x
| x |
|
|
|
Phần
I - Tam tạng thánh điển Phật giáo
|
|
|
|
|
|
Phần
II - Các vấn đề Phật học
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Phần
III - Bài đọc thêm
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| x |
|
Ban
Hoằng pháp Trung ương, GHPGVN
PHẬT
HỌC CƠ BẢN
Tập
Bốn
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002) - Nguyệt san Giác Ngộ
Phần I
- Bài 2
GIỚI
THIỆU TỔNG QUÁT
HỆ
THỐNG KINH ÐIỂN HÁN TẠNG
Ðào Nguyên
DẪN NHẬP
Phật giáo phát xuất từ Ấn Ðộ,
về sau được truyền bá sang nhiều nước quanh khu vực qua
hai ngả: Nam, Bắc. Các cụm từ: Phật giáo Nam phương, Phật
giáo Nam truyền, Phật giáo Bắc phương, Phật giáo Bắc truyền
đã được hình thành và tồn tại dựa trên yếu tố địa
lý của sự truyền bá ấy. Kinh điển theo hệ Nam truyền được
ghi chép bằng tiếng Pàli. Kinh điển theo hệ Bắc truyền được
ghi chép bằng tiếng Phạn. Từ chữ Phạn, kinh điển Phật
giáo lần lượt được phiên dịch sang chữ Hán và chữ Tây
Tạng, hình thành và hoàn thành Ðại tạng kinh chữ Hán (Hán
tạng), Ðại tạng kinh chữ Tây Tạng (Tạng tạng) là 2 Ðại
tạng kinh tiêu biểu của Phật giáo Bắc truyền. Trong bài
viết này, chúng tôi xin giới thiệu tổng quát về hệ thống
kinh điển thuộc Hán tạng của Phật giáo Bắc truyền.
Phật giáo, nhất là Phật giáo trên
con đường truyền bá và hội nhập, đã luôn nói đến cùng
cố gắng thực hiện hai yếu tố: khế lý và khế cơ. Khế
lý là nhấn mạnh về tính tư tưởng. Khế cơ là nhấn mạnh
về tính lịch sử. Nhờ khế lý, tư tưởng luôn phong phú,
sâu sắc, mà mình vẫn là mình. Do khế cơ nên mọi hình thái
sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt luôn đa dạng, gắn bó
mà không hề mất gốc. Giáo sư D.T.Suzuki (1870-1966), nhà Phật
học người Nhật nỗi tiếng, trong tác phẩm "Nghiên cứu kinh
Lăng Già" (Studies in the Lankavatara Sutra), nơi phần bàn về "Tầm
cỡ của Phật giáo Ðại thừa" đã viết: "Chẳng hạn, kinh
Pháp Hoa đánh dấu thời kỳ lịch sử Phật giáo khi Ðức
Thích Ca Mâu Ni không còn được xem là một nhân vật lịch
sử phải chịu nhận số phận của một chúng sinh giả tạm,
vì Ngài không còn là Ðức Phật mang tính chất người, mà
chính là một vị sống bằng sự vĩnh cửu đối với lợi
ích của mọi chúng sinh" [1]. Hòa thượng Trí Quang, trong bản
dịch kinh Pháp Hoa do mình thực hiện, phần "Ghi nhận mở đầu",
nhân bàn đến câu kệ nơi phẩm Thọ lượng, đã viết: "Chỗ
này nói gì? Nói Phật không mất đi đâu cả. Phật ở bên
ta. Ta không thấy Phật vì cái thấy của ta thấy có sống
chết mà Phật thì bất sinh bất diệt" [2].
Những kiến giải như thế đã là
những khơi gợi vô cùng quý giá giúp chúng ta trong tiến trình
tiếp cận với kinh điển của Phật giáo Bắc truyền. Và
chúng ta sẽ thấy, cũng như hầu hết các nhà nghiên cứu Phật
học đã khẳng định, Phật giáo Bắc truyền, trong hơn 2000
năm phát triển và tồn tại, đã có những nỗ lực tuyệt
vời để thể hiện những thành tựu về tính chất khế lý
- khế cơ của mình. Chính từ ý nghĩa đó, mà ở đây bài
viết tuy mang tính giáo khoa, chúng tôi vẫn luôn chú ý đến
cả hai khía cạnh tư tưởng và lịch sử.
A.
Tóm lược về tiến trình dịch thuật kinh điển Hán tạng:
Ðạo Phật được truyền vào Trung
Quốc khá sớm. Nơi đây, với vùng đất rộng lớn, dân cư
đông đúc và một nền văn hóa có từ lâu đời, Phật giáo
đã gặp được một số điều kiện thuận lợi để phát
huy cả về chiều rộng, chiều sâu. Kinh điển của Phật giáo
bằng tiếng Phạn - trong giai đoạn đầu có cả những bản
kinh bằng chữ của một số nước Tây Vực - đã được đưa
vào Trung Quốc qua nhiều ngả và bằng nhiều cách, đồng thời
phong trào dịch thuật kinh điển ấy đã phát triển rộng
khắp do sự kết hợp giữa các vị sư người Ấn Ðộ, Tây
Vực tới truyền đạo với các vị đại sư và cư sĩ ưu
tú của Phật giáo Trung Quốc - trong số này, nhiều vị đã
từng lặn lội sang tận Tây Trúc để cầu học, thỉnh kinh.
Toàn bộ quá trình dịch thuật và hỗ trợ cho sự dịch thuật
ấy đã được thực hiện liên tục, đồng bộ, trải qua
hàng mấy trăm năm, dẫn tới việc hình thành Ðại tạng kinh
chữ Hán đầu tiên vào năm 983, đầu đời Triệu Tống (960-1276).
Thêm vào đấy là những công trình chú giải, nghiên cứu,
soạn thuật, giảng luận v.v... có giá trị của các vị đại
sư và học giả xuất sắc của Phật giáo Trung Quốc, tất
cả đã tạo cho Ðại tạng kinh chữ Hán một sự phong phú,
xứng đáng là tiêu biểu nhất cho mảng kinh điển của Phật
giáo Bắc truyền.
Ngày nay, người học Phật, trong
mọi cố gắng tự thân để tiếp cận với hệ thống kinh
điển Bắc truyền, không thể không có những hiểu biết nhất
định về tiến trình dịch thuật ấy.
I. Mấy điểm
tổng quát:
Có thể ghi nhận 3 điểm tổng quát
như sau:
1. Tính chất dung hợp, mở rộng:
Về đặc điểm tổng quát này, có thể bàn qua hai khía cạnh:
đối ngoại và đối nội.
a. Về đối ngoại: "Phải tạo được
những dung hợp bước đầu đối với một số bản sắc văn
hóa nơi dân tộc Trung Hoa". Vấn đề này chắc chắn là đã
được đặt ra cho các nhà truyền đạo và dịch thuật thời
bấy giờ. Ðây là ý kiến của học giả Nguyễn Hiến Lê
trong sách "Sử Trung Quốc": "Có điều đáng để ý là đạo
Phật, khi mới vào Trung Quốc thì các tín đồ Ðạo giáo đều
thấy ngay nó hợp với họ; mà các nhà sư cũng thấy các tín
đồ Ðạo giáo như là anh em của mình... Cả hai tôn giáo đó
(Lão và Phật) có những điểm giống nhau: thờ phụng, trầm
tư, luyện hơi thở, kiêng một số thức ăn..., nhất là có
truyền thuyết cho Lão Tử về già qua phương Tây, mà đạo
Phật cũng ở phương Tây, cho nên tín đồ Ðạo giáo cho rằng
Phật với Lão là một. Do đó, những người Hán đầu tiên
theo đạo Phật phần nhiều là đã theo Ðạo giáo, và những
nhà sư phương Tây qua muốn dịch kinh Phật, đã dùng ngay một
số từ ngữ trong Ðạo Ðức kinh... [3].
Thêm nữa, theo Ðại tạng kinh Ðại
Chính tân tu (ÐTKÐCTT), chúng ta có một số bản kinh được
dịch vào giai đoạn đầu, đã dùng những khái niệm mang đậm
ảnh hưởng của Nho giáo để giải thích về 5 Giới của
nhà Phật. Chẳng hạn, kinh số 76, ÐTKÐCTT/tập I, do cư sĩ
Chi Khiêm dịch:
5 Giới là:
- Thủ nhân bất sát (Giữ
trọn lòng nhân, không giết hại sinh mạng);
- Tri túc bất đạo (Biết đủ
không trộm cắp);
- Trinh khiết bất dâm (Trinh khiết,
không dâm dật);
- Chấp tín bất khi (Giữ lấy điều
tín nghĩa, không lừa dối);
- Tận hiếu bất túy (Dốc lòng
hiếu thuận, không rượu chè say sưa) [4].
Hoặc kinh số 687, ÐTKÐCTT tập 16,
(mất tên người dịch), 5 giới gồm:
- Nhân trắc bất sát (Nhân
từ, thương người, vật, nên không sát sinh);
- Thanh nhượng bất đạo (Trong
lành, khiêm cung, không trộm cắp);
- Trinh khiết bất dâm (Trinh khiết,
không dâm dật);
- Thủ tín bất khi (Giữ lấy điều
tín nghĩa, không lừa dối);
- Hiếu thuận bất túy (Hết lòng
hiếu thảo, không say sưa) [5].
b. Về đối nội: Ðối với Phật
giáo Ấn Ðộ và vùng Tây Vực, nhất là các bậc lãnh đạo
giàu tâm huyết, các vị danh tăng đã chọn con đường hoằng
dương chánh pháp làm sự nghiệp, thì công việc đem Phật
giáo vào miền Ðông độ, vào đất Trung Hoa quả là một sứ
mạng. Chính vì thế mà các nhà sư truyền đạo, dịch thuật,
trong thời kỳ đầu cũng như mãi về sau này, đã tùy theo
sở học và chỗ tâm đắc của mình, thuận theo hoàn cảnh
và sự hỗ trợ thích hợp, đều dốc hết tâm lực để dịch
thuật, truyền bá, không có sự phân biệt, cục bộ. Tất
nhiên, vẫn có những quan điểm bất đồng, những kiến giải
không giống nhau, nhưng đấy đều là chuyện thứ yếu; cái
chính, cái trọng tâm là sự nghiệp hoằng pháp luôn được
đặt ở hàng đầu. Ðấy là lý do chính để cắt nghĩa tính
chất dung hợp, mở rộng trong hướng dịch thuật, dẫn tới
việc khẳng định sự phong phú trong Hán tạng. Có thể tham
khảo ý kiến của học giả Nguyễn Duy Cần, trong sách Phật
học tinh hoa, phần bàn về "Kinh điển Phật giáo": "Các nhà
nghiên cứu Phật học thường hay chia kinh điển ra làm hai
phần đặc biệt là Nam tông và Bắc tông. Tuy hai bộ phận
ấy chưa hề có sự chia rẽ hay chống đối nhau, nhưng riêng
về phương diện giáo lý cũng như về lối nhận thức thì
hẳn có nhiều điểm khác nhau... Ngày nay, khi đặt vấn đề
tìm hiểu coi hệ thống kinh điển nào có trước, Pàli hay
Sanskrit, và hệ thống kinh điển nào còn giữ đúng tinh thần
Phật giáo, thật khó mà quyết đoán được. Vậy, muốn tìm
hiểu Phật giáo, không thể dừng ở bộ phận nào, mà phải
kiêm cả hai bộ phận (Nam tông, Bắc tông) mới được. Chúng
ta cũng cần phải lưu ý về hai điểm này trong khi nghiên cứu
về kinh điển Phật giáo:
* Hệ thống kinh điển Bắc
tông rất dồi dào, phong phú hơn hệ thống Nam tông nhiều,
cả về kinh, luận.
* Kinh điển Nam tông không hề thấy
có lẫn lộn kinh điển Bắc tông, trái lại trong kinh điển
Bắc tông thấy rất nhiều kinh điển Nam tông... [6].
2. Tính chất đa dạng: Ðây là
hệ luận của đặc điểm kể trên. Với một địa bàn hoạt
động hết sức rộng lớn, mà các phương tiện in ấn, truyền
đạt còn hạn chế, nên trong cùng một thời gian, một giai
đoạn, một bản kinh chữ Phạn cùng được nhiều người
dịch. Hơn nữa, trong tinh thần cầu tiến, cầu toàn, người
đi sau cần bỗ sung, hỗ trợ cho người đi trước, nên có
thể một bản kinh đã được dịch rồi vẫn được dịch
lại v.v... Tất cả đã dẫn tới tính chất đa dạng nơi kinh
điển của Hán tạng. Hầu hết các bộ kinh tiêu biểu của
Phật giáo Bắc truyền như Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Lăng Già, Pháp
Hoa, Duy Ma, Niết Bàn, v.v... mỗi bộ đều có nhiều bản Hán
dịch. Mỗi bản Hán dịch đều là những cố gắng tột bực
của người dịch, mang đậm dấu ấn về ngôn từ, tư duy
của thời đại, lại mở ra cho nhà nghiên cứu đi sau nhiều
phát hiện, soi sáng mới. Xin nêu dẫn thêm trường hợp một
bản kinh ngắn, có mặt trong cả điển tịch Nam truyền và
Bắc truyền. Ðó là kinh Thiện Sinh, còn gọi là kinh Thiện
Sinh Tử, kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ.
a. Về kinh tạng của Phật giáo
Nam truyền, kinh Thiện Sinh được ghi lại trong Trường Bộ
kinh (Digha-Nikaya), kinh số 31, có tên là Singalovàda Suttanta (kinh
Giáo Thọ Thi Ca La Việt) [7].
b. Về kinh tạng thuộc Hán tạng
thì kinh Thiện Sinh hiện còn 4 bản Hán dịch, kể theo thứ
tự thời gian dịch thuật như sau:
- Kinh Thi Ca La Việt Lục
Phương Lễ: 1 quyển, do Ðại sư An Thế Cao dịch vào đời
Hậu Hán (25-220) [8], thời điểm dịch là vào khoảng 148-170.
- Kinh Phật Thuyết Thiện Sinh Tử:
1 quyển, do Sa môn Chi Pháp Ðộ dịch vào thời Tây Tấn (265-317)
[9], thời điểm dịch là vào khoảng năm 301.
- Kinh Thiện Sinh trong kinh Trung A
Hàm, quyển thứ 33, kinh số 135 [10] do Ðại sư Cù Ðàm Tăng
Già Ðề Bà dịch vào đời Ðông Tấn (317-419) thời điểm
dịch là vào khoảng năm 397.
- Kinh Thiện Sinh trong kinh Trường
A Hàm, quyển thứ 11, kinh số 16 [11] do hai Ðại sư Phật Ðà
Da Xá và Trúc Phật Niệm dịch vào đời Hậu Tần (384-417),
thời điểm dịch là vào khoảng năm 408.
