Phần II
- Bài 6
Giới
thiệu Pháp Hoa Tông
HT Thích Trí
Quảng
Pháp
Hoa tông còn được gọi là Thiên Thai tông. Thiên Thai là tên
của hòn núi ở Thai Châu, miền Nam Trung Hoa. Ngài Trí Giả
sống tại núi này và giảng dạy đại chúng suốt đời nhà
Trần và nhà Tùy.
Tông phái này
do Ngài thành lập, nên được gọi là Thiên Thai theo tên núi
mà Ngài ở. Nhưng đúng tên là Pháp Hoa, đặt theo tên kinh
Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh căn bản của tông này.
I. Lịch sử
1- Long Thọ
Tuy ngài Trí Giả
thành lập tông Pháp Hoa, nhưng tông này đặt ngài Long Thọ
làm sơ Tổ. Nargajuna, Hán dịch là Long Thọ, Long Thắng hay
Long Mãnh, nhưng tên Long Thọ phổ thông hơn. Ngài thuộc
dòng Bà la môn ở Nam Êẽn Ðộ, nước Tỳ Ðạt Bà, thông
minh xuất chúng, sớm hiểu được bốn bộ Vệ Ðà kinh, được
coi như hàng lãnh đạo của Bà La Môn giáo.
Sau, Ngài theo Phật
giáo, bắt đầu học Tiểu thừa, rồi chuyển sang Ðại thừa.
Cuối cùng, Ngài phát huy tư tưởng Trung Quán và là Tổ của
phái Trung Quán. Ngài cũng là Tổ thứ 13 trong 28 Tổ của Thiền
tông và cũng là Tổ của tất cả 10 tông phái ở Trung Hoa,
21 tông phái ở Nhật Bản.
Về năm sanh của
ngài Long Thọ, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Cao tăng truyện,
Ngài sanh sau Phật nhập diệt 900 năm, Ma Da kinh ghi sau 700 năm,
Pháp Hoa truyền ký ghi sau 600 năm. Theo cận đại học giả
Ðông Tây, năm sanh của Ngài vào khoảng 150-250 T.L.
Ngài Long Thọ
được coi là sơ Tổ của tông Pháp Hoa vì theo Chân đế tam
tạng, sau khi Phật diệt độ, có nhiều học giả nghiên cứu
kinh Pháp Hoa, nhưng tác phẩm mang tên Pháp Hoa của Ngài soạn,
Kiên Ý Bồ tát chú thích, là một tác phẩm được coi như
xuất sắc nhất.
Ngoài bộ Pháp
Hoa luận chưa tìm thấy, nếu theo dõi những tác phẩm khác
của Bồ tát Long Thọ cũng bắt gặp những ý nghĩa thâm huyền
của kinh Pháp Hoa.
Thuyết nhị thừa
tác Phật được dẫn dụng trong Ðại Trí Ðộ luận
đã nói lên được tư tưởng của Bồ tát Long Thọ phát nguồn
từ kinh Pháp Hoa. Và hơn thế nữa, trong bộ Ðại luận
đã nhắc đến kinh Pháp Hoa trên 20 lần. Các phẩm Tựa,
Phương tiện, Thí dụ, Dược thảo dụ, Hóa thành dụ, Thọ
ký, Hiện Bảo tháp, Tùng địa dũng xuất, Như Lai thọ lượng,
Phổ Môn, Phổ Hiền v.v... đều được dùng dẫn chứng cho
học thuyết của Ðại luận.
Cuối cùng, Ngài
viết: «Kinh Bát Nhã chưa phải là pháp rốt ráo giải thoát.
Duy có kinh Pháp Hoa thọ ký cho A la hán được thành Phật và
là pháp của các bậc đại Bồ tát hành trì, mới là rốt
ráo. Kinh này cũng như một vị đại lương y mới dám sử
dụng chất độc làm thuốc cứu người«.
2- Huệ Văn
(505-577)
Khi Ðại Trí
Ðộ luận và Trung Quán luận của Bồ tát Long Thọ
được truyền sang Trung Hoa, ngài Huệ Văn cảm nhận sâu sắc
tư tưởng của Bồ tát Long Thọ trong hai bộ luận này và
sử dụng nó để triển khai thành sở đắc của Ngài. Ngài
được coi là Tổ thứ hai của tông Pháp Hoa.
