Phần III
- Bài 3
VÀI
SUY NGHĨ VỀ SỰ HỘI NHẬP
CỦA
PHẬT GIÁO VÀO NỀN
VĂN
HÓA VIỆT NAM
Minh Chi
Từ thời lịch sử
xa xưa, dân tộc Việt Nam đã có ý thức về vị trí địa
lý văn hóa của đất nước mình, là nằm giữa hai trung tâm
văn hóa lớn nhất của thế giới là Ấn Ðộ về phía Tây
và Trung Hoa ở phía Bắc. Cũng qua các thời kỳ lịch sử,
dân tộc Việt đã có sự giao thoa và chịu ảnh hưởng của
các nền văn hóa trên. Còn trung tâm văn hóa thế giới thứ
ba là trung tâm ở Hy Lạp, vùng Lưỡng Hà và Ai Cập thì ở
quá xa về Tây Bắc, cho nên ảnh hưởng đến nền văn hóa
nước ta không có mấy, không rõ nét.
Vị trí địa lý - văn hóa đặc
biệt đó, dù dân tộc Việt có muốn hay không, cũng tạo ra
một sự hội nhập văn hóa, không phải một sự hội nhập
văn hóa bình thường, mà một sự hội nhập văn hóa kéo dài
hơn hai mươi thế kỷ, một sự hội nhập của những tinh
hoa đến từ hai trung tâm văn hóa tầm cỡ thế giới là Ấn
Ðộ và Trung Hoa. Những tinh hoa văn hóa đó, được kết tinh
trong các tôn giáo lớn, Phật giáo từ Ấn Ðộ và Khổng,
Lão giáo từ Trung Hoa.
Một sự hội nhập lấy cơ thể
văn hóa bản địa làm chủ thể. Ðúng vậy, bản thân văn
hóa của dân tộc Việt Nam là cơ thể văn hóa chủ nhà. Nó
tiêu hóa các yếu tố văn hóa ngoại lai, tiếp thu yếu tố
này, loại bỏ yếu tố khác, biến những yếu tố ngoại nhập
thành xương máu, da thịt của cơ thể mình, giúp cho cơ thể
văn hóa chủ nhà tồn tại, phát triển và thăng hoa. Mô hình
hội nhập này thường được gọi là mô hình hữu cơ (1).
Mô hình thứ hai, theo tôi, chỉ là
hệ quả của mô hình hữu cơ, mặc dù người đề xướng
là Walter Lebenthal, gán cho nó một nhãn hiệu khó dịch là stimulus
diffusion. Ý tứ là văn hóa ngoại nhập tác động như chất
xúc tác, tạo ra một hiện tượng văn hóa có giá trị dân
tộc đích thực, mặc dù yếu tố xúc tác đó là ngoại lai.
Lebenthal minh họa mô hình này bằng ví dụ của Phật giáo
Ấn Ðộ, sau khi du nhập vào Trung Hoa, đã tác động như một
chất xúc tác, giúp người Trung Hoa tạo ra một Phật giáo
về cơ bản là Phật giáo Trung Hoa.
Một mô hình hội nhập thứ ba do
Arthur Link gợi ý, như là sự hỗn hợp (amalgam) của yếu tố
văn hóa ngoại nhập và các yếu tố văn hóa bản địa. Với
trường hợp cụ thể của Phật giáo Ấn Ðộ hội nhập vào
nền văn hóa Trung Hoa, thì tác giả nhận định như là một
tỗng hợp của tư tưởng Ấn Ðộ và những khái niệm, lý
tưởng Trung Hoa (a Synthesis of Indian thought and Sinic concepts and
ideals) (2).