3. Tính chất kế thừa và phát huy:
Cũng là những chi tiết trong tinh thần khế lý - khế cơ vốn
có, kinh điển đã được dịch ra chữ Hán cần có sự trợ
lực để dễ dàng và thuận tiện hơn trong quá trình nghiên
cứu, quảng diễn, truyền bá, phỗ cập. Ðó là công việc
chú thích, sớ giải, do các đại sư thuộc vào hàng kiệt
xuất của Phật học Trung Hoa đảm trách và chúng ta có thể
nói đến một ngành "Sớ giải học" vô cùng phong phú trong
Hán tạng. Ngoại trừ một vài mặt hạn chế do yếu tố thời
đại, yếu tố lịch sử, nhìn chung, trên nền tảng là tính
chất kế thừa và phát huy, mỗi bản sớ giải về kinh dù
ngắn, dù dài đều là những công trình nghiên cứu nghiêm
túc, thể hiện mọi nỗ lực của người viết nhằm phát
hiện, khám phá, soi sáng, lý giải, giúp người đọc tiếp
cận bộ kinh qua nhiều góc độ, không chỉ lĩnh hội ở tầng
hiển ngôn mà còn vươn tới tầng vô ngôn thăm thẳm. Chính
từ những chú giải, những phát hiện ấy mà nhiều tông phái
Phật giáo đã được hình thành trong nỗ lực kế thừa cùng
phát huy chánh pháp. Và với sự xuất hiện của 10 tông phái
Phật giáo thì rõ ràng là tư tưởng của Phật học Trung Hoa
nói riêng, của Phật giáo Bắc truyền nói chung, đã đạt
tới mức toàn thịnh, viên mãn. Giáo sư Tưởng Duy Kiều (1872-?)
trong tác phẩm "Ðại cương triết học Phật giáo", phần bàn
về "Các giáo phái Phật giáo", đã khẳng định: "Phật giáo
tuy xuất xứ tại Ấn Ðộ, nhưng các giáo phái được mở
mang rực rỡ đặc biệt và sự nghiên cứu, tổ chức có hệ
thống, chúng ta thấy chỉ có nước Trung Hoa" [12]. Xin nêu dẫn
một chi tiết thuộc tông Hoa Nghiêm. Ðại sư Pháp Thuận (Ðồ
Thuận, 557-640), vị Tổ thứ nhất của tông Hoa Nghiêm, đã
dựa trên bộ kinh ấy để lập ra 3 pháp quán về Pháp giới
là Chân không quán, Lý sự vô ngại quán và Chu biến hàm dung
quán [13]. Từ Chu biến hàm dung quán, Ðại sư lại chia ra làm
10 môn, nhấn mạnh về tính chất dung thông vô ngại của lý,
sự. Từ 10 môn này, vị Tổ thứ hai của tông Hoa Nghiêm là
Ðại sư Trí Nghiễm (còn gọi là Tôn giả Vân Hoa, 602-668)
đã lập thành 10 Huyền môn (còn gọi là 10 Huyền nghĩa duyên
khởi), rồi được Ðại sư Pháp Tạng, tức Quốc sư Hiền
Thủ (643-712) vị Tổ thứ ba, người được D.T. Suzuki đánh
giá là một trong số các học giả xuất sắc nhất của Phật
giáo Trung Hoa [14], bỗ sung để hoàn thành "Tân thập Huyền
môn", là một phát hiện, một lý giải sáng giá nhất trong
sứ mạng kế thừa và phát huy giáo lý Duyên khởi [15].
II. Thời kỳ
mở đầu:
Bước đầu bao giờ cũng khó khăn
nên luôn trân trọng đối với những đóng góp trong thời
kỳ này. Ba gương mặt dịch thuật đáng chú ý nhất của
thời kỳ mở đầu là Ðại sư An Thế Cao (thế kỷ II), Ðại
sư Chi Lâu Ca Sấm (147-?) và cư sĩ Chi Khiêm (thế kỷ III).
1. Ðại sư An Thế Cao: Người
nước An Tức, tên là Thanh, tự Thế Cao, bác học đa văn,
là vương tử nhưng không nối ngôi cha mà quy ngưỡng Phật,
học thông về A tỳ đàm và Thiền, có mặt ở Trung Hoa trong
khoảng 148-170 (đời Ðông Hán), đóng góp nhiều công sức
vào buỗi đầu của quá trình dịch thuật kinh điển Hán tạng.
Hầu hết các bản Hán dịch của Ðại sư An Thế Cao đều
là những bản kinh ngắn, thuộc hệ A Hàm (như các kinh mang
số 13, 14, 16, 31, 32, 36, 48 v.v... [16] và Thiền (như các kinh:
số 602: Phật thuyết Ðại An Ban Thủ Ý kinh. số 603: Ấm Trì
Nhập kinh. số 604: Phật Thuyết Thiền Hành Tam Thập Thất
Phẩm kinh. số 605: Thiền Hành Pháp Tưởng kinh... [17]. Thành
tựu về dịch thuật của Ðại sư tạo được âm vang đáng
kể đối với hậu thế là bản dịch kinh Bát Ðại Nhân Giác
(số 779: ÐTKÐCTT, tập 17, tr.715B-715C). kinh Bát Ðại Nhân Giác
được xem là sự quảng diễn về một số điểm đã được
nêu ra trong kinh Trường A Hàm [18]. Tuy chỉ là một bản kinh
rất ngắn, nhưng đã hàm chứa những đề xuất thiết thực,
sâu sắc đối với người tu Phật, nên từ lâu (ở Việt
Nam) kinh ấy đã được dùng làm tài liệu giáo khoa giảng
dạy cho các lớp Phật học sơ cấp. Cụm từ "Duy tuệ thị
nghiệp" vốn xuất xứ từ kinh Bát Ðại Nhân Giác [19].
2. Ðại sư Chi Lâu Ca Sấm (147-?):
Chi Lâu Ca Sấm (Lokasema) còn gọi là Chi Sấm, người nước
Ðại Nhục Chi, học rộng, thông đạt kinh tạng, vào những
năm cuối đời vua Hoàng đế nhà Ðông Hán, Ðại sư đến
kinh đô Lạc Dương, từ 178-189 tham gia vào công việc dịch
kinh với những đóng góp thật lớn lao. Các kinh do Ðại sư
dịch gồm:
a. Thuộc hệ Bản Duyên:
số 204: Tạp Thí Dụ kinh, 1 quyển [20]
b. Thuộc hệ Bát Nhã: số 224: Ðạo
Hành Bát Nhã kinh, 10 quyển [21]
c. Thuộc hệ Hoa Nghiêm: số 280:
Phật thuyết Ðâu Sa kinh, 1 quyển [22]
d. Thuộc hệ Bảo Tích:
- số 313: A Súc Phật Quốc
kinh, 2 quyển
- số 350: Phật thuyết Di Nhật
Ma Ni Bảo kinh,1 quyển... [23].
Trong số này, đáng chú ý hơn hết
là bản dịch kinh Ðại Hành Bát Nhã (10 quyển), được xem
là bản Hán dịch đầu tiên về một phần chủ yếu của
kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða. (Kinh Ðạo Hành Bát Nhã tương
đương với hội thứ 4, gồm 18 quyển, từ quyển 538-555 của
kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða gồm 600 quyển do Pháp sư Huyền
Tráng, 602-664, dịch).
Ngoài ra, với 2 bản dịch kinh Phật
Thuyết Ban Chu Tam Muội (số 417, 1 quyển) và Ban Chu Tam Muội
kinh (số 418, 3 quyển) [24], Ðại sư Chi Lâu Ca Sấm được
xem là người đầu tiên phỗ biến tư tưởng niệm Phật,
thế giới Tây phương với Phật A Di Ðà, làm cơ sở cho tín
ngưỡng Tịnh độ sau này [25].
3. Cư sĩ Chi Khiêm (thế kỷ III):
Tự là Cung Minh, gốc người nước Ðại Nhục Chi, theo ông
bà nhập cư vào Trung Quốc, sau lánh nạn nên dời xuống phương
Nam (Ðông Ngô), từng theo học với Ðại sư Chi Lượng (đệ
tử của Chi Lâu Ca Sấm), là người học rộng, đọc nhiều,
được người đương thời xưng tụng là "Trí nang" (túi chứa
trí tuệ). Vãn niên ẩn tu nơi núi sâu, thọ khoảng 60 tuỗi.
Sự nghiệp dịch thuật của cư sĩ Chi Khiêm kéo dài hơn 30
năm, từ năm 222-253, với những thành tựu đáng kể:
a. Thuộc hệ A Hàm: Các kinh
mang số hiệu 20, 21, 27, 54, 59, 67, 68 v.v... [26]
b. Thuộc hệ Bản Duyên: số 153:
Bồ Tát Bản Duyên kinh, 3 quyển; số 185: Phật Thuyết Thái
tử Thụy Ứng Bản khởi kinh, 2 quyển [27]; số 200: Soạn Tập
Bách Duyên kinh, 10 quyển [28]...
c. Thuộc hệ Bát Nhã: số 225: Ðại
Minh Ðộ kinh, 6 quyển [29].
d. Thuộc hệ Hoa Nghiêm: số 281:
Phật Thuyết Bồ tát Bản Nghiệp kinh, 1 quyển [30]...
Ngoài ra, cư sĩ Chi Khiêm còn là dịch
giả các bản kinh như: số 474: Phật Thuyết Duy Ma Cật kinh,
2 quyển [31]. số 710: Phật Thuyết Bột kinh sao, 1 quyển [32]...
Cư sĩ Chi Khiêm được xem là vị
dịch giả thành công nhất trong thời kỳ đầu, xét về mặt
ngôn từ, cách thế diễn đạt. Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, nhân
giới thiệu một kinh trong bộ "Soạn Tập Bách Duyên kinh",
đã nhận xét: "Soạn Tập Bách Duyên kinh do Chi Khiêm dịch
khoảng giữa những năm 220-252 tại Kiến Nghiệp, và ai cũng
biết Chi Khiêm là một dịch giả thiên trọng về văn vẻ
và bóng gió, một sự kiện mà ta chỉ cần đọc bản Hán
dịch dẫn trên (Bách tử đồng sản duyên: Chuyện 100 người
con cùng sinh) cũng đủ để chứng minh. Lời văn dịch lưu
loát, hoa mỹ đến nội ngay cả bản Việt dịch ngày nay của
chúng tôi cũng không cần phải thêm thắt gì nhiều để "hiện
đại hóa" [33].
Ðiều nhận xét trên lại càng thấy
rõ hơn nữa nơi bản dịch kinh "Phật Thuyết Bột kinh sao"
[34]. Ðây là một bản kinh ngắn nhưng thuyết minh một cách
phong phú, sinh động về tính chất xử thế và trị nước,
nên hàm chứa những giá trị lớn về nhân sinh theo quan điểm
của Phật giáo. Người dịch - cư sĩ Chi Khiêm - với lối
diễn đạt lưu loát, uyển chuyển, bố cục hài hòa, chuyển
mạch hợp lý, đối thoại gãy gọn, hàm súc, tất cả đã
khiến cho người đọc bản kinh như đọc một truyện ngắn
văn học giá trị. "Kinh Phật Thuyết Bột kinh sao" từ lâu
đã được Hòa thượng Hành Trụ dịch sang tiếng Việt với
nhan đề "Kinh Hiền Nhân" và được dùng làm tài liệu giảng
dạy cho các lớp Phật học sơ cấp.
III. Ba dấu
mốc tiêu biểu:
Ba dấu mốc tiêu biểu trong quá
trình dịch thuật và hoàn thành Ðại tạng kinh chữ Hán nói
chung, kinh điển Hán tạng nói riêng, là Pháp sư Trúc Pháp
Hộ của hậu bán thế kỷ III, đầu thế kỷ IV, Pháp sư Cưu
Ma La Thập cuối thế kỷ IV đầu thế kỷ V và Pháp sư Huyền
Tráng của thế kỷ VII TL.
1. Pháp sư Trúc Pháp Hộ (226-304):
Trúc Pháp Hộ còn gọi là Chi Pháp Hộ, dịch âm theo tiếng
Phạn là Ðàm Ma La Sát (Dharmaraksa), gốc người Ðại Nhục
Chi, nhưng tiền nhân đã định cư ở Ðôn Hoàng. Xuất gia
tu Phật từ lúc 8 tuỗi, theo thầy là Trúc Cao Tọa. Bản tính
thông minh, hiếu học, có chí lớn, đọc rộng, xem nhiều,
từng đi khắp 36 nước vùng Tây Vực để học hỏi và thu
thập kinh điển. Sự nghiệp dịch thuật bắt đầu từ năm
226 kéo dài đến cuối đời, luôn tận tụy với công việc,
nên đã đạt được nhiều thành tựu lớn lao: "Kinh điển
lưu hành rộng rãi tại Trung Hoa, đầu tiên là nhờ ngài" [35].
Theo mục lục của ÐTKÐCTT thì số lượng dịch phẩm của
Pháp sư Trúc Pháp Hộ hiện còn là 95 tên kinh, 208 cuốn bao
gồm hầu hết các hệ, từ A Hàm, Bản Duyên, Bát Nhã đến
Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn, Ðại Tập, Kinh Tập,
Mật giáo, và ở một số hệ, ngài là vị dịch giả mở
đầu, đặt nền tảng. Chẳng hạn:
a. Thuộc hệ Bản Duyên:
số 154: kinh Sinh, 5 quyển (tiền thân Phật); số 186: Phật
Thuyết Phỗ Diệu kinh, 8 quyển (lịch sử Ðức Phật) [36]...
b. Thuộc hệ Bát Nhã: số 222: Quang
Tán kinh, 10 quyển [37] (Tương đương với hội thứ nhì, từ
quyển 401-478 của kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða, 600 quyển
do Pháp sư Huyền Tráng dịch).
c. Thuộc hệ Pháp Hoa:
số 263: Chánh Pháp Hoa kinh,
10 quyển. Ðây là bản Hán dịch đầu tiên về kinh Pháp Hoa(38);
số 266: Phật thuyết A Duy Việt Trí Già kinh, 3 quyển [38].
d. Thuộc hệ Hoa Nghiêm:
số 283: Bồ tát Thập trụ
Hành Ðạo phẩm, 1 quyển (Tương đương với phẩm Thập Trụ
(phẩm 15) của kinh Hoa Nghiêm 80 quyển); - số 285: Tiệm Bị
Nhất Thiết Trí Ðức kinh, 5 quyển (Tương đương với phẩm
thứ 26 (phẩm Thập địa) của kinh Hoa Nghiêm 80 quyển); số
288: Ðẳng Mục Bồ tát Sở Vấn Tam Muội kinh, 3 quyển (Tương
đương với phẩm thứ 27 (phẩm Thập định) của kinh Hoa Nghiêm
80 quyển); số 291: Phật Thuyết Như Lai Hưng Hiển kinh, 4 quyển
(Tương đương với phẩm thứ 37 (phẩm Như Lai xuất hiện)
của kinh Hoa Nghiêm 80 quyển); số 292: Ðộ Thế Phẩm kinh,
6 quyển (Tương đương với phẩm thứ 38 (phẩm Ly thế gian)
của kinh Hoa Nghiêm 80 quyển) [39].
e. Thuộc hệ Niết Bàn: - số 378: Phật
Thuyết Phương Ðẳng Bát Nê Hoàn kinh, 2 quyển; số 381: Ðẳng
Tập Chúng Ðức Tam Muội kinh, 3 quyển; số 391: Bát Nê Hoàn
Hậu Quán Lạp kinh, 1 quyển [40], v.v...