Về phần truyền
thừa từ Long Thọ đến Huệ Văn, cách nhau một khoảng thời
gian thật xa. Hai người sanh ở hai thời đại khác nhau. Ngài
Long Thọ ở vào thế kỷ I đầu kỷ nguyên, còn Huệ Văn ở
vào thế kỷ thứ 4. Vì vậy, không thể nói trực tiếp truyền
thừa được. Nhưng vì Huệ Văn tiếp thu tư tưởng của ngài
Long Thọ và lấy đó làm căn bản cho học phái mình nên đặt
Ngài là Tổ thứ hai của tông này.
Tiếp nhận tư
tưởng của Bồ tát Long Thọ, ngài Huệ Văn triển khai thành
«Tam Trí Tam Quán«. Nghĩa là trên bước đường tu, chuyển
nhận thức từ Thanh văn sang Duyên giác và Bồ tát, từng bước
đi lên, trí tuệ mở ra, dùng ba trí quán ba pháp, gọi là tam
trí tam quán.
Sử dụng trí
Thanh văn quán các pháp, thấy tất cả là Không. Tiến lên
trí quán sát của hàng Duyên giác, thấy các pháp tuy có, nhưng
không thực, gọi là quán giả. Và đến sau cùng là Trung đạo
theo trí của Bồ tát, quán thấy các pháp có mà cũng không
có.
3- Huệ Tư
(515-577)
Tổ thứ ba là
ngài Huệ Tư (515-577). Ngài học Pháp Hoa và thực tập thiền
quán với Tổ Huệ Văn. Trên bước đường hành đạo, Ngài
bị thuốc độc vì không nghe theo các phe phái chính trị. Nhưng
vì tu chứng pháp vô duyên đại từ bi tâm, Ngài vẫn an lành.
Ngài ẩn tu ở
núi Ðại Tô, thực hành ba pháp: Niệm Phật tam muội, Ban châu
tam muội và Pháp Hoa tam muội.
Ðời Ðông Ngụy
Võ Ðịnh thứ 6, năm 554, khi giảng kinh Bát Nhã tại
Hà Nam, Ngài lại bị bỏ thuốc độc hai lần. Và khi Ngài
đến chùa Quang Êẽp, Quang Châu, tỉnh Hà Nam, giảng Ðại
luận trong 50 ngày, người ta bỏ đói Ngài. Nhưng Ngài vẫn
tiếp tục giảng kinh được, chứng tỏ Ngài đã đắc Pháp
Hoa tam muội.
Sau đó, Ngài trở
về núi Ðại Tô, chú giải bộ Bát Nhaả và Pháp
Hoa và phát nguyện rằng: «Tôi nguyện ở lại thế giới
này duy trì bộ Bát Nhã và Pháp Hoa để độ chúng
sanh, cho đến khi nào Phật Di Lặc ra đời«.
Huệ Tư ngộ được
pháp Tam trí tam quán của Tổ Huệ Văn và triển khai thành
tư tưởng Nhứt tâm tam quán. Tu theo thứ bậc của Thanh văn,
Duyên giác, Bồ tát phát sanh ra ba trí. Nhưng khi đã sử dụng
được ba trí này thì theo Huệ Tư kiến giải, trong Bồ tát
quán pháp đã gồm đủ cả trí quán của Thanh văn và Duyên
giác. Ðứng ở vị trí Bồ tát nhìn xuống, thấy được giáo
nghĩa tam thừa thông suốt, Bồ tát hành đạo hoàn toàn tự
tại, không còn chướng ngại. Trong một niệm tâm (chơn tâm)
có đủ tam thừa giáo, hay đầy đủ các pháp, độ được
tất cả chúng sanh.
4- Trí Khải
(538-597)
Tổ thứ tư là
Trí Khải (538-597) thọ pháp với Huệ Tư ở núi Ðại Tô và
được truyền cho pháp tu quán theo kinh Pháp Hoa. Khi Tổ Huệ
Tư viên tịch, Ngài nhớ lại lời Huệ Tư dạy «Núi Thiên
Thai là chỗ của ông«, Ngài liền lên núi Thiên Thai (tỉnh
Triết Giang) ẩn tu trên đỉnh núi cao nhất tên Hoa Ðảnh Phong,
chuyên tu tập thiền quán trong 10 năm.
