Có thể thân
thọ mà tâm không thọ, hoặc thân và tâm đồng cảm thọ.
Từ ý này, ta có nội dung của thọ gồm có ba trạng thái:
lạc thọ là tâm lý hưng khởi sung sướng, thích thú trước
đối tượng. Khổ thọ là trạng thái tâm lý khổ não, buồn
chán... Bất khổ bất lạc thọ là tâm lý trung dung, không
thiên lệch về phía lạc cũng như về phía khổ. Ta có thể
hiểu rằng: lạc thọ và khổ thọ là tâm lý chủ quan, bất
khổ bất lạc thọ là tâm lý khách quan.
Cảm thọ là cơ
sở không thể thiếu được trong việc hình thành tâm thức
của con người. Do vậy, quán niệm về cảm thọ chính là
khảo sát tâm lý con người.
b/ Nội dung của
quán niệm về thọ
Ðể cảm
thọ có mặt, điều tất yếu phải hội đủ ba yếu tố:
nội căn, ngoại trần và xúc. Kinh Tương Ưng III, Ðức Phật
dạy rõ: «Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh... thọ
do ý xúc sanh. Do xúc sanh khởi nên thọ sanh khởi, do xúc đoạn
diệt nên thọ đoạn diệt«. Sáu xúc xứ là những ấn tượng
về tình cảm liên hệ mật thiết với tất cả nhận thức
của sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý khi đối
diện với sáu cảnh trần tương ứng: sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp. Cơ sở của những cảm thọ khổ, vui, trung tính
là gì? Ðức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, do duyên tiếp xúc
với lạc nên lạc thọ khởi. Do duyên tiếp xúc với khổ
nên khổ thọ khởi. Do duyên tiếp xúc với bất khổ bất
lạc nên bất khổ bất lạc thọ khởi« (theo kinh Trung Bộ
III, số 140). Và làm thế nào để nhận diện được thọ?
Ðó là phải có mặt của ý thức. Khi căn và trần duyên nhau,
nếu không có ý thức về nó thì sẽ không có cảm tưởng
về lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ. Khi ta
nhìn vào một bông hoa thì có hai khả năng xảy ra: hoặc có
sự đánh giá xấu đẹp, hoặc không có một sự đánh giá
nào. Nếu ý thức được bông hoa đẹp, có hương thơm... thì
cảm giác lạc thọ sẽ sanh khởi. Nếu bông hoa có những điểm
dị ứng với ta thì ta cảm thấy khó chịu, khi đó cảm giác
khổ thọ sanh khởi. Còn khi nhìn bông hoa ta vẫn cảm nhận
được sắc đẹp, hương thơm hoặc những dị ứng khó chịu,
nhưng ta không bận tâm về nó, không thích thú cũng không buồn
chán. Ðó là trạng thái tâm lý không khổ không vui sanh khởi.
Ðức Phật khẳng định: «Khi thức được trong sạch, trong
trắng, vị ấy biết được một số sự việc nhờ thức
ấy. Vị ấy thức tri được lạc, được khổ, được bất
lạc bất khổ« (sđd).