Học giả Lương Khải Siêu (1873-1929)
đã chú ý về hai điểm trong sự nghiệp dịch thuật của
Pháp sư Pháp Trúc Hộ để ghi vào "Phật giáo đại sự biểu"
của Trung Hoa:
- Năm 269, kinh Niết Bàn của
Ðại thừa bắt đầu xuất hiện do ngài dịch.
- Năm 288, kinh Pháp Hoa bắt đầu
xuất hiện do ngài dịch [41].
Một bản kinh rất ngắn do Pháp sư
Trúc Pháp Hộ dịch đã tạo được sự gắn bó đậm đà
với hậu thế là kinh Vu Lan Bồn [42]. Hòa thượng Trí Quang,
nơi bản Việt dịch kinh Vu Lan, phần giới thiệu dịch giả,
đã kết luận: "Lịch sử phiên dịch của Phật giáo Trung
Hoa rõ ràng có 3 cái mốc là Pháp Hộ, La Thập và Huyền Tráng.
Nhưng ngài Pháp Hộ thuộc thời kỳ phôi thai, lại không có
sự hỗ trợ của thế quyền. Cộng tác với ngài chỉ có
cha con cư sĩ Nhiếp Thừa Viễn, Nhiếp Ðạo Chân... nhưng truyện
tích không có một tỳ vết nào về Tăng cách và Nhân cách.
Do đó, bất cứ ai đọc và học kinh sách Hoa văn đều ngưỡng
mộ ngài không ít. Chỉ nói, tuy đã gần hết 17 bách kỷ,
mà Vu Lan Bồn, một bản kinh rất ngắn, nhưng hàng năm cứ
đến mùa Vu Lan báo hiếu, lời dịch của ngài non 1700 năm
về trước, vẫn được duy nhất tụng lên, và hình ảnh của
ngài lại càng hiện rõ trong bao niềm ngưỡng mộ..." [43].
2. Pháp sư Cưu Ma La Thập: (344-413):
Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva) là gương mặt dịch thuật vào hàng
kiệt xuất của Phật giáo Bắc truyền, có một ảnh hưởng
rất lớn đến sự hoàn thành Ðại tạng kinh chữ Hán, cả
về mặt tư tưởng và thuật ngữ. Pháp sư người nước Quy
Tư, xuất thân từ hàng vương tộc, mẹ là em gái vua nước
này, 7 tuỗi xuất gia đầu Phật, chịu ảnh hưởng của mẹ,
thông tuệ tột vời, đọc rộng, xem khắp, đi nhiều. Từ
Hải, bộ từ điển có giá trị của Trung Hoa, đã dùng 8 chữ
để tóm kết tính chất xuất chúng nơi ngài La Thập: "Tổng
quán quần tịch, diệu giải Ðại thừa" [44] (thâu tóm mọi
thứ điển tịch sách vở, lý giải thấu đạt diệu chỉ
nơi giáo pháp Ðại thừa).
Pháp sư Cưu Ma La Thập có mặt tại
đất Trường An vào năm 401, bấy giờ là kinh đô của nhà
Hậu Tần (384-417), thời vua Diêu Hưng (366-416), sự nghiệp
dịch thuật bắt đầu từ đấy cho tới cuối đời, thời
gian tuy không nhiều nhưng thành quả đạt được thật là
vĩ đại. Hỗ trợ cho thành tựu ấy phải kể đến công đức
hộ pháp của vua Diêu Hưng cùng những đóng góp của hàng
môn đồ, nhất là 4 vị đệ tử xuất sắc là Tăng Duệ,
Tăng Triệu, Ðạo Sinh và Ðạo Dung, trong đó đáng kể nhất
là Tăng Duệ, người đã tham gia hầu hết vào các bản dịch
tiêu biểu của thầy (đọc lại, viết lời tựa...). Theo mục
lục của ÐTKÐCTT, tổng số dịch phẩm của Pháp sư Cưu Ma
La Thập hiện còn là 15 loại, 53 đề mục, 343 cuốn, bao gồm
hết thảy các hệ của Kinh tạng (A Hàm, Bản Duyên, Bát Nhã,
Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Niết Bàn, Ðại Tập, Kinh Tập),
Luật tạng, Luận tạng (Thích kinh luận, Trung quán, Luận tập)
và Sử truyện. Học giả Lương Khải Siêu, trong "Phật giáo
đại sự biểu" của Phật giáo Trung Hoa, đã ghi nhận [45]:
- Năm 403: Kinh Ðại Bát Nhã
xuất hiện lần thứ 3, do ngài La Thập dịch [46].
- Năm 404: Bách luận xuất hiện,
do ngài La Thập dịch [47].
- Năm 405: Luận Ðại Trí Ðộ xuất
hiện, do ngài La Thập dịch [48].
- Năm 406: Kinh Pháp Hoa (định bản)
và kinh Duy Ma (định bản) xuất hiện, do ngài La Thập dịch
[49].
- Năm 408: Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã
xuất hiện lần thứ 3, và luận Thập Nhị môn xuất hiện,
do ngài La Thập dịch [50].
- Năm 409: Trung luận xuất hiện,
do ngài La Thập dịch [51].
- Năm 411: Luận Thành Thật xuất
hiện, do ngài La Thập dịch [52].
Chữ định bản ở đây là chỉ cho
sự thành tựu bậc nhất của bản dịch, xét về mặt tư
tưởng và ngôn từ. Nói rõ hơn, một số kinh quen thuộc như
kinh A Di Ðà [53], kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cương [54], kinh Duy Ma...
với bản dịch của Pháp sư Cưu Ma La Thập, được xem là
những định bản, tức là từ trước tới giờ, mọi sự
đọc tụng, nghiên cứu, sớ giải, bình luận... đều dựa
trên các định bản ấy. Hơn thế nữa, hệ thống thuật ngữ
Phật học trong Hán tạng đã nhờ vào sự nghiệp dịch thuật
của ngài cùng ảnh hưởng của sự nghiệp ấy mà định hình
(sẽ bàn ở phần sau). Học giả Lương Khải Siêu kết luận:
"Phật giáo thuộc văn hệ Trung Hoa có một cơ sở vững chắc
về học lý để có một sự phát triển có hệ thống thực
bắt nguồn từ ngài Cưu Ma La Thập" [55].
Cũng giống như kinh Vu Lan qua bản
dịch của ngài Trúc Pháp Hộ, bản dịch kinh A Di Ðà của
ngài Cưu Ma La Thập đã tạo được sự gắn bó thân thiết
với bao thế hệ Phật tử Trung Hoa và Việt Nam.
3. Pháp sư Huyền Tráng (602-664):
Huyền Tráng là bậc danh tăng vào hàng kỳ vĩ của Phật giáo
Trung Quốc. Hai sự nghiệp cầu pháp và dịch thuật trong cuộc
dời ngài đều là siêu quần. Ðể thêm tư liệu tham khảo,
chúng tôi xin nêu dẫn những dòng viết của học giả Nguyễn
Hiến Lê trong sách "Sử Trung Quốc", tập 1, nhận xét về sự
nghiệp cầu pháp và sự nghiệp dịch thuật của Pháp sư Huyền
Tráng: "Huyền Tráng sinh năm 602 ở Hà Nam (xuất gia tu Phật
từ năm 13 tuỗi, học rộng, đi nhiều, có tinh thần nhận
xét, phê phán. Chúng tôi thêm - ÐN). Năm thứ 3 đời Ðường
Thái Tôn (629), một mình qua sa mạc Qua Bích dài non 500 cây
số, tới nước Cao Xương, được vua nước đó rất trọng,
rồi leo núi Thông Lĩnh cao 7.200 thước trong dãy Thiên Sơn,
tiến theo đường chở lụa tới Thiết Môn Sơn, một nơi vô
cùng hiểm trở. Từ đây, ông theo hướng Ðông Nam qua nhiều
nước nhỏ, vòng qua Ðại Tuyết Sơn rồi vào Tây Trúc.
Ông thật là một nhà mạo hiểm,
đời sau không chắc có ai hơn. Lại có tinh thần nhận xét
của nhà khoa học, ghi rất kỹ và đúng những điều mắt
thấy tai nghe ở các nơi ông đã đi qua. Ông đi một vòng nước
Tây Trúc, coi hết các nơi có di tích của Phật Thích Ca, lại
ở hơn 1 năm tại chùa Nalanda, một ngôi chùa lớn nhất, đẹp
nhất, mà cũng là một trường đại học cỗ nhất. Ông tả
cảnh chùa đó, giọng bóng bẩy như giọng thi sĩ Tràng An.
Ông học hết bộ Du Già luận, học thêm triết lý Bà la môn
và Phạn ngữ, rồi đi chu du Tây Trúc tìm hiểu thêm các giáo
phái khác... Tới đâu, ông cũng thuyết pháp được hoan nghênh,
ai cũng muốn lưu ông lại. Lần về, ông theo một con đường
khác, ghé nhiều nơi để giảng đạo. Năm 645 ông về tới
Tràng An sau khi xa quê hương 16 năm, đi gần 30 ngàn cây số,
qua 128 nước, đem về được 657 bộ kinh, không kể nhiều
vật quý khác. Mới về nước được hơn 1 tháng, ông bắt
tay ngay vào công việc dịch thuật đại quy mô và mải miết
làm luôn trong 19 năm cho tới khi tắt thở. Ông tổ chức một
ban dịch thuật, mời các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn
Phạn ngữ hợp tác. Công việc làm rất có phương pháp và
kỹ lưỡng, soát đi soát lại nhiều lần... Ông dịch những
kinh khó nhất và chỉ huy việc dịch những kinh khác. Tới
năm 663, ông dịch được 600 quyển.
Ngoài ra, ông còn cho hậu thế:
- Bản dịch Ðạo đức kinh
ra tiếng Phạn để giới thiệu triết học Trung Hoa với Ấn
Ðộ.
- Bản dịch Ðại Thừa Khởi Tín
luận từ Hoa ngữ ngược về Phạn ngữ. Nguyên bản chữ Phạn
của Ấn Ðộ đã thất lạc từ lâu, nhưng ở Trung Hoa còn
giữ lại được bản chữ Hán...
- Soạn một cuốn ngữ pháp Phạn,
giản lược mà sáng sủa và đúng.
- Viết bộ Ðại Ðường Tây Vực
ký gồm 12 quyển, chép những điều mắt thấy tai nghe trong
chuyến đi thỉnh kinh. Bộ này chứa những tài liệu rất quý
cho các nhà khảo cỗ Ấn Ðộ và Trung Á sau này, được dịch
ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Ðức, Nhật... và đã giúp
các học giả Ấn sửa lại nhiều điều sai lầm trong lịch
sử của họ về thế kỷ VII.
Công việc dịch kinh của ông chẳng
những làm cho đạo Phật phát triển mạnh ở Ðông Á mà còn
ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa... Huyền
Tráng tịch năm 664, 1 triệu người ở Tràng An và tứ xứ
đi đưa linh cữu ông [56].
Về con số "600 quyển được dịch"
vừa nêu trên, chúng tôi không rõ học giả Nguyễn Hiến Lê
đã dựa theo tài liệu nào. Căn cứ nơi mục lục của ÐTKÐCTT,
tổng số dịch phẩm của Pháp sư Huyền Tráng hiện còn trên
70 tên kinh, luật, luận, gồm 1.322 quyển, không chỉ dịch
các bộ kinh, luận lớn như kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða,
600 quyển [57], luận A Tỳ Ðạt Ma Ðại Tỳ Bà Sa, 200 quyển
[58], luận Du Già Sư Ðịa, 100 quyển [59], luận A Tỳ Ðạt
Ma Thuận Chánh Lý, 80 quyển [60], v.v... mà số bản kinh ngắn,
rất ngắn cũng được Pháp sư dịch lại một cách kỹ lưỡng,
như: Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm kinh [61]; kinh A Di Ðà (bản dịch
của ngài Huyền Tráng mang tên là: Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật
Nhiếp Thọ kinh [62]; kinh Hiển Vô Biên Phật Ðộ Công Ðức
[63] v.v... Vốn có những sở học và tâm đắc về hệ thống
Pháp tướng ở Ấn Ðộ, lại là dịch giả các bộ kinh, luận
như kinh Giải Thâm Mật [64], luận Du Già Sư Ðịa, luận Nhiếp
Ðại Thừa [65], luận Thành Duy Thức [66], về sau được đệ
tử là Ðại sư Khuy Cơ (632-682) phát huy, nên Pháp sư Huyền
Tráng được xem là sơ tổ của tông Duy Thức ở Trung Hoa.
Về đường hướng dịch thuật, Pháp sư đã đề xuất quan
điểm "Ngũ chủng bất phiên" [67] và tạo nên một phong cách
riêng. Các nhà nghiên cứu Phật học đã dùng từ Cựu dịch,
Tân dịch để chỉ cho các công trình và lối dịch thuật
kinh điển Phật giáo trước ngài Huyền Tráng (cựu dịch)
và từ ngài Huyền Tráng trở về sau (tân dịch), đủ thấy
phong cách dịch thuật ấy đã có một ảnh hưởng rất lớn.
Ngoài ra, Tâm kinh Bát Nhã được xem là dịch phẩm thành công
nhất của Pháp sư Huyền Tráng, tạo được sự gắn bó thân
thiết đối với bao thế hệ người tu Phật.
IV. Mấy nét
chính về quá trình sử dụng thuật ngữ Phật học trong kinh
điển thuộc Hán tạng:
Về tiến trình dịch thuật kinh
điển thuộc Hán tạng, chúng ta đã lần lượt bàn qua: Mấy
điểm tổng quát, Thời kỳ mở đầu, Ba dấu mốc tiêu biểu,
và bây giờ là Quá trình sử dụng thuật ngữ Phật học,
trước khi bước sang phần 2 là Giới thiệu hệ thống kinh
điển thuộc Hán tạng theo ÐTKÐCTT.
Kinh điển đã vô cùng phong phú
nên mảng thuật ngữ Phật học, chỉ xét về số lượng thôi
cũng hết sức dồi dào, đa dạng. Và như chúng ta sẽ thấy,
các thuật ngữ ấy, để đạt đến sự chuẩn xác, dù là
tương đối, và trở thành thông dụng, phỗ biến, là cả
một quá trình đóng góp của nhiều thế hệ dịch giả qua
các thời đại.