Năm Ngài 48 tuổi,
triều đình rước Ngài về giảng kinh và chính vua Tuyên đế
đảnh lễ Ngài ba lạy trước khi giảng kinh.
Lúc Ngài giảng
Pháp Hoa văn cú ở chùa Quang Trạch, Nam triều, thì ở phương
Bắc, Tùy Văn đế lên ngôi. Năm 588, thái tử là Tấn Vương
Quảng đánh Nam Kinh, tiêu diệt nhà Trần, thống nhất đất
nước và lên ngôi, lấy hiệu là Tùy Dạng đế. Ông tổ chức
Thiên Tăng hội, lập đàn tràng cầu nguyện quốc thái dân
an và thỉnh Ngài về chứng minh. Tấn Vương Quảng phát nguyện
ăn chay, xin Ngài truyền giới Bồ tát và phong tặng Ngài tước
hiệu là Trí Giả đại sư.
Ở Trung Hoa, từ
các thời đại trước cho đến thời ngài Pháp Vân, thì nặng
về phần giáo học, tức tư tưởng. Ðến thời ngài Huệ
Tư, ngả về chiều hướng sinh hoạt tâm linh, tức tu thiền.
Ðến ngài Trí Giả là người tổng hợp được cả hai phần:
giáo học và thiền quán. Ngài chủ trương thiền giáo song
tu.
Tiếp nhận tư
tưởng nhứt tâm tam quán do Huệ Tư Thiền sư truyền cho, Trí
Giả chuyển thành pháp tu Nhứt niệm tam thiên. Với pháp chứng
đắc Nhứt niệm tam thiên, trong một niệm tâm bao gồm cả
3000 thế giới, dung được tất cả hữu tình không chướng
ngại, dùng một pháp thuyết, nhưng mọi người ở trình độ
khác nhau đều tiếp thu như pháp dành riêng cho họ.
Từ pháp chân
thật tu chứng được là Nhứt niệm tam thiên, Ngài thuyết
pháp suốt 8 năm mà chỉ giảng có 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa
kinh, khai triển không biết bao nhiêu ý hay.
Tác phẩm của
Ngài chủ yếu là Pháp Hoa tam đại bộ gồm: Pháp
Hoa huyền nghĩa, Pháp Hoa văn cú và Ma ha chỉ quán.
Pháp Hoa tông được khai ra từ đó, nhưng thực sự tông Pháp
Hoa cũng chưa chính thức thành lập.
5- Quán Ðảnh
(561-632)
Phải đợi đến
khi Quán Ðảnh biên soạn tất cả bài giảng của ngài Trí
Giả, tông Pháp Hoa mới được chính thức thành. Ba tác phẩm
lớn của ngài Trí Giả là Pháp Hoa tam đại bộ cũng
do Quán Ðảnh tập thành. Quán Ðảnh được coi là Tổ thứ
năm của tông Pháp Hoa.
6- Trạm Nhiên
(717-782)
Tổ thứ sáu,
ngài Trạm Nhiên, là người phục hưng Pháp Hoa tông, vì bấy
giờ tông này đang suy yếu. Và từ Trạm Nhiên về sau, vẫn
còn tông Pháp Hoa, nhưng không có người nào xuất sắc, nên
không nổi tiếng như trước kia.
7- Tối Trừng
(767-822)
Cho đến khi Tối
Trừng (Saicho, tức Truyền Giáo đại sư, Dengyô) ở Nhật Bản
sang Trung Hoa cầu pháp với Trạm Nhiên. Trở về nước, ngài
Tối Trừng thành lập tông Thiên Thai trên núi Tỷ Duệ. Ngài
được coi là sơ Tổ của tông Pháp Hoa ở Nhật Bản.
Tuy ngài Tối Trừng
học Pháp Hoa với Trạm Nhiên và lập tông Thiên Thai, nhưng
Ngài lại chịu ảnh hưởng của Mật giáo. Vì thế, sau đó,
đệ tử của Ngài là Trí Chứng, Viên Nhân kế nghiệp tông
này, nhưng không thuần tu Pháp Hoa, nên chuyển sang Thiền và
Mật tông.