Chúng ta thọ những
gì và tại sao nói thọ là khổ? Cả ba trạng thái lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ có thể thuộc về vật
chất, có thể không thuộc về vật chất; thuộc về nội
thọ hay thuộc về ngoại thọ. Ta thọ nhận cái thân này là
của ta, là ta. Muốn thân này tồn tại và đẹp đẽ, ta thọ
nhận thực phẩm và y phục, những nhu cầu trang bị cho cuộc
sống; và luôn có khuynh hướng muốn thọ nhiều hơn để chứng
tỏ «cái ta« với cuộc đời. Thọ càng nhiều chúng ta càng
thấy hạnh phúc, nhưng thực ra sự đau khổ luôn có mặt cùng
niềm hạnh phúc. Con người luôn lo sợ cái thân này chết
sớm không thọ hưởng được của cải vật chất đã tạo
ra. Ðồng thời họ luôn lo sợ của cải bị đánh cắp và
thật khổ đau khi điều ấy xảy ra. Khi sa cơ lỡ vận trở
nên trắng tay con người lại càng đau khổ, cuộc đời đối
với họ bây giờ là một bờ vực thẳm. Ðó là nỗi khổ
của những lạc thọ thuộc vật chất. Cảm thọ tiền tài,
danh vọng địa vị, tiếng khen, lời chê, lòng tham, sân hận,
lòng yêu thương của người... là những cảm thọ không thuộc
vật chất. Khi sáu căn duyên sáu trần sinh ra cảm thọ thì
đây thuộc về ngoại thọ. Cảm thọ về các trạng thái thiền
lạc gọi là nội thọ. Chung qui dù cảm thọ thuộc vật chất
hay không vật chất đều do tâm bị ràng buộc trong ngũ dục:
tài, sắc, danh, thực, thùy (tức các ham muốn về tiền bạc
- của cải, sắc đẹp, danh vọng - địa vị, ăn ngon, ngủ
kỹ). Tuy nhiên, cảm thọ đưa đến khổ đau hay an lạc tùy
thuộc rất nhiều vào mức độ giác ngộ của chúng ta. Ðối
với người Phật tử có tu tập, có trí tuệ quán chiếu thì
luôn làm chủ được tâm mình trước những cảm thọ. Biết
cảm giác ấy là vô thường và sẽ dễ bị trói buộc bởi
cảm giác ấy, người Phật tử không nhận cảm thọ ấy bằng
dục vọng. Sống trong lạc thọ nhưng không hệ lụy, sống
trong khổ thọ nhưng không khổ đau cùng cực vì có quán sát
và liễu tri được bản chất của chúng.
3. Quán niệm
về tâm:
a/ Tâm là gì?
Khi bàn
về tâm là bàn đến một vấn đề phức tạp bởi vì khó
mà định nghĩa tâm như thế nào. Ta không thể nói tâm là...
như nói đến một sự vật cụ thể. Vì lẽ, nói đến con
người là nói đến hoạt động của thân và tâm. Hoạt động
của thân thuộc phần thô, hoạt động của tâm thuộc phần
tế. Tuy thế, ta vẫn nắm bắt và nhận diện được nó. Ta
vẫn thường nghe nói đến tâm qua các khái niệm: tâm thiện,
tâm ác, tâm ích kỷ, tâm tham, tâm sân... Tất cả đều là
những biểu hiện của tâm trong đời sống. Trong cùng một
thời điểm không thể có hai niệm đồng tồn tại. Tâm thiện
đang hoạt động thì vắng mặt tâm ác, tâm tham hoạt động
thì vắng mặt tâm bố thí (tâm từ)...
b/ Nội dung của
quán niệm về tâm
Quán tâm
tức là ta đang dùng tâm để quán tâm, ngay trong bản thân
của tâm mà không phải quán sát một đối tượng nào khác
ngoài tâm. Tức là ta đang ý thức về tâm mình để thấy
được sự có mặt và hoạt động của nó. Như đã đề cập,
con người năm uẩn được chia làm hai phần thân và tâm. Thân
thuộc về sắc, và tâm chính là thọ, tưởng, hành, thức.
Thân và tâm có một sự liên hệ mật thiết với nhau. Thân
là cơ sở hoạt động của tâm và tâm mượn thân để biểu
hiện. Tâm là vô hình nhưng nó có những đặc tính của thân.
Nó có thể xúc chạm được (giao cảm), nó cũng có cảm giác
đau khổ và an tịnh. Vì vậy mà con người luôn tồn tại
một căn bệnh trầm kha khó chữa: tâm bệnh. Thân bệnh là
do năm căn bất hòa (thiếu ăn, thiếu uống, thiếu thuốc men...).
Tâm bệnh thì có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính
là do tham, sân, si: những vi trùng gây bệnh. Tham về của cải
vật chất, địa vị, tình cảm... Tham không được thì sân
hận, khổ đau sầu não mà sinh ra bệnh. Và thân bệnh có thể
đưa đến tâm bệnh và ngược lại. Có khi thân bệnh nhưng
tâm không bệnh, và có khi tâm bệnh đưa đến thân bệnh.