Ở thời kỳ mở đầu, thời kỳ
phôi thai, bậc dịch giả được xem là tiêu biểu nhất cho
giai đoạn định hình của mảng thuật ngữ Phật học trong
Hán tạng chính là Pháp sư Cưu Ma La Thập (344-413). Chúng tôi
nêu sơ lược mấy nét chính:
1. Cụm từ mở đầu một bản
kinh:
a. Không có cụm từ mở đầu: Một
số bản kinh được dịch vào thời kỳ đầu, người dịch
hầu như chưa chú ý về điểm này. Chẳng hạn:
- Kinh số 701: Do Ðại sư
An Thế Cao dịch vào đời Hậu Hán đã mở đầu: "A Nan viết:
Ngô tùng Phật văn như thị, nhất thời Phật tại..." (Tôn
giả A Nan nói: Tôi theo Phật, được nghe như vầy, một thời
Phật ở tại...) [68].
- Kinh Trung Bản Khởi, số 196, 2
quyển, do Ðàm Quả và Khang Mạnh Tường dịch vào đời Hậu
Hán, đã mở đầu: "A Nan viết: Ngô tích tùng Phật văn như
thị, nhất thời Phật tại..." (Tôn giả A Nan nói: Tôi ngày
trước theo Phật, được nghe như vầy, một thời Phật ở
tại...) [69].
- Kinh Ðạo Hành Bát Nhã, số 224,
do Ðại sư Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu Hán đã mở
đầu: "Phật tại La duyệt kỳ, Kỳ Xà Quật sơn trung, ma ha
Tỳ kheo Tăng bất khả kế..." (Phật ở tại núi Kỳ Xà Quật
thuộc thành Vương Xá, chúng đại Tỳ kheo Tăng rất đông,
chẳng thể tính kể...) [70].
b. Cụm từ mở đầu là: "Văn như
thị" (Nghe như vầy). Hầu hết bản kinh được dịch từ cuối
đời Tây Tấn (265-317), đầu đời Ðông Tấn (317-419) trở
về trước đều được mở đầu bằng cụm từ ấy.
c. Cụm từ mở đầu: "Ngã văn như
thị": Kinh Trung A Hàm, số 26, 60 quyển với 222 kinh, do Ðại
sư Cù Ðàm Tăng Già Ðề Bà (Samghadeva) dịch vào năm 397-398
TL, đời Ðông Tấn (317-419) đều được mở đầu bằng cụm
từ "Ngã văn như thị" [71].
d. Cụm từ mở đầu định hình
"Như thị ngã văn": Toàn bộ các kinh được dịch từ giữa
thế kỷ IV TL trở về sau đều sử dụng cụm từ mở đầu
là: "Như thị ngã văn" (Tôi nghe như vầy), mang tính chất định
hình.
2. Bốn quả Thanh văn: Trong
thời kỳ đầu, tên của 4 quả Thanh văn được dịch là:
- Câu cảng (Dự lưu, Tu đà
hoàn) [72]
- Tần lai (Tư đà hàm)
- Bất hoàn (A na hàm)
- Ứng chơn hoặc Ứng nghi (A la
hán)
Chẳng hạn:
- Kinh số 225: (Ðại Minh
Ðộ kinh) do Chi Khiêm dịch (đời Ðông Ngô), 4 quả Thanh văn
là: Câu cảng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng nghi [73].
- Kinh số 20: (Chi Khiêm dịch) 4 quả
Thanh văn là: Câu cảng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng chơn [74].
- Kinh số 152: Lục Ðộ Tập kinh
do Khương Tăng Hội dịch (đời Ðông Ngô), 4 quả Thanh văn
gồm: Câu cảng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng chơn [75].
- Kinh số 5 (Kinh Phật Bát Nê Hoàn)
do Bạch Pháp Tổ dịch vào đời Tây Tấn, 4 quả Thanh văn
giống như trên: Câu cảng, Tần lai, Bất hoàn, Ứng chơn [76].
"4 hướng, 4 quả" được Chi Khiêm
dịch là:
- Câu cảng thọ, Câu cảng
chứng (Tu đà hoàn hướng, Tu đà hoàn quả).
- Tần lai thọ, Tần lai chứng (Tư
đà hàm hướng, Tư đà hàm quả)
- Bất hoàn thọ, Bất hoàn chứng
(A na hàm hướng, A na hàm quả)
- Ứng chơn thọ, Ứng chơn chứng
(A la hán hướng, A la hán quả) [77].
3. Năm uẩn:
- Thứ tự của năm uẩn
được Ðại sư An Thế Cao (Hậu Hán) dịch là: Sắc, Thống
dương (Thọ) Tư tưởng (Tưởng) Sinh tử (Hành) Thức (Thức)
[78].
- Năm uẩn theo cách dịch của Ðại
sư Chi Diệu (Hậu Hán): Sắc, Thống (Thọ), Tưởng, Hành, Thức
[79].
- Năm uẩn theo cách dịch của cư
sĩ Chi Khiêm: Sắc, Thống (Thọ), Tưởng, Hành, Thức [80] và
Sắc, Thống Dương (Thọ), Tư tưởng (Tưởng), Sinh tử (Hành),
Thức [81].
- Năm uẩn theo cách dịch của Ðại
sư Tăng Già Ðề Bà (đời Ðông Tấn): Sắc ấm, Giác ấm
(Thọ), Tưởng ấm, Tư ấm (Hành), Thức ấm [82].
4. Tám chánh đạo:
- Tám chánh đạo được
Ðại sư An Thế Cao (đời Hậu Hán) dịch là Bát chủng đạo,
gồm: Trực kiến, Trực niệm hoặc Trực trị; Trực ngữ,
Trực pháp hoặc Trực hành; Trực nghiệp, Trực phương tiện,
Trực ý hoặc Trực niệm; Trực định [83; 84].
- Ðại sư Chi Diệu (Hậu Hán) thì
dịch là Bát trực đạo, gồm: Chánh kiến; Chánh tư; Chánh
ngôn; Chánh hành; Chánh trị; Chánh mạng; Chánh chí; Chánh định
[85].
- Tám chánh đạo theo hai dịch giả
kinh Trường A Hàm là Phật Ðà Da Xá và Trúc Phật Niệm (dịch
vào đời Hậu Tần 384-417) gồm: Chánh kiến; Chánh trí; Chánh
ngữ; Chánh nghiệp; Chánh mạng; Chánh phương tiện; Chánh niệm;
Chánh định [86].
- Theo Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La
(394-468), dịch giả kinh Tạp A Hàm, dịch vào đời Lưu Tống
(420-478) thì 8 chánh đạo, thứ tự cũng giống như trên (Trường
A Hàm) [87].
5. Mười hai Nhân duyên: Cũng
như các thuật ngữ Ngũ uẩn, Bát chánh đạo, thuật ngữ Thập
nhị nhân duyên cũng trải qua những biến chuyển rồi mới
đạt đến sự định hình như ta đã biết. Xin nêu lên mấy
ví dụ:
- Theo Sa môn Nghiêm Phật
Ðiều và cư sĩ An Huyền (đời Hậu Hán) thì tên gọi của
12 nhân duyên là: 1- Bản vi si (vô minh), 2- Hành (hành), 3- Thức
(thức), 4- Danh sắc (danh sắc), 5- Lục suy (lục nhập), 6- Sở
cánh (xúc), 7- Thống (thọ), 8- Ái (ái), 9- Cầu (thủ), 10- Ðắc
(hữu), 11- Sinh (sinh), 12- Lão bệnh tử (lão tử) (kinh A Hàm
Khẩu Giải Thập nhị nhân duyên. số 1508) [88].
- So với cách dịch của Ðại sư
An Thế Cao trước đó thì cũng có một vài chỗ khác: 1- Bản
vi si (vô minh), 2- Hành (hành), 3- Thức (thức), 4- Tự (danh sắc),
5- Lục nhập (lục nhập), 6- Tài (xúc), 7- Thống (thọ), 8-
Ái (ái), 9- Thọ (thủ), 10- Hữu (hữu), 11- Sinh (sinh), 12- Lão
Tử (lão tử) [89].
- 12 nhân duyên theo cách dịch của
Sa môn Bạch Pháp Tổ (Tây Tấn) gồm: 1- Si (vô minh), 2- Hành
(hành), 3- Thức (thức), 4- Tự sắc (danh sắc), ), 5- Lục nhập
(lục nhập), 6- Tài (xúc), 7- Thống (thọ), 8- Ái (ái), 9- Cầu
(thủ), 10- Hữu (hữu), 11- Sinh (sinh), 12- Tử (lão tử) [90].
- Theo cách dịch của Pháp sư Trúc
Pháp Hộ (Tây Tấn) thì 12 nhân duyên gồm: 1- Vô minh (vô minh),
2- Hành (hành), 3- Thức (thức), 4- Danh sắc (danh sắc), 5- Lục
nhập (lục nhập), 6- Sở cánh (xúc), 7- Thống (thọ), 8-Ái
(ái), 9- Thọ (thủ), 10- Hữu (hữu), 11- Sinh (sinh), 12- Lão bệnh
tử (lão tử) [91].
- 12 nhân duyên theo cách dịch của
Ðại sư Tăng Già Ðề Bà (Ðông Tấn) dịch giả kinh Trung
A Hàm: 1- Vô minh (vô minh), 2- Hành (hành), 3- Thức (thức), 4-
Danh sắc (danh sắc), 5- Lục xứ (lục nhập), 6- Cánh lạc (xúc),
7- Giác (thọ), 8-Ái (ái), 9- Thọ (thủ), 10- Hữu (hữu), 11-
Sinh (sinh), 12- Lão tử (lão tử) [92].
B.
Hệ thống kinh điển thuộc Hán tạng theo ÐTKÐCTT:
ÐTKÐCTT đã dùng khái niệm bộ
- chỉ cho sự tập hợp các kinh cùng loại - làm đơn vị để
phân toàn bộ hệ thống kinh điển của Hán tạng ra làm 10
bộ như sau:
- A Hàm bộ (gồm 2 tập 1
& 2)
- Bản Duyên bộ (2 tập)
- Bát Nhã bộ (4 tập)
- Pháp Hoa bộ (1 tập) (chưa đầy
1 tập)
- Hoa Nghiêm bộ (1 tập) (nhiều
hơn 1 tập)
- Bảo Tích bộ (1 tập) (nhiều
hơn 1 tập)
- Niết Bàn bộ (1 tập) (chưa đầy
1 tập)
- Ðại Tập bộ (1 tập)
- Kinh Tập bộ (4 tập)
- Mật Giáo bộ (4 tập)
I. A Hàm bộ: (tập
1 & 2)
Chủ yếu của bộ này là giới
thiệu 4 bộ kinh A Hàm:
1. Trường A Hàm: số 1, 22
quyển với 30 kinh, do hai Ðại sư Phật Ðà Da Xá và Trúc Phật
Niệm dịch vào khoảng đầu thế kỷ 5 TL, đời Hậu Tần
(384-417).
2. Trung A Hàm: số 26, gồm
60 quyển với 222 kinh, do Ðại sư Cù Ðàm Tăng Già Ðề Bà
dịch vào năm 397-398 TL, đời Ðông Tấn (317-419) [93].
3. Tạp A Hàm: số 99, gồm
50 quyển với 1.362 kinh ngắn, do Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La
(394-468) dịch vào khoảng sau năm 435 TL, đời Lưu Tống (420-478).
4. Tăng Nhất A Hàm: số 125,
gồm 51 quyển, 52 phẩm với 471 kinh và phẩm Tự do Ðại sư
Cù Ðàm Tăng Già Ðề Bà dịch vào khoảng cuối thế kỷ 4
TL, đời Ðông Tấn.
Ðại sư cũng là dịch giả kinh
Trung A Hàm. Cả hai bộ kinh ấy đều là dịch lại (trước
do Ðại sư Ðàm Ma Nan Ðề dịch vào năm 388 TL).
A Hàm (Àgama) là đọc theo lối dịch
âm, còn gọi là A Cấp Ma, A Già Ma, dịch ý là Pháp quy (nơi
quy về của muôn pháp), Pháp bản (gốc của các pháp) Vô tỉ
pháp (pháp tối thượng), Thánh huấn tập (tập hợp các lời
dạy của bậc giác ngộ), kinh điển (chỉ chung cho kinh điển
lưu truyền). Học giả Lương Khải Siêu trong bài viết "Bàn
về bốn bộ A Hàm" đã đưa ra 6 điểm để nhấn mạnh về
tầm quan trọng của 4 bộ kinh ấy:
- A Hàm là kinh điển được
thành lập trước nhất, dùng hình thức kiết tập công khai,
rất đáng tin cậy...
- Phần lớn kinh Phật đều là tác
phẩm văn học, A Hàm vẫn theo hướng ấy nhưng ít hơn, mang
đậm tính chất phác, đơn giản. Vì thế, dù không dám cho
rằng mỗi câu mỗi chữ của A Hàm đều là Phật nói, nhưng
nó chứa nhiều và thuần túy lời Phật...
- A Hàm mang thể tài của một loại
"Ngôn hành lục", tính chất đại khái giống với sách Luận
ngữ, nên muốn thể nghiệm nhân cách hiện thực của Ðức
Thế Tôn thì không thể không nghiên cứu A Hàm.
- Các nguyên lý căn bản của Phật
giáo như Tứ đế, Ngũ uẩn, Thập nhị nhân duyên, Tứ niệm
xứ, Bát chánh đạo... đều được thuyết minh trong A Hàm.
Nếu đối với các giáo lý căn bản này mà không nắm vững
thì không thể nào hiểu được kinh điển Ðại thừa.
- A Hàm chẳng những không xung đột
với kinh điển Ðại thừa, mà giáo nghĩa Ðại thừa được
cưu mang trong đó không ít.
- A Hàm trình bày rất nhiều về
tình hình xã hội đương thời. Ðọc A Hàm có thể biết được
hoàn cảnh sinh hoạt của Ðức Thế Tôn và Ngài đã có những
nỗ lực để ứng cơ giáo hóa như thế nào...[94].
Trước 1975 và gần đây, 4 bộ A Hàm
đã được dịch ra Việt văn góp phần hình thành Ðại tạng
kinh Việt Nam.
Ngoài 4 bộ A Hàm, A Hàm bộ còn
có khá nhiều các kinh, tạm gọi là "A Hàm rời". Những kinh
này hầu hết đều có mặt trong 4 bộ kể trên, nhưng đã
được dịch riêng, lẻ tẻ, phần lớn được dịch từ thời
Tây Tấn trở về trước, soi sáng thêm cho 4 bộ A Hàm, góp
phần khẳng định sự phong phú của Hán tạng.