8- Nhật Liên
(1222-1282)
Từ đó kéo dài
mãi đến khi ngài Nhật Liên ra đời vào thế kỷ 12, tông
Pháp Hoa ở Nhật Bản mới được Ngài thành lập lại. Ngài
xây dựng Bổn môn Pháp Hoa, hành đạo đến nơi nào là dựng
cờ có chữ Diệu Pháp Liên Hoa kinh và niệm đề kinh này.
Ngài Nhật Liên được tôn danh là Bổn môn đại sư. Ngài
triển khai phần tiềm ẩn sâu xa của kinh Pháp Hoa, không
căn cứ trên 28 phẩm kinh, nhưng căn cứ trên tam đại bí pháp.
Theo Ngài, tam đại bí pháp gồm Bổn môn bổn tôn, Bổn môn
đề mục và Bổn môn giới đàn.
Bổn môn bổn
tôn chỉ cho vị giáo chủ được tôn thờ là Ðức Phật thường
trú vĩnh hằng, bất sanh bất diệt. Không phải Ðức Phật
Thích Ca mang thân hữu hạn sanh diệt.
Bổn môn đề
mục là 5 chữ Diệu Pháp Liên Hoa kinh. Chỉ thọ trì
5 chữ này là thấy được toàn bộ những gì Phật thuyết
và thấy đủ nhân hạnh quả đức của Phật mười phương.
Bổn môn giới
đàn là đại mạn trà la, tức tổng thể của vũ trụ. Ðây
là giới đàn vô tướng có Bổn Phật, không thể dùng mắt
thường thấy được. Chỉ dùng nhân duyên căn lành và tâm
thanh tịnh mới có thể thâm nhập thế giới bao la ấy và
làm bạn lữ với các Bồ tát đang trụ nơi đó.
Ðây là pháp tu
chứng, bề ngoài thấy đơn giản, nhưng hành trì mang lại
kết quả có sức thuyết phục lớn lao.
Thật vậy, ngày
nay, các hội đoàn Phật giáo phát xuất từ Nhật Liên tông
hay Pháp Hoa tông như: Risshio Kosei kai, Sokai Gakkai, Buksho Gonenkai,
mỗi hội này có từ 1 triệu đến 7, 8 triệu tín đồ, tổng
cộng tín đồ của riêng ba hội đoàn này đã chiếm hơn phân
nửa số tín đồ của Phật giáo Nhật Bản.
II. Triết lý
Phán giáo của
Pháp Hoa tông hay Thiên Thai tông là «Ngũ thời Bát giáo«. Thật
ra, cách phán giáo này chính là của ngài Trí Giả, chia một
đời thuyết pháp của Ðức Phật Thích Ca thành 5 thời.
1- Thời kỳ thứ
nhất là thời Hoa Nghiêm. Căn cứ theo kinh Pháp Hoa, phẩm
Phương tiện nói rằng Ðức Phật ngồi cội bồ đề 21 ngày
nói kinh Hoa Nghiêm. Ðây là pháp tu chứng của Phật nói về
sự giác ngộ của Ngài, chỉ có Bồ tát trụ trong đại thiền
định nghe được. Còn hàng thính chúng trên cuộc đời hoàn
toàn không hiểu nổi, kinh ví họ như người điếc, đui mù.
2- Thời kỳ thứ
hai là thời Lộc Uyển. Nói kinh Hoa Nghiêm, chúng Thanh
văn không nghe được, Phật mới rời Bồ đề đạo tràng,
đến Lộc Uyển nói pháp cho 5 anh em Kiều Trần Như. Từ đó,
suốt 12 năm, Ngài giảng 4 bộ kinh A Hàm. Thời kỳ này
cũng được gọi là thời dụ dẫn, nhằm giúp đệ tử tiến
lên giáo lý cao hơn.
3- Thời kỳ thứ
ba là thời Phương Ðẳng. Trong 8 năm, Phật giảng nói các
kinh thuộc quyền thừa, chuyển mạch từ Tiểu thừa sang Ðại
thừa giáo, gọi là kinh Phương Ðẳng. Trong thời này,
Ðức Phật thường khiển trách các vị La hán bị rơi vào
thiên kiến và Ngài thức tỉnh họ, cho họ thấy giá trị
của pháp Ðại thừa.