Tâm chúng ta không
cố định tại một chỗ nào cả, mà nó thường xuyên biến
chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, tùy theo điều
kiện khách quan hay chủ quan của chủ thể và đối tượng.
Trong Phật giáo, tâm thường được ví như con vượn leo cây,
chuyền từ cành này sang cành khác suốt ngày. Niệm trước
như vậy niệm sau đã khác, sanh diệt liên tục như dòng thác
đổ. Hôm nay yêu thương người hết mực, ngày mai lại ghét
bỏ.
Tâm là do nhân duyên sanh diệt. Do vậy, tâm không phải là
một thực thể tồn tại độc lập. Trên cơ sở đó, tâm
không có cái ngã của nó. Tâm sanh là do sắc, thọ, tưởng,
hành và thức. Bản thân của các yếu tố này cũng do duyên
sinh, vô thường, vô ngã. Cho nên tâm cũng vô thường - vô
ngã. Ðức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, chấp tâm thức là
thường còn, còn sai lầm và tệ hại hơn là chấp thân xác
là thường còn. Vì thân xác người còn có thể tồn tại
vài chục năm cho tới một trăm năm, còn tâm thức của người
thì sanh diệt đổi thay trong từng giây phút« (Tạp A Hàm,
T.II). Thật nguy hiểm khi chấp rằng tâm là thường còn, là
bất biến. Nếu chấp như vậy thì cuộc đời này quả là
một xã hội bất bình đẳng và mãi mãi rối loạn, băng hoại.
Vì nhân tâm con người không thể thay đổi được. Vai trò
của giáo dục, đạo đức sẽ không có giá trị. Người tham
vẫn cứ tham, người sân vẫn cứ sân. Không có quá trình
tu tập đi đến giác ngộ giải thoát. Chúng ta biết rằng
nghiệp là do tâm tạo, mà đã chấp tâm là thường thì làm
sao chuyển đổi được nghiệp. Như vậy, trầm luân vẫn cứ
trầm luân, không thể khai phóng trí tuệ để đi vào giác
ngộ.
4. Quán niệm
về pháp:
a/ Pháp là gì?
Chữ «pháp«
không có nghĩa giới hạn ở những sự vật cụ thể thuộc
về thế giới vật chất không tri giác. Theo giáo lý đạo
Phật, chữ pháp được hiểu với ý nghĩa rộng rãi, bao hàm
cả vũ trụ và nhân sinh, vật chất và tinh thần, tâm lý và
vật lý. Pháp được chia làm hai nhóm: sắc pháp và tâm pháp.
Sắc pháp có hình chất gây trở ngại và không có tri giác;
như cái bàn, cái cây, ly nước... Tâm pháp là pháp không có
hình tướng, không thể nhìn thấy được, nhưng có tri giác.
Ở đây , con người hội đủ hai pháp ấy. Ðó chính là con
người ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc pháp
là sắc trong 5 uẩn (thân thể vật lý). Tâm pháp là thọ,
tưởng, hành, thức; là thế giới tâm thức nội tại mà tác
dụng của nó là suy lường, tư lự... để biểu hiện các
trạng thái tâm lý buồn, vui... Ví dụ sự dao động của tâm
khi hoạt động của năm Triền cái và năm Thiền chi (1), hay
hoạt động của Thất giác chi (2).
b/ Nội dung của
quán niệm về pháp
Con người
là đối tượng để thực hành quán niệm pháp. Vì nó hợp
đủ sắc pháp và tâm pháp. Người Phật tử quán chiếu thân
ngũ uẩn để ý thức được mối liên hệ giữa bản thân
và vũ trụ vạn hữu. Nếu không có vũ trụ thì hợp thể
ngũ uẩn này không có được. Từ thực tính này ta càng thấy
rõ về ý nghĩa vô ngã của các pháp.