II. Bản Duyên
bộ: (tập 3 & 4)
Bản Duyên đồng nghĩa với Bản
Sinh (Jàtaka). Bộ này gồm 2 tập 3 & 4, tập hợp toàn bộ
các kinh dài, ngắn, kệ tán (mang số hiệu từ 152 đến 219)
viết về lịch sử Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, tiền thân của
Phật Thích Ca, Phật A Di Ðà, Phật Di Lặc, chư vị Bồ tát,
các vị đại đệ tử Phật... Ðây là mảng kinh mang đậm
tính chất văn học hơn hết, có một ảnh hưởng rất lớn
đối với văn học Trung Quốc, là điều mà học giả Lương
Khải Siêu đã khẳng định. Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)
trong sách "Sử Trung Quốc", phần "Bàn về tiểu thuyết đời
Ðường" (618-906) đã cho rằng: "Nhờ đọc kinh Phật trong đó
chép đời nhiều vị Phật, nhiều truyện tưởng tượng, nên
văn nhân Trung Quốc bắt chước lối viết truyện của Ấn"
[95]. Kinh Phật mà ông Nguyễn nói đến ấy chính là mảng
kinh thuộc Bản Duyên bộ.
Còn Lương Khải Siêu thì nhấn mạnh:
"Thủ xướng Ðại thừa, ai cũng
suy tôn là ngài Mã Minh, mà căn cứ nơi truyện của ngài do
Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch, ta được biết ngài thật là
một văn hào, một nhà âm nhạc lớn, sự nghiệp hoằng pháp
của ngài thường dùng hai thứ ấy làm lợi khí. Kiểm tra
tác phẩm của ngài trong Ðại tạng kinh nước ta, thì "Phật
sở hành tán" - số 192 [96], đúng là một thiên trường ca
hơn 30 ngàn lời dầu bản dịch không có âm vận. Ðến như
Ðại Trang Nghiêm kinh luận - số 201 [97] mà Pháp sư Cưu Ma
La Thập đã dịch thì thật là một bộ tiểu thuyết giống
như Nho Lâm Ngoại Sử. Tài liệu lấy trong 4 bộ A Hàm, nhưng
qua sự điểm xuyết của ngài Mã Minh, đã khiến cho người
đọc có những xúc động mãnh liệt..." [98].
Một số kinh thuộc Bản Duyên bộ
đã được dịch ra tiếng Việt và ấn hành như:
- Kinh Lục Ðộ tập, số
152, 8 quyển.
- Kinh Ðại Phương Tiện Phật Báo
Ân, số 156, 7 quyển.
- Kinh Bi Hoa, số 157, 10 quyển.
- Kinh Ðại thừa Bản sinh Tâm Ðịa
Quán, số 159, 8 quyển.
- Kinh Phương Quảng Ðại Trang Nghiêm,
số 187, 12 quyển.
- Kinh Hiền Ngu, số 202, 13 quyển.
- Kinh Cựu Tạp Thí Dụ, số 206,
2 quyển.
- Kinh Bách Dụ, số 209, 4 quyển.
- Kinh Pháp Cú, số 210, 2 quyển.
- Kinh Pháp Cú Thí Dụ, số 211,
4 quyển.
Ðó là chỉ kể số kinh đã được
in ấn. Ngoài ra, còn có khá nhiều kinh thuộc bộ này đã được
dịch xong, trong tương lai sẽ được ấn hành, có mặt trong
Ðại tạng kinh Việt Nam.
III. Bát Nhã
bộ: (tập 5, 6, 7, 8)
Bộ này gồm 4 tập (từ tập 5 -
tập 8). Chủ yếu là giới thiệu kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật
Ða.
1. Kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật
Ða, số 220, 600 quyển, chiếm hết 3 tập 5, 6, 7 với hơn
3.000 trang Hán tạng, do Pháp sư Huyền Tráng dịch từ tháng
Giêng năm 660 đến tháng 10 năm 663 TL. Kinh gồm 16 hội, trong
ấy, so với các kinh đã được dịch từ trước thì:
- 9 hội (1,3, 5, 11, 12, 13,
14, 15, 16) với tổng số 481 quyển là phần ngài Huyền Tráng
dịch mới.
- 7 hội còn lại (2, 4, 6, 7, 8, 9,
10), đã có các vị đi trước dịch rồi và ngài Huyền Tráng
dịch lại, gồm 119 quyển. Chẳng hạn:
a. Hội thứ 2: gồm 78 quyển, từ quyển
401-478. Các kinh sau đây đã được dịch trước ngài Huyền
Tráng, thuộc về hội này:
- Kinh Phóng Quang Bát Nhã,
20 quyển, do Ðại sư Vô La Xoa dịch vào đời Tây Tấn, số
221, tập 8.
- Kinh Quang Tán Bát Nhã, 10 quyển,
do Pháp sư Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, số 222,
tập 8.
- Kinh Ma ha Bát Nhã Ba La Mật, 27
quyển, do Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần,
số 223, tập 8.
b. Hội thứ 4: gồm 18 quyển (từ quyển
538-555). Bốn kinh sau đây đã được dịch trước ngài Huyền
Tráng, thuộc về hội này:
- Kinh Ðạo Hành Bát Nhã,
10 quyển, do Ðại sư Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu Hán,
số 224, tập 8.
- Kinh Ðại Minh Ðộ, 6 quyển, do
cư sĩ Chi Khiêm dịch vào đời Ðông Ngô (229-280), số 225,
tập 8.
- Kinh Ma ha Bát Nhã Sao, 5 quyển,
do hai Ðại sư Ðàm Ma Bì và Trúc Phật Niệm dịch vào đời
Tiền Tần (351-384), số 226, tập 8.
- Kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã, 10 quyển,
do Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần, số 227,
tập 8.
c. Hội thứ 9: gồm 1 quyển (quyển
577) mang tên là "Năng Ðoạn Kim Cương Phần", tức là kinh Kim
Cương mà phần đông người học Phật biết đến. Chúng ta
cần ghi nhận thêm là, trước và sau ngài Huyền Tráng, kinh
Kim Cương đã được nhiều bậc dịch giả dịch riêng. Hiện
còn 5 bản dịch kinh Kim Cương sau đây (4 trước, 1 sau ngài
Huyền Tráng):
- Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba
La Mật, 1 quyển, Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu
Tần (đầu thế kỷ thứ V TL). số 235, tập 8.
- Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật,
1 quyển, Ðại sư Bồ Ðề Lưu Chi dịch vào đời Nguyên Ngụy
(339-556) đầu thế kỷ VI TL, số 236, tập 8.
- Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật,
1 quyển, Ðại sư Chân Ðế (499-569) dịch vào đời Trần (557-588)
giữa thế kỷ VI TL, số 237, tập 8.
- Kinh Kim Cương Năng Ðoạn Bát Nhã
Ba La Mật, 1 quyển, Ðại sư Cấp Ða (?-619) dịch vào đời
Tùy (580-618) cuối thế kỷ VI TL, số 238, tập 8.
- Kinh Phật thuyết Năng Ðoạn Kim
Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða, 1 quyển, Ðại sư Nghĩa Tịnh
(635-713) dịch vào đời Ðường (618-906) đầu thế kỷ VIII
TL (sau ngài Huyền Tráng), số 239, tập 8.
Trong số này, bản dịch ra đời sớm
nhất là bản dịch của ngài La Thập, như đã nói ở trước,
chính là định bản.
2. Tập 8: Ngoài 3 tập 5, 6,
7 là kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða, tập còn lại (tập 8)
của Bát Nhã bộ đã tập hợp giới thiệu các kinh thuộc
hệ Bát Nhã (mang số từ 221 đến số 261) như các kinh đã
nêu trong phần đối chiếu ở trên. Và đáng chú ý thêm nữa
là Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật Ða với 7 bản Hán dịch (mang
số từ 250-257), trong đó, bản dịch ngắn gọn, súc tích và
uyển chuyển nhất là bản dịch của Pháp sư Huyền Tráng
(số 251), chính là bản mà người Phật tử thường đọc
tụng. Pháp thoại ngắn này được xem là một thâu tóm phần
tinh túy nơi diệu nghĩa của kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða,
đồng thời nhấn mạnh những nét chính về diệu dụng bất
khả tư nghì của quá trình tu tập Bát Nhã Ba La Mật theo nẻo
trí tuệ vượt bờ đó. Theo Hòa thượng Trí Quang thì Ðại
sư Tăng Triệu (384-414), một trong số các đệ tử xuất sắc
của Pháp sư Cưu Ma La Thập, trong khi chú giải kinh Kim Cương
đã cho rằng: "Chủ yếu của kinh Kim Cương là Không tuệ".
Và Hòa thượng giải thích thêm: "Không tuệ là tuệ giác Bát
Nhã. Tuệ giác tri kiến như thật về Như, nghĩa là không còn
ngã chấp nên gọi là không tuệ. Không tuệ ấy, tri kiến
như thật về đối tượng của nó thì gọi là cảnh không,
tri kiến như thật về bản thân của nó thì gọi là tuệ
không, tri kiến như thật về chủ thể của nó (người tu
không tuệ) thì gọi là người không..."[99].
Toàn bộ những điểm vừa nêu cũng
có thể dùng để thâu tóm diệu nghĩa của kinh Ðại Bát Nhã
Ba La Mật Ða, và quá trình tu tập để chứng đắc Không tuệ
ấy luôn khởi đầu cũng như chung cuộc, là từ việc khám
phá, lý giải, hội nhập tính chất không của năm uẩn trong
mối tương quan hai chiều hay nhiều chiều của chúng. Ðây
chính là chỗ mà Tâm kinh Bát Nhã đã đúc kết và thuyết
mình: "Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Ða
thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ
ách...". Nhiều nhà nghiên cứu Phật học đã cho rằng câu:
"Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách"
của Tâm kinh Bát Nhã chính là một thâu tóm sinh động về
toàn bộ diệu chỉ nơi kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật Ða.
Như đã nói ở trước, kinh điển
thuộc hệ Bát Nhã đã được dịch sớm ở Trung Quốc, tạo
được ảnh hưởng đáng kể đối với tầng lớp trí thức.
Nhà Phật học Trung Quốc đã có những tiếp cận thấu đạt
nhất về diệu lý không của tư tưởng Bát Nhã chính là Ðại
sư Tăng Triệu (384-414). Bài viết "Bát Nhã Vô Tri luận" in
trong Triệu luận [100] là những phát hiện, soi sáng, mang tính
lý giải, khẳng định hết sức sâu sắc, hàm súc về diệu
lý không ấy. Cứ xem trong ÐTKÐCTT hiện có đến 2 bản Sớ
giải về Triệu luận [101] cũng đủ thấy giá trị của tác
phẩm Triệu luận nói chung, của bài viết "Bát Nhã Vô Tri
luận" nói riêng.
Một số kinh thuộc Bát Nhã bộ
đã được dịch ra tiếng Việt như:
- Kinh Ma ha Bát Nhã Ba La Mật,
số 223, 27 quyển.
- Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật,
số 235, 1 quyển.
- Tâm kinh Bát Nhã Ba La Mật, số
251, 1 quyển.
Riêng bộ kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật
Ða gồm 600 quyển (số 220) đã được Hòa thượng Trí Nghiêm
dịch ra Việt văn từ lâu, hiện đang được biên tập, hiệu
đính, đối chiếu một cách cẩn trọng, để tiến tới xuất
bản, góp phần hoàn thành Ðại tạng kinh Việt Nam.
IV. Pháp Hoa
bộ: (tập 9)
Bộ này chưa đầy 1 tập (tập 9)
tập hợp, giới thiệu kinh Pháp Hoa và những kinh thuộc hệ
Pháp Hoa.
1. Kinh Pháp Hoa: Hiện có 3
bản Hán dịch kinh Pháp Hoa, theo thứ tự thời gian như sau:
a. Kinh Chánh Pháp Hoa, số
263, 10 quyển, 27 phẩm, do Pháp sư Trúc Pháp Hộ dịch vào đời
Tây Tấn. Ðây là bản Hán dịch đầu tiên về kinh Pháp Hoa.
b. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, số 262,
7 quyển, 28 phẩm, do Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời
Hậu Tần. Ðây là định bản: mọi sự đọc tụng, nghiên
cứu, sớ giải, bình luận... đều theo bản dịch này.
c. Kinh Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên
Hoa: số 264, 7 quyển, 27 phẩm, do hai Ðại sư Xà Na Quật Ða
(523-600) và Ðạt Ma Cấp Ða (?-619) dịch vào khoảng cuối thế
kỷ VI TL, đời Tùy (580-618).
Kinh Pháp Hoa, xét về mặt số lượng
thì chỉ là một bộ kinh loại vừa, nhưng về mặt tư tưởng,
với việc thuyết minh cùng khẳng định giáo pháp Nhất thừa,
khẳng định khả tính giác ngộ nơi mọi chúng sinh, khẳng
định tính thường trụ của Phật trong mọi hiện hữu...,
nên các nhà nghiên cứu Phật học Ðông, Tây, xưa nay đều
xác nhận đây là bộ kinh thuộc loại vĩ đại của Phật
giáo Bắc truyền. Học giả Nhật Bản Nikkyò Niwano, nơi lời
nói đầu của sách "Ðạo Phật ngày nay, một diễn dịch mới
về 3 bộ Pháp Hoa" (Buddhism For Today, a modern interpretation of
the threefold Lotus Sùtra) đã viết: "Theo ý kiến thông thường
được chấp nhận thì trong các kinh Phật, kinh Diệu Pháp Liên
Hoa (Saddharma-pundarika-sùtra) thường được gọi là kinh Pháp
Hoa, là kinh tuyệt diệu nhất..." [102].
Nhìn vào số lượng các sách chú
giải, bình luận về kinh Pháp Hoa hiện có trong ÐTKÐCTT: hơn
10 đề mục với trên 150 quyển (tập 33 và tập 34, không kể
tác phẩm của các tác giả Nhật Bản) cũng đủ thấy kinh
ấy đã được chú trọng và có ảnh hưởng lớn như thế
nào. Tác giả của những bộ sách chú giải, giảng luận đó
đều là các bậc danh tăng vào hàng đầu của Phật giáo Trung
Quốc: Pháp Vân (467-529), Trí Khải (538-597), Cát Tạng (549-623),
Quán Ðỉnh (561-632), Nguyên Hiểu (617-?), Khuy Cơ (632-682), Huệ
Chiểu (651-714), Trạm Nhiên (711-782)...
Về phương diện kế thừa và phát
huy, kinh Pháp Hoa được xem là nền tảng giáo pháp của tông
Thiên Thai với những xiển dương của Ðại sư Trí Khải.
Kinh Pháp Hoa đã được dịch ra tiếng Việt khá sớm. Hiện
chúng ta có gần 10 bản Việt dịch, chú giải, giảng luận
về kinh Pháp Hoa.
2. Mảng kinh thuộc hệ Pháp Hoa
(từ số 265-277) cũng được lần lượt dịch sang tiếng
Việt góp phần soi sáng thêm phần giáo nghĩa của kinh Pháp
Hoa.