4- Thời kỳ thứ
tư là thời Bát Nhã. Ðức Phật nói kinh Ðại Bát Nhã phủ
nhận hoàn toàn mọi ý niệm phân biệt và chấp thủ. 22 năm
làm nghề hốt phân của gã cùng tử ngầm ví cho thời Bát
Nhã của Phật hướng dẫn chúng đệ tử dọn sạch tâm hoàn
toàn trống không, được thanh tịnh.
5- Thời kỳ thứ
năm là thời Pháp Hoa hay Niết Bàn. Ðến đây, quan niệm ba
thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát có thể đạt đến Thánh
quả chỉ là pháp phương tiện tạm thời đưa ra, để cuối
cùng cả ba thừa này đều hội nhập vào một thừa.
Nhân duyên Ðức
Phật xuất hiện ở thế gian này là cứu độ tất cả chúng
sanh và chỉ có kinh Pháp Hoa mới hoàn thành được nhân
duyên ấy. Vì vậy, Pháp Hoa là pháp rốt ráo của Phật, là
vua của các kinh.
Kinh Niết Bàn
được giảng vào thời này, nhưng chỉ là toát yếu lại những
gì Phật đã giảng trước kia.
Ðó là sự phân
chia giáo lý của Phật thành 5 thời. Nhưng trong 5 thời này,
giáo lý có sai biệt, nên lại chia ra hóa nghi tứ giáo và hóa
pháp tứ giáo, hợp lại thành Bát giáo.
Hóa Nghi Tứ Giáo
là bốn phương thức giáo hóa như sau:
1- Ðốn giáo
Kinh Hoa
Nghiêm thuộc Ðốn giáo, Phật nói thẳng sự giác ngộ
của Ngài, không cần dùng bất cứ phương tiện nào. Và người
nghe là các đại Bồ tát cũng chứng ngộ ngay tức khắc chân
lý mà Phật nói.
2- Tiệm giáo
Vì nói
thẳng chân lý như ở thời Hoa Nghiêm, thính chúng không thể
hiểu nổi, nên sau đó, Ðức Phật phải dùng tất cả phương
tiện để từ từ dẫn dắt chúng hội đi lần vào thế giới
tâm linh, tiến gần đến chân lý.
3- Bí mật giáo
Trong các
thời pháp của Ðức Phật giảng dạy, có những vị Bồ tát
tham dự. Nhưng bề ngoài thấy họ chỉ là cư sĩ hay hàng nhị
thừa bình thường. Tuy nhiên, chỉ có Ðức Phật nhận biết
được pháp tu «Nội bí ngoại hiện« của các vị Bồ tát,
nghĩa là Bồ tát hiện thân trên cuộc đời, đóng vai cư sĩ
hay xuất gia như mọi người khác, nhưng bên trong họ hàm chứa
Pháp thân Bồ tát.
Và Ðức Phật
đã dùng thần lực thuyết pháp bí mật cho Bồ tát. Với Pháp
thân Bồ tát, họ đã tiếp thu được bí mật pháp của Phật
truyền trao riêng cho họ, mà những người hiện diện trong
pháp hội, ở kế cận họ, cũng không hay biết được việc
Phật giáo hóa bằng bí mật pháp như vậy.
Thí dụ như trong
pháp hội, Ðức Phật đưa một cành hoa lên và ngài Ca Diếp
mỉm cười. Thế là Phật truyền pháp cho Ca Diếp. Chúng hội
chẳng nghe Phật nói gì và cũng không hiểu Phật muốn nói
gì. Ca Diếp cũng không nói gì, chỉ mỉm cười thôi. Sinh mệnh
trọng đại của Phật pháp được truyền trao cho Ca Diếp
một cách giản dị như vậy đó.
Và đến khi Ca
Diếp truyền pháp cho ngài A Nan, đưa cho A Nan cái y. A Nan hỏi
Ca Diếp: «Ngoài y ra, Phật còn dặn gì không?«. Ca Diếp chỉ
trả lời: «A Nan!«. Thế là A Nan nhận biết ngay ý của Ca
Diếp và đảnh lễ lui ra.
Thí dụ trên là
một trong muôn ngàn thí dụ của đạo, cho c húng ta hiểu được
thế nào là bí mật giáo. Về sau, bí mật pháp được triển
khai thành đà la ni, tức mật ngữ.