Tôi cho rằng hai mô hình hội nhập
thứ hai và thứ ba, trên thực tế chỉ là một biến tướng
của mô hình thứ nhất mà thôi, tức là mô hình hữu cơ (organic
model). Trong đó, nền văn hóa chủ nhà được xem như là một
cơ thể tiêu hóa, gạn lọc các yếu tố văn hóa ngoại nhập,
đào thải mọi yếu tố mà dân tộc Việt Nam cho là có hại,
tiêu cực, tiếp thu mọi yếu tố mà dân tộc Việt nhận định
là có ích, tích cực, hỗ trợ cho sự tồn tại, phát triển
và thăng hoa của dân tộc Việt Nam, như là một dân tộc độc
lập, tự do, tự cường.
Ðó là một sự hội nhập mà dân
tộc Việt Nam làm chủ, lợi ích của dân tộc và đất nước
là chuẩn mực cao nhất của sự hội nhập, sự hội nhập
đó lại được thử thách và kiểm nghiệm bằng một bề
dày lịch sử hai mươi thế kỷ. Trong đó, đỉnh cao nhất,
rực rỡ và vinh quang nhất là hai triều đại Phật giáo Lý
- Trần, với những ông vua vừa là nhà Phật học, Thiền sư,
hay là Phật tử thuần thành. Trong suốt lịch sử nước ta,
có thể nói, không thời kỳ nào mà tôn giáo - cụ thể là
Phật giáo, hỗ trợ cho chính trị và xã hội một cách hiệu
quả đến thế. So với hai triều đại Ðinh và Tiền Lê, hai
triều đại độc lập đầu tiên sau hơn 1000 năm Bắc thuộc,
thì hai triều đại Phật giáo Lý và Trần rõ ràng là tương
đối ổn định, với mỗi triều đại kéo dài trên dưới
200 năm, trong khi đó thì hai triều đại Ðinh và Tiền Lê cộng
lại không đầy 50 năm.
Qua thực tế lịch sử cho thấy
rằng, Phật giáo sau khi hội nhập vào nền văn hóa nước
ta đã tạo ra một thế ỗn định xã hội kéo dài.
Phật giáo đến từ Ấn Ðộ và
Trung Hoa trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử, nhờ
công lao sáng tạo của các Thiền sư Việt Nam, đã tạo ra
một nền văn hóa Việt Nam đích thực. Một nền văn hóa trong
đó, những giá trị nhân bản sâu sắc, thực chất là siêu
dân tộc và quốc gia, lại mang hình thức dân tộc và quốc
gia Việt Nam. Và chỉ có như vậy, những giá trị nhân bản
cao cả của đạo Phật, một đạo có tầm cỡ quốc tế,
mới có thể bén rễ sâu sắc và cắm gốc vững bền trong
tâm hồn người Việt chúng ta.
Nhân dân Việt Nam, qua các thế hệ
đã làm được điều này, một phần là nhờ ở tính uyển
chuyển không giáo điều, tính bao dung không cố chấp của
đạo Phật, nhưng một phần không nhỏ là do sức sáng tạo
của mình.
Viết một bài nghiên cứu đầy
đủ và chi tiết về thuyết nghiệp báo đăng lên báo Giác
Ngộ, có thể được một số trí thức ưa thích, thế nhưng
vài ngàn chữ của nó e rằng ảnh hưởng không bằng hai chữ
tội nghiệp thốt ra một cách tự nhiên ở đầu lưỡi người
Việt Nam mỗi khi chứng kiến một tai nạn, một sự cố xảy
ra cho mọi người hay một số người. Nhân dân Việt Nam truyền
đạo theo ngẫu hứng sáng tạo của mình, điều này dù là
Tam tạng Pháp sư như Huyền Tráng cũng không thể làm được.
Bà mẹ Việt Nam mắng con "mày lục
tặc lắm!". Thật là hay, tất nhiên không thể thay được,
nhưng có thể hỗ trợ tốt cho câu trong kinh tạng Pàli: "Chánh
niệm tỉnh giác, hộ trì các căn...". Chúng ta giải thích:
"Hộ trì các căn", đề phòng gì? Chính là đề phòng 6 tên
giặc (lục tặc) sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thường
xuyên xâm nhập và quấy rối thân tâm con người.