V. Hoa Nghiêm
bộ: (một phần tập 9 và tập 10)
Cũng giống như Pháp Hoa bộ, Hoa
Nghiêm bộ tập hợp, giới thiệu kinh Hoa Nghiêm và các kinh
ngắn, vừa thuộc hệ Hoa Nghiêm.
1. Kinh Hoa Nghiêm: gọi đủ
là kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (Buddha àvatamà sakamahàvaipulya-sùtra),
hiện có 3 bản Hán dịch:
a. Lục Thập Hoa Nghiêm: số
278 (tập 9), gồm 7 xứ (nơi chốn thuyết giảng), 8 hội, 34
phẩm, 60 quyển, do Ðại sư Phật Ðà Bạt Ðà La (Budddabhadra,
359-429) dịch vào năm 418, cuối đời Ðông Tấn (317-419).
b. Bát Thập Hoa Nghiêm: số 279 (tập
10), gồm 7 xứ, 9 hội, 39 phẩm, 80 quyển, do Ðại sư Thật
Xoa Nan Ðà (Siksànanda, 652-710) dịch vào năm 695-699, đời Ðường
(Võ Tắc Thiên, 624-705). Ðây là bản dịch đầy đủ nhất
về kinh Hoa Nghiêm.
c. Tứ Thập Hoa Nghiêm: số 293, gồm
40 quyển, do Ðại sư Bát Nhã (Prajnnà, 734-?) dịch vào năm
796-798) đời Ðường (vua Ðường Ðức Tông), từ quyển 1-39
tương đương với phẩm 39 (phẩm Nhập Pháp giới), quyển
40 tương đương với phẩm 36 (phẩm Phỗ Hiền hạnh). Bản
dịch này có tính chất bỗ sung cho 2 phẩm 39 và 36 của kinh
Bát Thập Hoa Nghiêm.
Kinh Hoa Nghiêm là bộ kinh vĩ đại
của Phật giáo Bắc truyền, xét về mặt số lượng, cách
thế diễn đạt và tư tưởng. Giáo sư D.T.Suzuki viết:
"Còn về kinh Hoa Nghiêm, đấy quả
thực là một toàn hảo của tư tưởng Phật giáo. Theo ý tôi,
không có nền văn học tôn giáo nào trên thế giới có thể
sánh kịp với sự lớn lao về quan niệm, sự sâu thẳm của
cảm thụ và mức vĩ đại của việc biên soạn mà kinh này
đạt được. Ðấy là cái dòng suối vĩnh cửu của cuộc
đời mà không tâm thức nào có tính cách tôn giáo đến đó
rồi quay về mà còn khao khát hay còn chưa hoàn toàn thỏa mãn..."
[103].
Cũng giống kinh Pháp Hoa đối với
tông Thiên Thai, kinh Hoa Nghiêm là giáo pháp căn bản của tông
Hoa Nghiêm, người khởi xướng là ngài Pháp Thuận (557-640),
với phát hiện về pháp quán "Chu biến hàm dung", một lý giải
sâu sắc về diệu lý tương tức, tương nhập của kinh Hoa
Nghiêm, dẫn tới việc thành lập 10 Huyền môn nỗi tiếng.
Nối tiếp là các Ðại sư Trí Nghiễm (602-668), Nghĩa Tương
(625-702, Sơ Tổ tông Hoa Nghiêm ở Triều Tiên), Pháp Tạng (643-712),
Trừng Quán (738-839), Tông Mật (780-841). Công việc chú giải,
giảng luận về kinh Hoa Nghiêm đều do các đại sư kể trên
đảm trách, trong đó, đóng góp nhiều công sức và trí tuệ
để hình thành và xác lập tư tưởng cho tông Hoa Nghiêm là
Ðại sư Pháp Tạng, còn gọi là Quốc sư Hiền Thủ. Và đến
Ðại sư Trừng Quán, với 2 tác phẩm nỗi tiếng "Ðại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sớ", 60 quyển. "Ðại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao", 90 quyển [104]
thì tư tưởng của tông Hoa Nghiêm đã được tập đại thành.
Giáo sư Tưởng Duy Kiều viết: "Ðến đời Ðường, ngài Thật
Xoa Nan Ðà phiên dịch kinh Hoa Nghiêm gồm 80 quyển, gọi là
Bát Thập Hoa Nghiêm. Ngài Quốc sư Thanh Lương (tức Ðại sư
Trừng Quán) căn cứ vào đó mà làm những bộ chú thích như
Huyền Ðàm và Sớ Sao, trong ấy thâu tóm tất cả Ðại thừa,
Tiểu thừa, Tánh tông và Tướng tông, thật là rộng rãi,
tinh thâm. Ðến đây, ý nghĩa thâm thúy của Hoa Nghiêm rực
rỡ như mặt trời chói lọi giữa thiên không" [105].
Ngoài ra, còn có những đóng góp
của cư sĩ Lý Thông Huyền (635-730), một học giả về Hoa
Nghiêm nỗi tiếng ở đời Ðường, vốn xuất thân từ hàng
vương tộc, tác giả bộ "Tân Hoa Nghiêm kinh luận", 40 quyển
[106].
2. Kinh Hoa Nghiêm (80 quyển)
đã được HT.Thích Trí Tịnh dịch ra Việt văn. Mảng kinh
ngắn và vừa còn lại thuộc hệ Hoa Nghiêm (mang số hiệu
từ số 280 đến 309), trừ số 293 là Tứ Thập Hoa Nghiêm đã
nói ở trước) trong ấy phần nhiều do các Ðại sư Chi Lâu
Ca Sấm, Trúc Pháp Hộ, Trúc Phật Niệm, Cưu Ma La Thập, Ðịa
Bà Ha La (613-687) dịch, cũng đang lần lượt được dịch ra
Việt văn, góp phần làm sáng tỏ thêm tư tưởng kinh Hoa Nghiêm
và làm phong phú cho Ðại tạng kinh tiếng Việt.
VI. Bảo Tích
bộ: (tập 11 và 1/3 tập 12)
Tập hợp, giới thiệu kinh Ðại
Bảo Tích và các kinh thuộc hệ Bảo Tích.
1. Kinh Ðại Bảo Tích: Kinh
Ðại Bảo Tích (Màhà ratna kùta-sùtra) số 310 gồm 120 quyển,
49 hội, do Ðại sư Bồ Ðề Lưu Chí (562-727) dịch và tập
hợp các kinh đã được dịch từ trước. Trong tổng số 49
hội, 120 quyển thì:
- Các kinh được dịch từ
trước: 23 hội, hơn 80 quyển.
- Các kinh do Ðại sư Bồ Ðề Lưu
Chi dịch: 26 hội, hơn 39 quyển.
Công việc này bắt đầu từ năm 706
(đời Ðường) kéo dài trong 8 năm thì hoàn thành.
Bảo Tích có nghĩa là tích tập
các pháp bảo, nên mỗi hội có thể xem như một bộ kinh với
chủ đề riêng và có một vài sự trùng lặp với các bộ
khác. Chẳng hạn:
- Hội thứ 48, mang tên Thắng Man
phu nhân hội, 1 quyển (quyển 119) do Ðại sư Bồ Ðề Lưu
Chi dịch (mới). Nhưng kinh này đã được Ðại sư Cầu Na
Bạt Ðà La (394-468) dịch vào khoảng 435-443 TL đời Lưu Tống
mang tên là "Kinh Thắng Man Sư Tử Hống nhất thừa Ðại Phương
Tiện Phương Quảng" (số 353, tập 12). Ðại sư Cầu Na Bạt
Ðà La cũng là dịch giả kinh Tạp A Hàm.
- Hội thứ 5 mang tên "Vô Lượng
Thọ Như Lai hội", gồm 2 quyển 17, 18 thì tương đương với
các kinh số 360, số 364, tập 12 (sẽ nói thêm ở phần sau).
- Hội thứ 46 mang tên "Văn Thù Thuyết
Bát Nhã hội", gồm 2 quyển 25, 26 do Ðại sư Mạn Ðà La Tiên
dịch vào khoảng đầu thế kỷ VI TL đời Lương (502-556) chính
là hội thứ 7 của kinh Bát Nhã Ba La Mật Ða (quyển 574, 575).
- Hội thứ 47 mang tên "Bảo Kế
Bồ tát hội", gồm 2 quyển 117, 118 do Ðại sư Trúc Pháp Hộ
dịch vào đời Tây Tấn, thì trùng với kinh Ðại Tập, quyển
25, 26 (do Ðại sư Ðàm Vô Sấm 385-433 dịch vào đời Bắc
Lương 397-439).
Kinh Ðại Bảo Tích đã được HT.Thích
Trí Tịnh dịch sang Việt văn.
2. Mảng kinh thuộc hệ Bảo Tích
mang số hiệu từ số 311 đến số 373 nói chung là rất
dồi dào, trong ấy kinh Thắng Man như đã nêu, là một bản
kinh ngắn, nội dung có những liên hệ với kinh Pháp Hoa, đã
được dịch ra Việt văn. Ngoài ra, đáng chú ý là các kinh:
- số 360: Phật Thuyết Vô Lượng
Thọ kinh, 2 quyển, Ðại sư Khương Tăng Khải (Samghavarman)
dịch vào khoảng hậu bán thế kỷ 3 TL đời Tào Ngụy (220-265).
- số 364: Phật Thuyết Ðại A Di
Ðà kinh, 2 quyển, do cư sĩ Vương Nhật Hưu (?-1173) hiệu đính,
biên tập vào khoảng năm 1160-1162 đời Triệu Tống (960-1276).
- số 365: Phật Thuyết Quán Vô Lượng
Thọ kinh, 1 quyển, do Ðại sư Cương Lương Da Xá (383-442) dịch
vào khoảng năm 424, đời Lưu Tống (420-478).
- số 366: Phật Thuyết A Di Ðà kinh,
1 quyển, do Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch vào đời Hậu Tần
(3 kinh số 360, 365, 366 đã được dịch ra Việt văn). Ðó là
những kinh chủ yếu của tông Tịnh Ðộ và tín ngưỡng Tịnh
độ.
VII. Niết bàn
bộ (2 phần tập 12)
Bộ này gồm các kinh từ số 374
đến 396, tập 12, nội dung là giới thiệu kinh Ðại Bát Niết
Bàn và các kinh ngắn, vừa, thuộc hệ Niết Bàn.
1. Kinh Ðại Bát Niết Bàn (Mahàparinirvàna-sùtra)
cũng là một bộ kinh lớn của Phật giáo Bắc truyền, thuyết
minh về các giáo nghĩa Như Lai thường trụ, Chúng sinh đều
có Phật tánh, Xiển đề đều thành Phật (xiển đề là chỉ
cho loại chúng sinh đoạn trừ căn lành, thiếu nhân giải thoát).
Kinh này có hai bản Hán dịch:
a. Bắc bản Ðại Bát Niết
Bàn kinh: số 374 gồm 40 quyển, 13 phẩm, do Ðại sư Ðàm Vô
Sấm (385-433) dịch vào khoảng năm 415-421 đời Bắc Lương
(397-439).
b. Nam bản Ðại Bát Niết Bàn kinh:
số 375, gồm 36 quyển, 25 phẩm, do các Ðại sư Huệ Nghiêm
(363-443), Huệ Quán (thế kỷ V TL) và cư sĩ Tạ Linh Vận (385-433),
dựa vào bản dịch kinh Ðại Bát Nê Hoàn gồm 6 quyển của
Ðại sư Pháp Hiển (380-418/423), tham khảo Bắc bản của Ðại
sư Ðàm Vô Sấm để tu đính, soạn thành, khoảng sau năm 421,
đầu đời Lưu Tống (420-478).
Sự kiện "Niết bàn" đã được nói
đến trong kinh Trường A Hàm (kinh số 2, mang tên Du Hành kinh
[107] và một số kinh thuộc hệ A Hàm như kinh Phật Bát Nê
Hoàn, số 5, 2 quyển, do Ðại sư Bạch Pháp Tổ dịch vào đời
Tây Tấn; kinh Bát Nê Hoàn, số 6, 2 quyển, mất tên người
dịch, phụ vào dịch phẩm đời Ðông Tấn (317-419), kinh Ðại
Niết Bàn, số 7, 3 quyển, do Ðại sư Pháp Hiển dịch vào
đời Ðông Tấn [108]. Nhưng với kinh Ðại Bát Niết Bàn (40
quyển, 36 quyển) nội dung đã không dừng ở việc thuật lại
giai đoạn sau cùng của cuộc đời Ðức Thế Tôn, mà đã
nhân nơi bối cảnh ấy thuyết minh, quảng diễn một số diệu
lý then chốt như đã nêu ở trên. Chính vì thế mà sau khi
kinh Ðại Bát Niết Bàn (Bắc bản, Nam bản) được lưu hành,
đã tạo nên một ảnh hưởng rộng lớn trong giới Phật học
Trung Hoa đương thời ở cả hai miền Bắc Nam, dẫn đến việc
thành lập tông Niết Bàn hưng thịnh một thời.
Kinh Ðại Bát Niết Bàn (Nam bản)
đã được HT.Thích Trí Tịnh dịch ra Việt văn (bản Việt
dịch ngoài 25 phẩm của Nam bản Ðại Bát Niết Bàn kinh còn
có thêm 4 phẩm nữa: phẩm 26-29, không rõ người dịch đã
dịch theo Tạng nào).
2. Phần còn lại của Niết Bàn
bộ gồm các kinh từ số 376 đến số 396, với những kinh
tiêu biểu như kinh: Phật Thuyết Phương Ðẳng Bát Nê Hoàn
kinh, số 378, 2 quyển; Ðẳng Tập Chúng Ðức Tam Muội kinh,
số 381, 3 quyển; Bát Nê Hoàn Hậu Quán Lạp kinh, số 391, 1
quyển; đều do Ðại sư Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây
Tấn. Kinh Bồ tát Ðâu Thuật Thiên Giáng Thần... số 384, 7
quyển, Trung Ấm kinh, số 385, 2 quyển (kinh này đã được
dịch ra Việt văn)... đều do Ðại sư Trúc Phật Niệm dịch
vào đời Hậu Tần. Kinh Tập Nhất Thiết Phước Ðức Tam
Muội, số 382, 3 quyển, kinh Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược
Thuyết Giáo Giới, số 389, 1 quyển (tức kinh Di Giáo, đã được
dịch ra Việt văn), cả hai kinh đều do Pháp sư Cưu Ma La Thập
dịch vào đời Hậu Tần. Kinh Phật Thuyết Ðại Bát Nê Hoàn,
số 376, do Ðại sư Pháp Hiển dịch vào đời Ðông Tấn. Kinh
Ðại Bát Niết Bàn Hậu Phần, số 377, 2 quyển, do Ðại sư
Nhược Na Bạt Ðà La dịch vào đầu đời Ðường (618-906).