Trong các kinh -
luận của Phật giáo Phát triển, vô ngã bao gồm pháp vô ngã
và nhân vô ngã, hay sắc pháp vô ngã và tâm pháp vô ngã. Ở
đây sắc pháp được chỉ chung cho thân người và các pháp
ngoại giới. Sắc pháp và tâm pháp đều nương vào nhân duyên
mà thành nên chúng là hư vọng. Kinh Lăng Nghiêm dạy: «Nhân
duyên hòa hợp hư vọng hữu sanh, nhân duyên ly tán hư vọng
hữu diệt«. Khi nhìn vào cốc nước chanh, nó không có tự
ngã của nó. Vì nó không phải là một thực thể độc lập,
mà nó chỉ có mặt trong mối tương quan duyên khởi: nào là
nước, nào là đường, là chanh... Tâm của ta cũng vậy, nó
tùy thuộc vào nội căn ngoại cảnh, vào xúc, thọ, tưởng,
hành, thức. Khi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận
thức đều duyên sinh vô ngã thì còn một cái ngã nào để
tồn tại mà chấp trước.
Cần nói thêm
rằng, thân và tâm chỉ tồn tại trong một thời gian nào đó
rồi theo qui luật sinh - thành - hoại - diệt mà mất đi. Thân
không thể tồn tại ngoài tâm, tâm không thể tồn tại ngoài
thân. Cũng như sắc không thể tồn tại ngoài thọ, tưởng,
hành, thức. Do vậy, Phật giáo không chấp nhận một linh hồn
trường cửu sau khi sắc thân hủy diệt. Sở dĩ có một tư
tưởng về một linh hồn trường cửu và xem đó là ngã, là
do khẳng định tính tự tồn của con người theo thời gian
vô tận. Ý tưởng về một linh hồn, ngã như vậy - theo Phật
giáo là thật sai lầm và trống rỗng. Ðó chỉ là một khái
niệm vọng tưởng của tâm thức sai lạc không thể có mặt
trong thực tại.
III- Ý nghĩa nhất
quán và lợi ích thiết thực khi tu tập Bốn đề mục quán
niệm
Khi chọn Bốn
đề mục quán niệm để tu tập, chính là tu tập tự thân.
Bởi vì giải thoát sanh tử luân hồi cho con người là mục
tiêu chính mà Ðức Phật nhắm vào cuộc đời này. Hiểu được
chính mình thì hiểu được tha nhân và vạn hữu. Thấy được
nhân duyên sanh diệt, vô thường, vô ngã trong con người thì
thấy được các pháp khác cũng như thế.
Tính vô thường
nơi con người là ấn tượng mạnh mẽ nhất làm ta thức tỉnh.
Một con vật hay một cây xanh chết không đủ sức mạnh cho
ta giác tỉnh bằng chính bản thân con người. Trong quá trình
quán niệm các đề mục ấy, ta thấy chúng có chung một đặc
điểm về mặt bản thể - đó là tính nhân duyên sanh diệt,
vô thường, vô ngã. Ðó cũng là đặc tính chung cho tất cả
các pháp hữu vi(3). Thật ra, nói quán thân bất tịnh, quán
tâm vô thường chỉ là một cách nói để làm nổi bật lên
đặc điểm biểu hiện rõ nét nhất của chúng mà thôi. Ví
dụ thân bất tịnh thì rất dễ nhận diện. Thân bất tịnh
là chính nó bất tịnh. Còn tâm bất tịnh thì vi tế hơn.
