Chương
Hai - Pháp Bảo
Tiết VIII
Giới học
Giới học là một
trong ba học: Giới, Ðịnh, Tuệ. Ba học còn được gọi là
ba vô lậu học. Gọi là vô lậu học là vì ba học này đưa
đến đoạn trừ các lậu hoặc, đưa đến giải thoát mà
không phải đưa đến các phước báo sanh thiên.
Ý Nghĩa Của
Giới
Thông thường, Giới được hiểu
là ngăn ngừa điều quấy, dứt dừng điề ác ("phòng phi chỉ
ác"), hoặc ngưng điều ác và làm điều thiện ("chỉ ác,
tác thiện").
Trong Bát Chánh đạo, Giới là giới
uẩn gồm có chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Ở đây
chỉ sự ngăn ngừa các hành động lỗi lầm của thân và
khẩu. Khi các hành động lỗi lầm không được làm thì tránh
được nhiều sự tổn hại cho những người khác. Ðây đã
nói lên ý nghĩa "tác thiện" của giới.
Chữ Giới trong Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
(Sk: Pràtimoksa, Pàli: Patimokkha) có nghĩa là Biệt giải thoát
hay Xứ xứ giải thoát, Tùy thuận giải thoát. Biệt giải
thoát là giải thoát từng phần; giữ giới nhiều thì giải
thoát nhiều, giữ giới ít thì giải thoát ít. Tùy thuận giải
thoát là giải thoát tùy thuộc vào quả hữu vi hay vô vi của
người hành.
Từ điển của Rhys Davids cắt nghĩa
Giới (Silà) có gốc từ ngữ căn Sìl. Ngữ căn Sìl có hai
nghĩa: Upadhàranà (luân lý, đạo đức của Phật giáo, cách
cư xử, tư cách đạo đức) và Samàdhi (Ðịnh).
Từ Patimokkha thì có nghĩa là, theo
cách phân tích từ ngữ, trói buộc các hành động, giữ gìn,
thúc liễm các hành động của thân và khẩu không để cho
rơi vào đường ác, sai lầm, tổn hại mình và người. Ví
như buộc mồm trâu để ngăn nó ăn lúa mạ.
Giới trong nghĩa của ngày trai giới
(Pàli: Uposatha, Sk. Upavasatha, Hán dịch là Bố-sa-tha), có nghĩa
là tịnh trú, trưởng dưỡng, trưởng tịnh và thiện túc.
Tăng Chi (III - A) định nghĩa ngày
trai giới là ngày thực hành hạnh sống của vị A-la-hán (chỉ
giữ tám giới).
Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo,
Thế Tôn dạy: Giới là nền tảng của bốn Niệm xứ, bốn
Chánh cần, bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề
phần và Tám Thánh đạo phần. Ví như đất là nền tảng,
không có nó thì các loài động vật không thể di chuyển,
cũng thế, không có Giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo
không thể được tu tập viên mãn.
Qua các định nghĩa trên, Giới giúp
cho hành giả đạt được hai mục tiêu: không làm các điều
ác (chư ác mạc tác), làm các việc lành (chúng thiện
phụng hành). Mục tiêu thứ ba của Phật giáo là giữ tâm
ý thanh tịnh, loại bỏ hết các lậu hoặc (tự tịnh kỳ
ý) và cũng là mục tiêu cứu cánh, cần phải nhờ đến
việc thực hành định uẩn và tuệ uẩn.
Thời Gian Và
Lý Do Thiết Lập Giới
Theo tài liệu sử của Edward J. Thomas
trong cuốn "Ðời sống của đức Phật" (The Life of Buddha),
Giáo hội Ni được thành lập từ năm thứ năm sau ngày Thế
Tôn thành Ðạo. Do đó, qua năm thứ sáu một số giới luật
đã bắt đầu hình thành, và hình thành tương đối rõ là
vào năm thứ mười sau ngày thành Ðạo. Luật tạng thì ghi
mãi đến năm thứ mười ba sau ngày thành Ðạo giới luật
mới hẳn nhiên được hình thành, do Tôn giả Ưu-ba-ly (Upàli)
đặc trách. Bấy giờ Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha)
ra đời.