4- Bất định
giáo
Ðức Phật
thuyết pháp tùy người, tùy chỗ, tùy thời, Ngài nói pháp
khác nhau cho thích hợp. Pháp đó là phương tiện hay bất định,
nhằm mục tiêu làm người phát tâm, hướng về Vô thượng
Bồ đề. Kinh thường gọi là khai thị.
Giáo lý của Phật
ở khoảng giữa, tức ngoài thời Hoa Nghiêm ban đầu và Pháp
Hoa ở thời cuối ra, đều thuộc về bất định giáo.
Thời Pháp Hoa
không thuộc đốn, tiệm, bí mật hay bất định. Thời Hoa
Nghiêm gồm đốn giáo, bí mật giáo. Thời Lộc Uyển, Phương
Ðẳng và Bát Nhã gồm tiệm giáo, bí mật giáo và bất định
giáo.
Hóa Pháp Tứ Giáo
là bản chất của giáo lý, gồm có Tạng giáo, Thông giáo,
Biệt giáo và Viên giáo.
1- Tạng giáo:
là A Hàm và tất cả giáo lý Tiểu thừa có trong văn học
Tỳ bà sa, phần nhiều chủ yếu dạy cho con người những
gì gần gũi, dễ hiểu, nắm bắt được.
2- Thông giáo:
chung cho cả ba thừa và là giáo lý sơ cơ của Ðại thừa.
3- Biệt giáo:thuần
Ðại thừa và dành riêng cho Bồ tát. Trong khi Tạng giáo và
Thông giáo chỉ giảng về Không phiến diện (thiên không),
thì Biệt giáo giảng về Trung đạo. Do đó, nó riêng biệt.
4- Viên giáo:
«Viên« nghĩa là hoàn toàn, viên mãn. Biệt giáo giảng về
Trung đạo độc lập, riêng biệt. Viên giáo giảng về Trung
đạo viên thông. Do đó, nó không phiến diện, nhưng chứa
đựng tất cả pháp, thường được diễn tả là «Nhất tức
nhất thiết và Nhất thiết tức nhất«.
Nếu chúng ta xét
5 giai đoạn của giáo lý này trong tương quan với bốn bản
chất của giáo lý (Hóa pháp tứ giáo), sẽ có kết quả sau:
1- Thời Hoa Nghiêm
thuộc Viên giáo vì dạy Ðại thừa, nhưng chính yếu dẫn
đến Nhứt Phật thừa, thành Phật quả.
2- Thời Lộc Uyển
thuộc Tạng giáo, phần nhiều giảng dạy những gì bình thường
mà con người có thể nắm bắt được.
3- Thời Phương
Ðẳng thông cả tứ giáo, nhưng vẫn còn tương đối.
4- Thời Bát Nhã
chủ yếu giảng Biệt giáo, triển khai pháp Không. Nhưng pháp
Không này chưa có phần diệu hữu. Vì vậy, Bát Nhã không
thể coi là Viên giáo và còn liên hệ với Thông giáo. Vì Bát
Nhã thuộc phần chuyển mạch từ Tiểu thừa sang Ðại thừa,
nói với Thanh văn, phần nhiều triển khai pháp Không của nhị
thừa, chỉ nói đến chân đế, không nói tục đế.
5- Thời Pháp Hoa
mới là thuần Viên giáo và tối thượng, vì nhân duyên xuất
hiện của Ðức Phật trên cuộc đời này được thể hiện
trọn vẹn đầy đủ ở thời này. Và tất cả giáo lý của
Phật dạy sau cùng đều quy tụ vào Pháp Hoa.
Kinh Niết Bàn
tóm tắt những gì Phật dạy trong suốt cuộc đời Ngài, tam
thừa và tứ giáo đều được xóa bỏ, quy tụ tam thừa về
nhứt thừa.
Tông Pháp Hoa chỉ
công nhận duy nhất có một thừa cứu độ tất cả chúng
sanh ra khỏi sanh tử. Vì phương tiện thiện xảo mà Ðức
Phật giảng dạy ba thừa Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Nhưng
cứu cánh là đưa ba thừa này về một thừa chân thật là
Phật thừa.