Cũng không cần nói dông dài như
Lão Tử trong Ðạo Ðức kinh, chương 12:
"Ngũ sắc linh nhân mục manh,
Ngũ vị linh nhân nhĩ lung..."
Nghĩa là:
"Năm sắc khiến người mù
mắt,
Năm âm khiến người tai điếc..."
Các bà mẹ Việt Nam chỉ cần mắng
con "lục tặc", thay vì cả chương 12 cuốn "Ðạo Ðức kinh",
hay là đoạn câu hàm ý trong kinh tạng Pàli đã nêu. Có những
giáo lý cao siêu của Phật giáo, qua sự sáng tạo của nhân
dân Việt Nam, bèn trở thành dễ hiểu, mà cũng nhờ dễ hiểu
nên dễ thực hành, chẳng hạn:
"Thứ nhất là tu tại gia
Thứ hai tu chợ,
thứ ba tu chùa..."
Hay là:
Phật ở trong nhà,
Cầu Thích Ca ngoài đường v.v...
Ðó chính là hạt ngọc giáo lý: "Phật
tại tâm, Phật tức tâm, tu Phật là tu tâm, biện tâm".
Một giáo lý khích lệ mọi người
rằng, ở đâu tu cũng được, làm gì cũng tu được, rõ ràng
là đã khai thông con đường giác ngộ và giải thoát cho mọi
người, biến tu hành thành một nếp sống, đạo lý nhà Phật
thành một đạo lý sống.
Khác với các tôn giáo thần quyền
sùng bái một Thượng đế xa vời, đáng sợ hãi, Phật giáo
Việt Nam tạo ra hình ảnh một ông Bụt thân thương, gần
gũi phò hộ cho cô Tấm hiền lành, trong truyện "Tấm Cám".
Ðạo Phật hòa nhập vào nền văn
hóa của dân tộc Việt Nam như sữa hòa vào với nước, đến
mức không phân biệt được đâu là yếu tố của đạo Phật,
đâu là yếu tố của dân tộc. Ðức Phật đã gần gũi người
dân như vậy thì chùa Phật không thể xa dân. Nếu ngôi đình
biểu trưng cho ngôi thứ, tôn ti trật tự của Nho giáo, thì
ngôi chùa lại thể hiện tinh thần bình đẳng, dân chủ của
Phật giáo:
"Ðất vua, chùa làng, phong
cảnh Bụt"
Chùa không phải là của sư trụ trì
mà là của tập thể dân làng. Sư chỉ là ông thầy hướng
dẫn đời sống đạo đức và tâm linh của dân chúng mà thôi.
Chùa là trung tâm văn hóa của làng hay của nhiều làng, nếu
đó là một ngôi chùa lớn, một tỗ đình. Chùa là nơi tỗ
chức các lễ hội tôn giáo, đồng thời là trường học,
là nhà thương, là nơi nghỉ tạm của khách qua đường, thậm
chí còn là nơi trọ thường xuyên của những kẻ không nhà,
không cửa.
Mái chùa che chở hồn dân
tộc
Nếp sống muôn đời của tỗ tông.
Hai câu thơ của Huyền Không thật
là tiêu biểu rõ nét cho sự quyện chặt giữa đạo Phật
và dân tộc. Cũng chính sự gắn bó lâu đời giữa đạo Phật
và dân tộc đã tạo cảm hứng cho nhà thơ hiện đại Hồ
Dzếnh viết nên ý thơ:
"Trang sử Phật
Ðồng thời là trang sử Việt
Trải bao độ hưng suy
Có nguy mà chẳng mất..."