Vì sao Giới bổn không được thiết
lập ngay từ năm đầu của Giáo hội? -- Theo truyền thống,
chư Thế Tôn chỉ thiết lập các giới điều, khi nào thấy
cần thiết, khi nào đầy đủ nhân duyên. Khi có một hiện
tượng vi phạm gây nên một ảnh hưởng không tốt cho sinh
hoạt của Tăng chúng thì Thế Tôn mới kiết giới, thành lập
thêm một giới điều để ngăn ngừa hiện tượng xấu ấy
xảy ra về sau. Giới bổn cũng thế, trong những năm đầu,
chư Tỷ-kheo sinh hoạt thanh tịnh trong khuôn khổ của Chánh
pháp nên Thế tôn không đề cập đến Giới bổn, mà chỉ
trình bày Giới dưới những hình thức đơn giản và tổng
quát nhất là hình thức hộ trì các căn, hoặc dưới hình
thức chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng của Bát Thánh
đạo. Mãi đến năm thứ mười ba sau ngày thành Ðạo, bấy
giờ có nhiều hiện tượng sinh hoạt đi ra ngoài đời sống
phạm hạnh, Thế Tôn mới thành lập giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa.
Một hôm, Tôn giả Upàli bạch Thế
Tôn: "Bạch Thế Tôn, do những mục đích nào các học pháp
được thiết lập cho các đệ tử của Như Lai và Giới bổn
Patimokkha được tuyên đọc?".
Thế Tôn dạy, do mười mục đích
mà các học pháp được thiết lập và Giới bổn Pàtimokkha
được tuyên đọc:
- Ðể Tăng chúng được
cực thịnh,
- Ðể Tăng chúng được an ổn,
- Ðể chặn đứng các người cứng
đầu,
- Ðể các thiện Tỷ-kheo được
sống an ổn,
- Ðể chế ngự các lậu hoặc
ngay trong hiện tại,
- Ðể chặn đứng các lậu hoặc
trong tương lai,
- Ðể đem lại tịnh tín cho những
người không tin,
- Ðể làm tịnh tín tăng trưởng
cho những người có lòng tin,
- Ðể diệu pháp được tồn tại,
- Ðể luật được chấp nhận.
(Tăng Chi bộ Kinh 3B, tr. 73).
Qua mười mục đích trên, Giới bổn
chỉ giới hạn ở hai phần "chỉ ác" và "tác thiện" trong
ba phần - chỉ ác, tác thiện và tự tịnh kỳ ý - mà Phật
giáo nhắm đến.
Như thế, Giới qua Nikàya, chỉ gồm
vào các giới của tại gia và xuất gia. Ðây là nội dung của
Nhiếp luật nghi giới hay gọi là Biệt giải thoát giới.
Nội Dung Các
Loại Giới
Có nhiều hình thức phân loại Giới.
Cách phân loại thứ nhất, giới mang ý nghĩa rộng rãi của
"Ðại thừa". Ở đây giới có ba loại:
- Loại một gọi là Nhiếp
luật nghi giới, gồm có các giới của tại gia và xuất gia:
ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới và cụ túc
giới.
- Loại hai gọi là Nhiếp thiện
pháp giới, lấy việc thực hành tất cả việc thiện làm
giới.
- Loại ba gọi là Nhiêu ích hữu
tình giới, lấy việc làm lợi ích cho tất cả chúng sanh làm
giới.
Cách phân loại thứ hai cũng mang ý
nghĩa rất rộng rãi của Ðại thừa, gồm có:
- Biệt giải thoát giới,
đấy là nội dung của Nhiếp luật nghi giới.
- Ðịnh cộng giới, là giải thoát
do định sinh, lấy định làm giới. Do tu Thiền định mà thâm
tâm thanh tịnh, giới thể được cụ túc.
- Ðạo cộng giới, là giải thoát
do tuệ sinh, lấy tuệ làm giới. Do tu vô lậu nghiệp mà được
trí vô lậu, giới thể được viên mãn.
Qua sự phân loại giới trên, nhiếp
thiện pháp giới và nhiêu ích hữu tình giới là thuộc Ðại
thừa giới; biệt giả thoát giới và định cộng giới thì
được gọi là hữu lậu giới; đạo cộng giới được gọi
là vô lậu giới.
Luận Câu Xá thì gọi biệt giải
thoát luật nghi (hay biệt giải thoát giới) là Dục giới triền
giới; gọi định sanh luật nghi (hay định cộng giới) là
Sắc giới triền giới; và gọi đạo sanh luật nghi (hay đạo
cộng giới) là Vô lậu giới.