Ngoài ra, tông
Pháp Hoa không chủ xướng thuyết nhị đế giống như một
số kinh Ðại thừa. Thuyết nhị đế phân ra hai chân lý: thế
tục và tối thượng. Nhưng Pháp Hoa tông đề ra tam đế (ba
chân lý): Không đế, Giả đế và Trung đế. Cả ba chân lý
ấy luôn luôn hợp nhất và dung hòa, nên có thể nói ba trong
một, một trong ba.
Nghĩa là bất
cứ sự hiện hữu nào cũng là giả tạm, vì các pháp đều
tùy thuộc vào nhân quả. Chúng chỉ hiện hữu bằng giả danh.
Vì vậy, không có bất cứ hiện hữu nào thường hằng, nhưng
phải công nhận rằng có nó. Mọi sự đều là Không và giả
danh. Ðó là trung đạo, là tuyệt đối.
Pháp Hoa tông cũng
đưa ra lý thuyết về thật tướng của các pháp hay còn gọi
là thế gian tướng thường trụ. Chúng ta không thể nhìn thấy
được trực tiếp thật tướng của các pháp. Các hiện tượng
luôn luôn biến chuyển và thay đổi, tính chất linh hoạt này
chính là thật tướng của các pháp mà thuật ngữ thường
gọi là như như. Thí dụ cho dễ hiểu, nước tĩnh lặng và
sóng dữ dội, cả hai đều là biểu hiện của nước. Cái
được biểu hiện ra bên ngoài không gì khác hơn là chính
nó hay thật tướng của nó.
Nói về vũ trụ
quan, theo Pháp Hoa tông, toàn thể vũ trụ là sự tập hợp
của 3.000 thế giới. 3.000 không phải chỉ cho tính chất bao
la hay bản thể, nhưng để nói lên sự tương dung của tất
cả các pháp và cứu cánh đồng nhất thể của toàn vũ trụ.
Pháp Hoa tông kiến
giải thế giới hữu tình chia thành 10 cõi: 4 cõi Thánh (Phật
giới, Bồ tát giới, Duyên giác giới và Thanh văn giới) và
6 cõi phàm (Thiên giới, A tu la giới, Nhân giới, Ngạ quỷ
giới, Súc sanh giới, Ðịa ngục giới).
Mười thế giới
này tương dung tương nhiếp lẫn nhau, mỗi thế giới tự bao
hàm 9 thế giới còn lại.Ví dụ, nhân giới có đủ cả 9
thế giới, từ Phật giới cho đến cõi địa ngục. Mỗi một
thế giới bao hàm 10 thế giới, được nhân lên thành 100 thế
giới.
Và mỗi cảnh
giới có 10 trạng thái khác nhau gọi là thập như thị: tướng,
tánh, thể, lực, tác, nhân, duyên, quả, báo và bản mạt cứu
cánh. Mười như thị này có đủ ở trong 100 thế giới, nên
trở thành 10 x 100 = 1.000.
Lại thêm mỗi
thế giới có 3 phần: chúng sanh, quốc độ và ngũ ấm được
tách ra từ chúng sanh giới (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
Do đó, có 1.000 x 3 = 3.000 thế giới. Ðó là vũ trụ của hữu
tình và vô tình, tức toàn thể sự sống của thế giới.
Theo Pháp Hoa tông,
trong một sát na tâm đều có đủ 3.000 thế giới. Với quan
niệm thế giới tiềm tàng trong một khoảnh khắc của tư
tưởng (sát na tâm), đó là triết học về bản thể nội
tại, theo đó thì hiện tượng và tác động của tâm là một.
Pháp Hoa tông cũng
đưa ra lý thuyết đặc biệt về ba thân của Phật. Bất cứ
Phật nào viên mãn quả vị toàn giác đều có 3 thân: Pháp
thân, Báo thân và sanh thân.
Pháp thân là lý
tánh bất sanh bất diệt của đấng toàn giác. Báo thân là
phước đức vô lượng và trí tuệ vô cùng của đấng toàn
giác. Và sanh thân là thân hữu hạn xuất hiện trên cuộc
đời để dẫn dắt chúng sanh về bến giác./.
Câu hỏi hướng
dẫn ôn tập
1- Trình bày
sơ lược lịch sử của Pháp Hoa tông.
2- Triết lý
cơ bản của Pháp Hoa tông là gì?