Do vậy, pháp quán
niệm này trước hết là đưa thân và tâm trở về sống với
giây phút hiện tại. Xua đuổi quên lãng và phân tán để
duy trì chánh niệm và duy trì sự sống. Bốn đề mục quán
niệm là giáo lý thực tiễn được rút ra từ những thể
nghiệm thiết thân trong đời sống. Ðó cũng là yếu lý trong
giáo lý đạo Phật: không tách rời cuộc sống, mà liên hệ
mật thiết với đời sống. Khi quán niệm về thân là quán
niệm về phương diện vật lý, tức là thấy được sự tổng
hợp các yếu tố vật chất cụ thể tạo nên thân người
và thấy được sự bất tịnh của thân khi còn sống cũng
như khi chết nhằm đối trị lòng ham muốn sắc dục. Quán
niệm về cảm thọ và tâm thức là quán niệm trên phương
diện tâm lý, tức là thấy được sự sanh khởi và sự biến
chuyển vô thường của tâm, nhằm để hiểu biết tâm và
làm tâm thanh tịnh. Quán niệm về pháp để thấy tính vô
ngã mà xa rời chấp trước. Bát Nhã Tâm kinh dạy: «Khi Bồ
tát Quán Thế Âm quán chiếu về hợp thể ngũ uẩn và phát
hiện ra cái trống rỗng của tự ngã thì Ngài vượt qua tất
cả mọi khổ đau ách nạn«. Khi sự thăng trầm và tính cách
vô thường của vạn hữu không chi phối đời sống tâm linh
nội tại thì ta vượt qua được khổ đau như Bồ tát Quán
Âm vậy.
Ðức Phật đã
khẳng định lợi ích của việc tu tập Bốn niệm xứ này:
«Ðây là con đường duy nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng
sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh
trí, chứng ngộ Niết bàn« (Kinh Niệm xứ, Trung Bộ I).
C. Kết luận
Ðối với cuộc
sống thực tại, nếu Bốn đề mục quán niệm được tu tập
thì con người sẽ phần nào vượt qua được những chướng
ngại liên hệ đến thân và tâm. Tập khí thế gian khiến
con người khó có thể vượt qua những căn bệnh tâm sinh lý
được xem như là bản năng tiềm ẩn. Con người luôn có chiều
hướng sống trong dục vọng, khát ái. Khi bản năng không được
giáo dục thì khổ đau vẫn còn chồng chất. Hướng giáo dục
của Bốn đề mục quán niệm lấy tự tâm và tự thân làm
cơ sở. Dù được giáo dục qua Bốn đề mục quán niệm,
thấy rõ bản chất con người và sự vật là như vậy, thấy
được sự tác hại khi đắm trước, thấy được lợi ích
khi xuất ly, nhưng thông thường chúng ta chưa có đủ bản
lĩnh để tự chủ và giới hạn mình trước sức mạnh của
lòng ham muốn. Ðó là do chúng ta chỉ mới hiểu vấn đề
mà chưa thực sự hành trì. Cần chú ý rằng, người học
Phật khác với người tu Phật. Học Phật chỉ để làm giàu
kiến thức Phật học, thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, là người
chỉ mới đứng ngoài ngõ mà chưa vào trong nhà. Người học
Phật lại vừa tu Phật mới chính là người thực sự sống
và hành trì theo chánh pháp. Chính những người này mới có
được hạnh phúc lâu dài, thành tựu đạo hạnh và có khả
năng chứng ngộ. Cái hiểu chưa phải là vốn sống thực sự
của người cầu đạo. Hành trì mới là vốn sống, là cốt
lõi của người Phật tử trên bước đường tìm về giải
thoát./.
* Chú thích:
(1) Năm triền
cái: là năm sự ngăn che trí tuệ, là chướng ngại cho việc
tu tập thiền định gồm: tham dục, sân hận, hôn trầm - thụy
miên, trạo cử, nghi.
Năm thiền chi:
có bản chất ngược lại với năm triền cái. Chúng là những
yếu tố nhiếp phục năm triền cái để đưa tâm vào định.
Gồm: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.
(2) Thất giác
chi (còn gọi là Thất Bồ đề phần): là bảy phương tiện
đưa đến giác ngộ, gồm: trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh
an, niệm, định, xả.
(3) Pháp hữu vi:
các pháp sinh ra do nhân duyên tạo tác, đối lại với pháp
vô vi là không do nhân duyên tạo tác, đó là chân như, Phật
tánh.
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Trình bày
sơ lược nội dung các đề mục quán niệm.
2- Học viên
hãy trình bày các lợi ích thiết thực khi tu tập Bốn đề
mục quán niệm theo kinh nghiệm bản thân.
Source: Nguyệt
san Giác Ngộ, Sài Gòn, 1999-2000

|