Trong giới hạn của phần giới
được trình bày ở đây, chúng ta không đi vào các chi tiết
của giới, cũng không đi vào các giới luật xuất gia, mà
chỉ trình bày những nét cơ bản của Giới học.
Tính Chất Và
Nền Tảng Của Giới
Cứ theo từng giới cấm một, cũng
như toàn thể Giới bổn, đặc biệt là mười giới căn bản
chung cho cả tại gia và xuất gia liên hệ đến thân, khẩu
và ý, chúng ta có thể tìm ra tính chất của giới và nền
tảng trên đó Giới được thiết lập.
Ở đây, đơn cử giới bất sát
(không được sát sanh). Căn bản của giới này là không giết
người, thứ đến là không giết hại các loài chúng sanh khác.
Về phần người giữ giới, khi giữ gìn giới này thì ngăn
trừ được sân tâm, nuôi dưỡng được từ tâm, khiến cho
tâm được an tịnh, an lạc ngay trong hiện tại; từ đây,
người giữ giới không tạo các nghiệp ác để phải chịu
thọ quả khổ đau trong tương lai. Về phần các người khác
và chúng sanh khác, khi giới bất sát được giữ gìn thì đời
sống của họ được thêm phần bảo đảm an toàn, an ổn,
khỏi phải gánh chịu các hậu quả do lòng sân hận, ác hại
của người khác gây ra trong hiện tại.
Ðối với giới "bất dâm", "bất
đạo", người giữ giới ngăn được lòng tham và không tạo
thêm ác nghiệp gây ra khổ đau trong hiện tại và tương lai;
tha nhân và các loài chúng sanh khác thì tránh được các tổn
hại và sống an ổn.
Kết quả việc giữ giới như thế
tựu trung tính chất của nó là đem lại an vui cho mình và
cho người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, tạo
nên lòng tin cho kẻ khác. Ðem lại lợi ích an lạc và giải
thoát cho tự thân người giữ giới, đấy là trí tuệ; đem
lại lợi ích an lạc cho tha nhân và các loài khác, đấy là
từ bi. Trí tuệ và từ bi là nền tảng trên đó Giới được
thiết lập.
Hướng đi của giới là đem lại
lợi ích, an lạc cho mình và người, nên giới giúp đỡ người
tu tập thấy nhẹ nhàng thân và tâm, an lạc trong từng bước
đi. Giới đúng nghĩa của nó, không có ý nghĩa nào trói buộc
hay tù túng cả. Ngoài một số hành động, nếu làm, hẳn
nhiên phá đổ hạnh thanh tịnh nên tuyệt đối bị cấm chỉ,
các sinh hoạt còn lại của người tu tập giải thoát đều
được tùy duyên mà châm chước, khai mở. Ngay cả trong các
trường hợp bị cấm chỉ, nếu vì "nghịch duyên" mà bị
rơi vào (như là các "các tai nạn" liên hệ giới xảy đến),
ngoài sự tác ý của hành giả, thì sẽ không phạm, nếu người
bị nạn không khởi lên tham tâm hay sân tâm tùy thuận theo
sự kiện đang xảy ra (ví dụ bị cưỡng hiếp, nếu không
khởi lên lạc tâm thì không phạm).
Về các giới trọng thì tính chất
khai mở của chúng còn có phần hạn chế, nhưng với các giới
nhẹ thì tánh chất của chúng rất là cởi mở, linh động,
phóng khoáng.
Luật tạng ghi rằng một lần các
Phật tử và ngoại đạo chê trách các vị Tỷ-kheo đứng
mà tiểu tiện, cho rằng cung cách đó là thô tháo, thiếu lịch
nhã. Khi sự việc này được trình lên Thế Tôn, Thế Tôn
bèn dạy: "Vậy thì từ nay các Tỷ-kheo, ngồi mà tiểu tiện".
Nhưng ở một quốc độ khác, khi chư Tỷ-kheo ngồi tiểu tiện
thì lại bị chê rằng các đệ tử của Thế Tôn toàn là
nữ giới. Khi sự việc này trình lên Thế Tôn, Thế Tôn lại
dạy: "Nếu vậy, thì đứng mà tiểu vậy". Thế có nghĩa là
tùy theo quốc độ, tùy theo văn hóa mà thích ứng. Ðấy là
một trường hợp điển hình nói lên tính chất linh động
và cởi mở của Giới.