Kinh Phật Lâm Niết Bàn Ký Pháp Trú, số 390, 1 quyển, do Pháp
sư Huyền Tráng dịch vào đời Ðường... Tất cả đều được
lần lượt dịch ra tiếng Việt, góp phần làm rõ thêm về
giai đoạn sau cùng của cuộc đời Ðức Bỗn Sư.
VIII. Ðại Tập
bộ (tập 13)
Bộ này tập hợp giới thiệu kinh
Ðại Tập và những kinh ngắn, vừa thuộc hệ Ðại Tập.
1. Kinh Ðại Tập: Gọi đủ
là Ðại Phương Quảng Ðại Tập kinh (Mahàsamnipàta - Sùtra),
số 397, 17 phẩm, 60 quyển, do các Ðại sư: Ðàm Vô Sấm (385-433)
dịch vào đời Bắc Lương (397-439), từ phẩm 1 đến phẩm
11 và phẩm 13, gồm 29 quyển; Ðại sư Trí Nghiêm (350-427) và
Bảo Vân (376-449) dịch phẩm 12 (4 quyển) vào đời Lư Tống
(420-478); Ðại sư Na Liên Ðề Da Xá (490-589) dịch vào đời
Cao Tề (550-576) gồm các phẩm 15, 16, 17 (15 quyển), và phẩm
14 gồm 12 quyển, dịch vào đầu đời Tùy (580-618).
Công việc tập hợp sắp xếp này
là do Ðại sư Tăng Tựu thực hiện vào đời Tùy. Nội dung
kinh Ðại Tập thuyết minh về một số pháp tu tập của hạnh
Bồ tát như Tam học, 6 Ba la mật, các pháp Tam muội, các pháp
Tổng trì... cùng nhấn mạnh về sự nghiệp hộ pháp của
8 bộ chúng.
2. Phần còn lại của bộ Ðại
Tập gồm các kinh ngắn, vừa mang số hiệu từ số 398
đến 424, nhìn chung rất là dồi dào, phần nhiều là những
bản dịch khác của những kinh đã có nơi kinh Ðại Phương
Ðẳng Ðại Tập. Ngoài ra có hai kinh đáng chú ý là:
- số 411, kinh Ðại Thừa
Ðại Tập Ðịa Tạng Thập Luân, 10 quyển, do Pháp sư Huyền
Tráng dịch.
- số 412, kinh Ðịa Tạng Bồ tát
Bản Nguyện, 2 quyển, do Ðại sư Thật Xoa Nan Ðà (652-710)
dịch vào đời Ðường (Ðại sư cũng là người dịch kinh
Hoa Nghiêm 80 quyển).
Ðó là hai kinh thuyết minh về hạnh
nguyện độ sinh của Bồ tát Ðịa Tạng (kinh số 412 đã được
dịch ra Việt văn).
IX. Kinh Tập
bộ (tập 14, 15 đến 4, 16, 17)
Bộ này, về số lượng chiếm đến
4 tập của ÐTKÐCTT (tập 14-17) tập hợp giới thiệu toàn
bộ các kinh còn lại không thể sắp vào 8 bộ trước (các
kinh mang số hiệu từ số 425 đến 847).
Xin có mấy ghi nhận:
1. Kinh dài nhất ở bộ này là kinh
Chánh Pháp Niệm Xứ (Saddharma-smràty-upasthàma-sùtra) gồm 7
phẩm, 70 quyển, do Ðại sư Cù Ðàm Bát Nhã Lưu Chi cùng dịch
với các Ðại sư Ðàm Diệu, Bồ Ðề Lưu Chí dịch trong khoảng
năm 538-543, vào cuối đời Hậu Ngụy (339-556). Nội dung của
kinh là thông qua 7 phẩm: Thập thiện nghiệp đạo, Sinh tử,
Ðịa ngục. Ngạ quỷ, Súc sinh, Quán thiên và Thân niệm xứ,
thuyết minh về tính nhân quả của sự sinh tử nơi sáu đường
để người tu Phật nhận ra nẻo giải thoát. Kinh này đã
được dịch ra tiếng Việt, trong tương lai sẽ được xuất
bản.
2. Mảng kinh nói về Thiền, Quán,
Tam muội và các vấn đề liên hệ, nhìn chung là khá nhiều,
do các vị Ðại sư như An Thế Cao (Hậu Hán), Trúc Pháp Hộ
(Tây Tấn), Chi Lâu Ca Sấm (Hậu Hán), Cưu Ma La Thập (Hậu
Tần), Na Liên Ðề Da Xá (Tùy), Huyền Tráng (Ðường)... dịch
(các kinh mang số hiệu từ số 463, 464, 465, 466, 602, 603, 604,
605, 611, 612, 613, 614, 616, 617, 618, 619, 621, 622, 623, 635 đến
643...) đáng lẽ nên được tách ra thành một tập. Công việc
này sẽ được thực hiện khi chúng ta hoàn thành Ðại Tạng
kinh tiếng Việt chăng?
3. Một số kinh trong Kinh Tập bộ
với nội dung hàm chứa những giá trị tiêu biểu, thiết thực
nên đã được lần lượt dịch ra tiếng Việt như:
a. Kinh Dược Sư: Kinh này
hiện có 3 bản Hán dịch:
- Bản dịch của Ðại sư
Ðạt Ma Cấp Ða (?-619) dịch vào đầu thế kỷ VII, đời nhà
Tùy, mang tên: Phật Thuyết Dược Sư Như Lai Bản Nguyện kinh,
số 449 tập 1 quyển.
- Bản dịch của Pháp sư Huyền
Tráng, dịch vào đời Ðường, mang tên "Dược Sư Lưu Ly Quang
Như Lai Bản Nguyện Công Ðức kinh": 1 quyển, số 450, T 14.
Ðây là bản dịch phỗ cập hơn cả.
- Bản dịch của Ðại sư Nghĩa
Tịnh (635-713) dịch vào khoảng cuối thế kỷ VII đầu thế
kỷ VIII, đời Ðường, mang tên: "Dược Sư Lưu Ly Quang Thất
Phật Bản Nguyện Công Ðức kinh" 1 quyển, số 451, T14.
b. Kinh Di Lặc Hạ Sinh: Cũng có 3 bản
Hán dịch:
- Bản dịch của Pháp sư
Trúc Pháp Hộ, dịch vào đời Tây Tấn mang tên: "Phật Thuyết
Di Lặc Hạ Sinh kinh", 1 quyển, số 453, tập 14.
- Bản dịch của Pháp sư Cưu Ma
La Thập, dịch vào đầu thế kỷ V, đời hậu Tần, mang tên:
"Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sinh Thành Phật kinh" 1 quyển, No.454,
tập 14.
- Bản dịch của Ðại sư Nghĩa
Tịnh, mang tên giống như bản dịch của ngài La Thập, số
455, tập 14.
c. Kinh Duy Ma: Kinh này hiện cũng có
3 bản Hán dịch:
- Bản dịch của cư sĩ Chi
Khiêm, đời Ðông Ngô (224-280) mang tên: "Phật Thuyết Duy Ma
Cật kinh", số 474, 2 quyển, tập 14.
- Bản dịch của Pháp sư Cưu Ma
La Thập, mang tên: "Duy Ma Cật Sở Thuyết kinh", số 475, 3 quyển,
tập 14. Ðây là định bản.
- Bản dịch của Pháp sư Huyền
Tráng, nhan đề: "Thuyết Vô Cấu Xưng kinh", số 476, 6 quyển,
tập 14.
d. Kinh Thập Thiện: gọi đủ là kinh
Thập Thiện Nghiệp Ðạo, số 600, 1 quyển, tập 15, do Ðại
sư Thật Xoa Nan Ðà dịch vào cuối thế kỷ VII, đời Ðường,
đây là bản dịch thông dụng. Ngoài ra, còn có 2 bản Hán
dịch khác:
- Phẩm 11 của kinh Phật
Thuyết Hải Long Vương, số 518, 4 quyển, tập 15, dịch giả
là Pháp sư Trúc Pháp Hộ [109].
- Kinh Phật Vị Sa Già La Long Vương
Sở Thuyết Ðại Thừa, số 601, 1 quyển, tập 15, dịch giả
là Ðại sư Thi Hộ, dịch vào cuối thế kỷ X, đời Triệu
Tống (960-1276).
đ. Kinh Kim Quang Minh: Hiện có 3 bản
Hán dịch:
- Bản dịch của Ðại sư
Ðàm Vô Sấm (385-433) dịch vào đầu thế kỷ V, đời Bắc
Lương (397-439) mang tên: "Kim Quang Minh kinh", số 663, 4 quyển,
tập 16.
- Bản của Ðại sư Bảo Quý san
định vào cuối thế kỷ VI, đời Tùy, mang tên: "Hợp Bộ
Kim Quang Minh kinh", 8 quyển, số 664, tập 16.
- Bản dịch của Ðại sư Nghĩa
Tịnh, mang tên: "Kim Quang Minh Tối Thắng Vương kinh", 10 quyển,
số 665, tập 16 [110]
e. Kinh Thắng Man: Kinh này có 2 bản
Hán dịch:
- Bản dịch của Ðại sư
Cầu Na Bạt Ðà La (394-468) dịch vào khoảng 435-443 đời Lưu
Tống, mang tên: "Kinh Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Ðại
Phương Tiện Phương Quảng", số 353, 1 quyển (ÐTK/tập 12).
- Bản dịch của Ðại sư Bồ Ðề
Lưu Chi (562-727) dịch, là hội 48 trong kinh Ðại Bảo Tích,
mang tên "Thắng Man Phu Nhân hội", 1 quyển (quyển 119) (ÐTK/tập
11).
g. Kinh Lăng Già: Cũng hiện có 3 bản
Hán dịch:
- Bản dịch mang tên: "Lăng
Già A Bạt Ða La Bảo kinh", 4 quyển, số 670, tập 16, dịch
giả là Ðại sư Cầu Na Bạt Ðà La (394-468) đời Lưu Tống
(420-478).
- Bản dịch của Ðại sư Bồ Ðề
Lưu Chi (thế kỷ VI) đời Nguyên Ngụy (339-556), mang tên: "Thập
Lăng Già kinh", 10 quyển, số 671, tập 16.
- Bản dịch mang tên: "Ðại Thừa
Nhập Lăng Già kinh", 7 quyển, số 672, tập 16, dịch giả là
Ðại sư Thật Xoa Nan Ðà, đời Ðường.
h. Kinh Giải Thâm Mật: Hiện có 4 bản
Hán dịch:
- Bản dịch của Ðại sư
Bồ Ðề Lưu Chi, mang tên: "Thâm Mật Giải Thoát kinh", 5 quyển,
10 phẩm, số 675, tập 16.
- Bản dịch của Pháp sư Huyền
Tráng, nhan đề: "Giải Thâm Mật kinh", 5 quyển, 8 phẩm, số
676, tập 16.
- Bản dịch của Ðại sư Chân Ðế
(499-569) đời Trần, (557-588), mang tên: "Phật Thuyết Giải
Tiết kinh", 1 quyển, số 677, tập 16, tức là phẩm thứ 2 so
với bản dịch của ngài Huyền Tráng.
- Bản dịch của Ðại sư Cầu Na
Bạt Ðà La (394-468) dịch vào đời Lưu Tống (420-478). "Tương
Tục Giải Thoát Liễu Nghĩa kinh", 2 quyển, số 678, số 679,
tập 16, tương đương với 2 phẩm 7, 8 nơi bản dịch của
ngài Huyền Tráng.
i. Kinh Vu Lan: Gọi đủ là kinh Phật
Thuyết Vu Lan Bồn, 1 quyển, số 685, tập 16, dịch giả là
Pháp sư Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn. Kinh Vu Lan còn một bản
Hán dịch nữa mang tên: "Phật Thuyết Báo Ân Phụng Bồn kinh",
1 quyển, số 686, tập 16, mất tên người dịch.
j. Kinh Bát Ðại Nhân Giác: 1 quyển,
số 779, tập 17, dịch giả là Ðại sư An Thế Cao (Hậu Hán).
k. Kinh Tứ Thập Nhị Chương: 1 quyển,
số 784, tập 17, dịch giả là hai Ðại sư Ca Diếp Ma Ðằng
(?-73) và Trúc Pháp Lan, dịch vào năm 67, đời Hậu Hán, được
xem là bản kinh Hán dịch đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc.
l. Kinh Hiền Nhân: Bản Hán dịch
mang tên "Phật Thuyết Bột Kinh Sao", số 790, 1 quyển, tập
17, dịch giả là cư sĩ Chi Khiêm.
m. Kinh Viên Giác: Gọi đủ là "Ðại
Phương Quảng Viên Giác Tu Ða La Liễu Nghĩa kinh", số 842, 1
quyển, tập 17, dịch giả là Ðại sư Phật Ðà Ða La, dịch
vào đầu đời Ðường.
Ngoài ra, kinh Thủ Lăng Nghiêm (gọi
đủ là: Ðại Phật Ðảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu
Nghĩa Chư Bồ tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm kinh), 10 quyển,
do Ðại sư Bát Thích Mật Ðế dịch vào khoảng đầu thế
kỷ VIII đời Ðường, đã được dịch ra tiếng Việt (nhiều
bản Việt dịch) khá phỗ biến trong giới Phật học Việt
Nam, ÐTKÐCTT đã xếp vào phần Mật giáo bộ, số 945, tập
19.
X. Mật giáo bộ
(tập 18, 19, 20, 21)
Gồm 4 tập, tập hợp giới thiệu
toàn bộ mảng kinh điển, minh chú, nghi quỹ... của Mật giáo.
- Mật giáo là giai đoạn phát triển
thứ 3 của tư tưởng Phật giáo Ðại thừa ở Ấn Ðộ (giai
đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ hai là Duy Thức).
Giai đoạn này bắt đầu từ thế kỷ IV, trở nên hưng thịnh
từ đầu thế kỷ VI... Ðứng về phương diện tư tưởng,
Mật giáo là một phản ứng đối với khuynh hướng quá thiên
trọng về trí thức và nghiên cứu của các hệ thống Bát
nhã và Duy thức. Theo Mật giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những
thế lực siêu nhiên; nếu ta biết sử dụng những thế lực
siêu nhiên kia thì ta có thể đi rất mau trên con đường giác
ngộ, thành đạo..." [111].
Mật giáo được truyền vào Trung
Quốc vào cuối thập kỷ 2 của thế kỷ VIII với công sức
của các vị Ðại sư Thiện Vô Úy (637-735), Kim Cương Trí
(671-741) và Bất Không (705-774). Các vị Ðại sư này vừa là
nhà truyền đạo vừa là những dịch giả đóng góp nhiều
trong quá trình dịch thuật kinh sách Mật giáo ra chữ Hán.
Vị Ðại sư người Trung Quốc có nhiều hỗ trợ đắc lực
cho sự phát triển của Mật giáo ở Trung Hoa trong giai đoạn
đầu là Ðại sư Nhất Hành (683-727).
Những kinh điển làm nền tảng
cho Mật giáo là các kinh Ðại Nhật, kinh Kim Cương Ðỉnh.