Tuy Nho giáo du nhập vào Việt Nam ta
đã lâu, nhưng mức độ phổ cập của nó không thể nào so
sánh được với đạo Phật. Chứng cớ là tâm sự của nho
sĩ Lê Quát đời Trần được chép trên một văn bia đặt
tại chùa Thiên Phúc (Bắc Giang):
"... Ta từ lúc nhỏ đọc sách, chăm
lo việc cổ kim, cũng rõ được ít nhiều đạo lý thánh hiền,
để khai hóa thứ dân, mà chưa được người trong một làng
tin ta. Ta thường đi du lãm sơn xuyên, cùng Nam cực Bắc, tìm
những chỗ gọi là học cung, là văn miếu, thì rất ít thấy,
vì vậy ta rất hỗ thẹn với Phật đồ, cho nên mới viết
ra bài này...".
Bài văn bia của Lê Quát, một nho
sĩ không có thiện cảm gì với đạo Phật, có thể xem là
một sử liệu đáng giá, cho thấy mức độ phổ cập của
đạo Phật, và sở dĩ được như vậy là vì đạo Phật của
phái thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông kiêm Thiền sư sáng
lập, đã thật sự được lòng dân, đã giải đáp được
những nhu cầu tâm linh và tình cảm của dân chúng, hướng
dẫn họ sống theo nếp sống 5 giới, 10 thiện, tránh điều
ác, làm điều lành.
Tin ở sức mình, tin ở dân tộc
và đất nước mình, tin ở luật nhân quả nghiệp báo, động
viên toàn dân hướng tới chân-thiện-mỹ, đó là công lao
của văn hóa Phật giáo, là sự sáng tạo của nhân dân Việt
Nam.
Làng là hạt nhân của sinh hoạt
xã hội Việt Nam. Ðạo Phật đi vào làng với những chùa
làng; hầu như làng Việt Nam nào cũng có chùa, thậm chí có
tới hai, ba chùa. Chùa nằm ở rìa làng, thậm chí ngay ở gần
chợ và được gọi là chùa chợ. Ngoài ra, còn có chùa núi,
chùa hang, thường là nơi hành hương chiêm bái của nhân dân
cả một vùng, hay thậm chí của cả nước, nếu đó là một
thắng cảnh nổi tiếng. Trẩy hội chùa hàng năm là một nét
độc đáo và tốt đẹp của sinh hoạt dân tộc, và cũng là
đề tài gợi cảm hứng cho nhiều thi sĩ, như nhà thơ của
hồn quê Việt Nam đã viết:
"Trên đường cát mịn một
đôi cô
Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
Lần làn tràng hạt niệm Nam mô!"
Con người vừa là chủ thể sáng tạo
ra văn hóa, vừa là kẻ hưởng thụ văn hóa, đồng thời cũng
lại là đối tượng, là nguồn cảm hứng vô tận, là kho
chủ đề không bao giờ cạn của sáng tạo văn hóa, nghệ
thuật... Chừng nào mà Phật giáo Việt Nam cung cấp được
cho nền văn hóa Việt Nam những chân giá trị nhân bản, tôn
vinh con người, làm đẹp cuộc sống con người thì Phật giáo
sẽ mãi mãi trường tồn trên đất nước này. Ðó chính là
chức năng, là sự nghiệp của những người con Phật ở Việt
Nam, không kể người đó là tu sĩ hay tại gia, mỗi người
hãy tùy tâm, tùy sức đóng góp vào sự nghiệp thiêng liêng
và cao cả đó, một sự nghiệp mà tự thân nó đã là nguồn
khích lệ, cổ vũ cho những người tham gia rồi, không kể
thành tích đạt được như thế nào.
-ooOoo-
Ghi chú:
(1) Mô hình này chính là cơ sở
cho thuyết sử học của các triết gia hàng đầu như Hegel,
Spengler, Toynbee. Anh ngữ thường gọi là organic model (H.Robinson
- 1967. Early Madhyamika in India and China).
(2) Xem Early Madhyamika in India and China
(phái Trung luận sơ kỳ ở Ấn Ðộ và Trung Hoa). Richard Robinson,
Madison, Milwaukee and London, 1967, tr.7.