Như vậy giới trong giáo lý Phật
giáo, không mang tính cố chấp, cứng nhắc như là giới điều
(dogma), mà mang nghĩa tự nguyện, thiết thực đem lại lợi
ích cho mình và người, nhằm nuôi dưỡng và phát triển tín
tâm của mình và người.
Giới của Phật giáo một mặt ngăn
ngừa các lậu hoặc trong hiện tại và tương lai, một mặt
biểu hiện một nếp sống văn minh, lịch nhã, phù hợp với
nền văn hóa và văn minh của loài Người.
Vị Trí Của
Giới Trong Hệ Thống Giáo Lý Phật Giáo
Trường Bộ Kinh và Trường A-hàm
đề cập đến Giới nhiều hơn là các bộ Kinh còn lại. Ðiển
hình là Kinh Phạm Võng (của Nikàya) và Kinh Phạm Ðộng (của
Trường A-hàm) xác định rõ vị trí của Giới trong hệ thống
giáo lý Phật giáo. Trong hai kinh này, Thế Tôn xác nhận chỉ
có các kẻ phàm phu mới ca ngợi, tán thán Như Lai về Giới
đức. Lời ca ngợi, tán thán Như Lai như thật chân chánh là
ca ngợi, tán thán về Tuệ đức: Như Lai đã chứng tri, giác
ngộ và tuyên thuyết các pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,
tịch tịnh, mỹ diệu, vượt khỏi tầm luận lý suông, rất
tế nhị, chỉ có các bậc trí tuệ mới nhận hiểu.
Qua lời xác nhận ấy của Thế
Tôn, ta thấy Giới chỉ mới là bước đi căn bản của Phật
giáo. Thực sự nói rõ hơn, Giới chỉ là bước đầu của
năm bước đi: Giới, Ðịnh, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát
tri kiến (tri kiến biết rằng đã giải thoát).
Giới là bước đi đầu, nhưng là
bước đi nền tảng. Nếu hành giả rơi vào giới cấm thủ
(giữ giới sai lạc của ngoại đạo), hỏng từ bước đi
đầu này, thì không thể nào thực hiện được bốn bước
đi kế tiếp.
Ðấy là ý nghĩa của từ ngữ Giới
trong Nikàya và A-hàm.
Qua đến Bắc tạng (Ðại thừa)
thì từ Giới mang ý nghĩa rộng rãi bao la hơn nhiều: Giới
bao gồm cả Ðịnh và Tuệ. Biệt giải thoát giới (hay Nhiếp
luật nghi giới) và Ðịnh cộng giới là thuộc Hữu lậu giới,
Ðạo cộng giới thuộc về Tuệ giải thoát hay Vô lậu giới.
Ðại Tạng Bát-nhã thì xếp Giới
vào trong một sáu chi phần tu tập của Bồ-tát gọi là "Lục
Ba-la-mật". Giới Ba-la-mật thì đã đồng nghĩa với đoạn
trừ hết chấp thủ tướng, hay đồng nghĩa với đoạn trừ
hết lậu hoặc, đây là Tuệ giải thoát.
Tuy có cái nhìn khác nhau trong sự
phân loại và trình bày về Giới học của Nam tạng và Bắc
tạng, nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ vào nội dung thì thấy rõ
không có sự mâu thuẫn thực sự nào cả. Nam tạng thì trình
bày giới hạn Giới ở mức độ như đã được trình bày,
qua giới hạn đó thì Nam tạng bàn đến phần Ðịnh và Tuệ.
Sự phân ranh giới hạn này có tính cách hình thức và quy
ước hơn là nội dung tâm thức của người hành trì giới.
Ở Bắc tạng, thì Ðịnh và Tuệ có thể cùng được tu chung
với Giới; ở người hành trì Giới, đạt đến giới Ba-la-mật
hẳn là đòi hỏi người hành trì Giới phải có đầy đủ
Ðịnh và Tuệ. Thiếu Ðịnh và Tuệ thì hành giả không thể
nào đạt được kết quả hành giới mà ly hết thảy các
tướng chấp thủ.
Thực sự, cả Nam tạng và Bắc
tạng đều xác nhận không thể tách rời riêng rẽ Giới,
Ðịnh, Tuệ. Nhìn vào tám chi phần trong Bát Thánh đạo thì
thấy hiển nhiên điều đó. Giới (hay chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng) không thể gọi là Chánh giới, nếu không có mặt
của Tuệ (chánh kiến và chánh tư duy). Thực hiện Giới cũng
chính là thực hiện Tuệ, thực hiện Tuệ cũng chính là thực
hiện viên mãn Giới.