1. Kinh Ðại Nhật:: Gọi đủ là
"Ðại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì kinh", 7
quyển, 36 phẩm, số 848, tập 18, trang 1A-55A, do hai Ðại sư
Thiện Vô Úy và Nhất Hành dịch vào khoảng năm 716-720, đời
Ðường.
2. Kinh Kim Cương Ðỉnh: Kinh này
có 3 bản Hán dịch:
a. Bản dịch của Ðại sư
Bất Không (705-774) mang tên: "Kim Cương Ðỉnh Nhất Thiết Như
Lai Chân Thật Nhiếp Ðại Thừa Hiện Chứng Ðại Giáo Vương
kinh", 3 quyển, số 865, tập 18, trang 207A-223B.
b. Bản do Ðại sư Kim Cương Trí
(671-741), dịch vào năm 723, mang tên "Kim Cương Ðỉnh Du Già
Trung Lược Xuất Niệm Tụng kinh", 4 quyển, số 866, tập 18,
trang 223B-253C.
c. Bản do Ðại sư Thi Hộ (thế
kỷ X TL) dịch vào khoảng 980, đời Triệu Tống (960-1279),
nhan đề: "Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp
Ðại Thừa Hiện Chứng Tam Muội Ðại Giáo Vương kinh", 30
quyển, số 882, tập 18, trang 341A-445B.
Một số khái niệm cơ bản của Mật
giáo như Tam đại, 4 thứ Mạn đồ la, Tam mật, Ngũ tướng
v.v... cần được quảng diễn trong một dịp khác.
Trên đây là những nét chính về
hệ thống kinh điển của Hán tạng, là sơ đồ cần thiết
để lần lượt tiếp cận với nội dung Kinh tạng.
-ooOoo-
Tham khảo:
1) Nghiên cứu kinh Lăng Già,
Thích Chơn Thiện và Trần Tuấn Mẫn dịch, Ban Giáo dục Tăng
Ni xb, 1992, tr.105.
2) Kinh Pháp Hoa, HT.Trí Quang dịch,
1994, T1, tr.6.
3) Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc,
Nhà Xuất bản Văn Hóa, 1997, T1, tr.226-227.
4) ÐTKÐCTT, T1, tr.886A.
5) ÐTKÐCTT, T16, tr.780B.
6) Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh
hoa, bản in 1997, tr.83-89.
7) Xem kinh Trường Bộ, T2, HT.Minh
Châu dịch, 1991, tr.529-547.
8) ÐTKÐCTT, T1, số 16, tr.250-252B.
9) ÐTKÐCTT, T1, số 17, tr.252B-255A.
10) ÐTKÐCTT, T1, số 26, tr.638C-642A.
11) ÐTKÐCTT, T1, số 1, tr.70A-72C.
12) Tưởng Duy Kiều, Ðại cương
triết học Phật giáo, Thích Ðạo Quang dịch, 1958, tr.61.
13) Chu biến, Hàm dung: Chu biến
là không một đối tượng nào là không hiện diện. Hàm dung
là không một pháp nào là không được thâu tóm, tức tính
chất dung thông vô ngại của vạn pháp.
14) Nghiên cứu kinh Lăng Già, sđd,
tr.5.
15) Về 10 Huyền môn có thể tham
khảo: - Ðại cương triết học Phật giáo, Thích Ðạo Quang
dịch, 1958. - Các tông phái Phật giáo, Tuệ Sĩ dịch, 1973.
- Chư Kinh Tập Yếu, Thích Duy Lực dịch giải, 1997. - Phật
học phỗ thông, HT.Thiện Hoa biên soạn, khóa 5, in trong T2,
1992, phần giới thiệu về tông Hoa Nghiêm.
16) ÐTKÐCTT, T1.
17) ÐTKÐCTT.
18) Kinh Trường A Hàm, quyển thứ
9, kinh số 10. ÐTKÐCTT, T1, tr.55C.
19) Kinh Bát Ðại Nhân Giác, ÐTKÐCTT,
T17, 779, tr.715B.
20) ÐTKÐCTT, T4.
21) ÐTKÐCTT, T8.
22) ÐTKÐCTT, T10.
23) ÐTKÐCTT, T11, 12.
24) ÐTKÐCTT, T13.
25) Phật Quang đại từ điển,
1988, tr.1416B-C.
26) ÐTKÐCTT, T1.
27) ÐTKÐCTT, T3.
28) ÐTKÐCTT, T4.
29) ÐTKÐCTT, T8.
30) ÐTKÐCTT, T10.
31) ÐTKÐCTT, T14.
32) ÐTKÐCTT, T17.
33) Lê Mạnh Thát, Lục Ðộ Tập
kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Tu thư Ðại học
Vạn Hạnh, 1972, tr.53.
34) Phật Thuyết Bột kinh sao, số
790, ÐTKÐCTT, T17, tr.729A-736A.
35) HT.Trí Quang, Kinh Vu Lan, 1994,
tr.48.
36) ÐTKÐCTT, T3.
37) ÐTKÐCTT, T8.
38) ÐTKÐCTT, T9. Xem thêm bài viết
của chúng tôi: "Nghĩ về một cách hàng phục ma trong một
bộ kinh". Tập văn Thành đạo, số 46, 1-2000, tr.33-42.
39) ÐTKÐCTT, T10.
40) ÐTKÐCTT, T12.
41) Dẫn theo HT.Trí Quang, Kinh Vu Lan,
sđd, tr.49.
42) Phật thuyết Vu Lan Bồn kinh,
ÐTKÐCTT, T16, số 685, tr.779A-779C.
43) Kinh Vu Lan, sđd, tr.50-51.
44) Từ Hải, Tối Tân Tăng đính
bản, Ðài Loan Trung Hoa thư cục ấn hành, 1994, tập Hạ, tr.5005B.
45) Dẫn theo HT.Trí Quang, Ngài La
Thập, Phật học viện Trung Phần xb, 1962, tr.85-86.
46) Kinh Ðại Phẩm Bát Nhã, số
223, 27 quyển, ÐTKÐCTT, T8.
47) Bách luận, số 1569, 2 quyển,
ÐTKÐCTT, T30.
48) Luận Ðại Trí Ðộ, số 1509,
100 quyển, ÐTKÐCTT, T25.
49) Kinh Pháp Hoa, số 262, 7 quyển,
ÐTKÐCTT, T9. Kinh Duy Ma, số 475, 3 quyển, ÐTKÐCTT, T14.
50) Kinh Tiểu phẩm Bát Nhã, số
227, 10 quyển, ÐTKÐCTT, T8. Luận Thập Nhị Môn, số 1568, 1
quyển, ÐTKÐCTT, T30.
51) Trung luận, số 1534, 4 quyển,
ÐTKÐCTT, T30.
52) Luận Thành Thật, số 1646, 16
quyển, ÐTKÐCTT, T32.
53) Kinh A Di Ðà, số 366, 1 quyển,
ÐTKÐCTT, T8.
54) Kinh Kim Cương, số 235, 1 quyển,
ÐTKÐCTT, T8.
55) Dẫn theo HT Trí Quang, Ngài La
Thập, sđd, tr.47.
56) Sử Trung Quốc, T1, sđd, tr.331-333.
57) Kinh Ðại Bát Nhã Ba La Mật
Ða, số 220, ÐTKÐCTT, T5, 6, 7.
58) Luận A Tỳ Ðạt Ma Ðại Tỳ
Bà Sa, số 1545, ÐTKÐCTT, T27.
59) Luận Du Già Sư Ðịa, số 1579,
ÐTKÐCTT, T30.
60) Luận A Tỳ Ðạt Ma Thuận Chánh
Lý, số 1562, ÐTKÐCTT, T30.
61) Tâm kinh Bát Nhã, số 251, ÐTKÐCTT,
T8.
62) Xưng Tán Tịnh Ðộ Nhiếp Thọ
kinh, số 367, ÐTKÐCTT, T12.
63) Kinh Hiển Vô Biên Phật Ðộ
Công Ðức, số 289, ÐTKÐCTT, T10.
64) Kinh Giải Thâm Mật, số 676,
ÐTKÐCTT, T16.
65) Luận Nhiếp Ðại Thừa, số
1594, ÐTKÐCTT, T31.(66) Luận Thành Duy Thức, số 1585, ÐTKÐCTT,
T31.
67) Ngũ chủng bất phiên: Năm trường
hợp được giữ lại nguyên bản, không nên dịch ra.
68) ÐTKÐCTT, T16, tr.802C.
69) ÐTKÐCTTu, T4, tr.147C.
70) ÐTKÐCTT, T8, tr.425C.
71) Kinh Trung A Hàm, số 26, ÐTKÐCTT,
T1, tr.421A-809C.
72) Câu: là rãnh nước, ngòi nước.
Cảng là sông lớn, thuyền bè có thể qua lại. Câu cảng ý
cũng như Dự lưu, tức dòng nước nhỏ hội nhập nơi sông
nước lớn.
73) Kinh Ðại Minh Ðộ, số 225,
ÐTKÐCTT, tr.482B, 482C, 483A, 484A...
74) Kinh số 20, ÐTKÐCTT, T1, tr.260C,
262B.
75) Kinh Lục Ðộ Tập, số 152,
ÐTKÐCTT, T3, tr.2B, 12B.
76) ÐTKÐCTT, T1, tr.164A.
77) ÐTKÐCTT, T1, số 87, tr.911B.
78) Kinh số 13, ÐTKÐCTT, T1, tr.237A.
Kinh số 150A, ÐTKÐCTT, T2, tr.875B.
79) Kinh số 46, ÐTKÐCTT, T1, tr.836B.
80) Kinh số 225, ÐTKÐCTT, T8, tr.479A,
479B, 479C, 480B.
81) Nt, T8, tr.479B.
82) ÐTKÐCTT, T1, tr.467A.
83) ÐTKÐCTT, T1, tr.237A.
84) ÐTKÐCTT, T1, tr.816A.
85) Kinh số 46, ÐTKÐCTT, T1, tr.836B.
86) ÐTKÐCTT, T1, tr.52B, tr.55A.
87) Kinh Tạp A Hàm, số 99, ÐTKÐCTT,
T2, tr.10, 18C, 56C...
88) ÐTKÐCTT, T25, tr.53A-53B.
89) Kinh số 151, ÐTKÐCTT, T2, tr.883C.
90) Kinh số 5, Bạch Pháp Tổ dịch,
ÐTKÐCTT, T1, tr.163B.
91) Kinh Quang Tán Bát Nhã, số 222,
ÐTKÐCTT, T8, tr.164C.
92) Kinh Trung A Hàm, kinh số 55, ÐTKÐCTT,
T1, tr.490C-491A.
93) Xin chú ý về phần niên đại
của thời kỳ lịch sử Trung Quốc sau nhà Tây Tấn (265-317).
Nhà Tây Tấn mất ngôi năm 317, hoàng tộc chạy xuống phương
Nam, đóng đô ở Kiến Nhiếp, lập ra nhà Ðông Tấn (317-419).
Sau đấy, các triều đại kế tiếp của phương Nam là: Lưu
Tống (420-478), Nam Tề (479-501), Lương (502-556) và Trần (557-588).
Về phương Bắc, sau khi nhà Tây Tấn sụp đỗ là tình trạng
hùng cứ của những bộ tộc miền Bắc, có tất cả 16 nước,
nhiều nước được tạo lập cả khi còn nhà Tây Tấn, chỉ
nêu ra mấy nước có liên quan tới Phật giáo: - Tiền Lương
(301-376), - Tiền Tần, Phù Tần (351-384), - Hậu Tần, Diêu Tần
(384-417), - Bắc Lương
397-439), - Bắc Ngụy, Hậu Ngụy,
Nguyên Ngụy (339-534). Về sau, Bắc Ngụy phân ra Tây Ngụy (534-556)
và Ðông Ngụy (534-550). Nhà Ðông Ngụy mất về tay nhà Bắc
Tề, Cao Tề (550-576). Nhà Tây Ngụy thì mất về tay nhà Bắc
Chu còn gọi là Vũ Văn Chu, Hậu Chu (557-579). Nhà Hậu Chu diệt
nhà Bắc Tề, thống nhất phương Bắc (576). Nhà Tùy (580-618)
diệt nhà Hậu Chu ở phương Bắc và nhà Trần ở phương Nam,
thống nhất đất nước (580).
94) Ðịnh Huệ dịch, Tập văn Suối
nguồn, số 4, Vu Lan 1999, tr.52-53.
95) Sử Trung Quốc, T1, sđd, tr.351.
96) Phật sở hành tán, số 192, 5
quyển, Bồ tát Mã Minh tạo, Ðại sư Ðàm Vô Sấm dịch, ÐTKÐCTT,
T4, tr.1A-54C. (Xem thêm bài viết của chúng tôi: "Phật sở hành
tán, tác phẩm thi ca đầu tiên thuộc Phật giáo Bắc truyền
viết về cuộc đời Ðức Phật", nguyệt san Giác Ngộ, số
26, Phật Ðản 1998, tr.16-21.
97) Ðại Trang Nghiêm kinh luận, số
201, 15 quyển, Bồ tát Mã Minh tạo, Pháp sư Cưu Ma La Thập
dịch, ÐTKÐCTT, T4, tr.277-349.
98) Dẫn theo HT Trí Quang, Ngài La
Thập, sđd, tr.82-83.
99) Kinh Kim Cương, HT Trí Quang dịch,
1994, tr.129-130.
100) Bát Nhã Vô Tri luận, in trong
Triệu luận, số 1858, ÐTKÐCTT, T45, tr.153A-154C.
101) Một bản của Ðại sư Nguyên
Khang, đời Ðường, số 1859, 3 quyển. Một bản của Ðại
sư Văn Tài, đời Nguyên, số 1860, 3 quyển, ÐTKÐCTT, T45.
102) Ðạo Phật ngày nay... Trần
Tuấn Mẫn dịch, 1997, tr.5.
103) Nghiên cứu kinh Lăng Già, sđd,
tr.110-111.
104) Ðại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm kinh sớ, 60 quyển, số 1735, ÐTKÐCTT, tập 35. Ðại Phương
Quảng Phật Hoa nghiêm kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao, 90 quyển,
số 1736, nt, T36.
105) Ðại cương triết học Phật
giáo, sđd, tr.107.
106) Tân Hoa Nghiêm kinh luận, số
1738, 40 quyển, ÐTKÐCTT, T36.
107) Kinh Trường A Hàm, kinh số
2, ÐTKÐCTT, T1, tr.11A-30B.
108) ÐTKÐCTT, T1.
109) ÐTKÐCTT, T15, tr.146A-148A.
110) Việt dịch kinh Kim Quang Minh,
ngoài bản dịch của TT Thiện Trì còn có bản dịch, chú giải
kỹ lưỡng của HT Trí Quang, mang tên: Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim,
1994.
111) Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo
sử luận I, 1974, tr.128-129. |