Hiểu Ý Nghĩa
Ðúng Ðắn Của Giới Và Phạm Giới
Vấn đề phạm giới đưa đến
kết quả nặng, nhẹ khác nhau giữa những người tu tập có
tâm lý giải thoát khác nhau, dù họ phạm cùng một lỗi. Hậu
quả họ đón nhận cũng khác nhau trong hiện tại và tương
lai.
Phẩm Hạt Muối (Tăng Chi Bộ Kinh
I) ghi sự cắt nghĩa rõ ràng của Thế Tôn về trường hợp
này. Một người dân đen đánh trộm một con dê của một
nhà giàu, có thế lực có thể bị đánh đập đổ máu ngay
tại chỗ và bị tù tội. Nhưng một đại quan của triều
đình bắt trộm một con dê của nhà giàu, có thế lực ấy
thì không bị đánh đập, cũng không bị tù tội. Ví như một
nắm muối thả vào một hồ nước lớn hay con sông lớn thì
độ mặn không đáng kể, nhưng nếu để nắm muối ấy vào
một ghè nước thì độ mặn lại đáng kể. Cũng thế, cùng
phạm một tội, với người tâm tư bủn xỉn, không tu tập
Giới, Ðịnh, Tuệ thì kết quả có thể đi vào địa ngục;
nhưng với người có tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ, có từ tâm
rộng rãi thì xem như kết quả không có (triệt tiêu).
Kinh Ðại Nghiệp Phân Biệt (Trung
Bộ Kinh III) trình bày, một người có chánh kiến và chánh
tín trước lúc chết có thể sanh Thiên giới dù trong đời
sống đã tạo nên mười ác nghiệp; trái lại một người
có tà kiến và đầy nghi tâm trước khi chết có thể đi vào
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, dù sanh tiền thường tạo
mười thiện nghiệp. Sự có mặt của chánh kiến của phàm
phu đã có ảnh hưởng lớn như thế trong việc thác sinh, huống
nữa là sự có mặt của Tuệ giác.
Thường về mặt giới tướng, sự
phạm tội được buộc tội nếu hội đủ ba điều kiện:
- Sửa soạn để phạm.
- Hành động cụ thể về sự vi
phạm.
- Cố ý.
Trong ba điều kiện để buộc tội
ấy, hai điều kiện là thuộc phần tác ý của tâm. Thành
thử vấn đề của giới đặt ra một cách rõ ràng là để
giúp cho con người giữ gìn tâm thức được trong sạch, thanh
tịnh, lương thiện. Phạm giới có nghĩa là xác định tâm
thức bị hoen ố. Như thế, vấn đề giữ giới thực ra là
vấn đề giữ cho ý thức thanh tịnh, căn bản là theo dõi
ý và chế ngự ý. Với ai mà tu giữ ý thức được thanh tịnh,
giác tĩnh thì hẳn nhiên người ấy có giới thể được tròn
đầy.
Giới dù cho có thiết lập nên nhiều
giới điều, căn bản vẫn là có gốc ở ý thức. Giữ niệm
được thanh tịnh thì giới thanh tịnh. Có thể phát biểu
rằng chỉ có một giới căn bản là ý giới: rời xa các ác
pháp, bất thiện pháp, rời xa tham ái, sân hận và chấp thủ.
Giới có công năng rõ ràng, qua phần
trình bày ở trên, là đem lại an lạc và hạnh phúc lâu dài
cho mình và cho người trong hiện tại và tương lai. Giữ giới
là giữ gìn nguồn an lạc hạnh phúc ấy; phạm giới là gây
tổn hại đến nguồn an lạc, hạnh phúc ấy.
Giới, như thế không phải dành
riêng cho hàng xuất gia hay chỉ dành riêng cho hàng Phật tử
tại gia, cũng không phải chỉ dành riêng cho những người
lớn tuổi mà là chung cho tất cả mọi người trong mọi lứa
tuổi, cho những ai muốn sống đem lại an lạc, hạnh phúc
cho mình và người trong hiện tại và trong cả tương lai.
Nếu hạnh phúc là đối tượng
mà nhân loại mãi đi tìm, thì hẳn đúng giới là những gì
mà nhân loại cần nắm giữ trên đường đi đến hạnh phúc
ấy. Ðã đến lúc con người cần loại bỏ hết thảy ngộ
nhận về giới của giáo lý Phật giáo để tiến lại gần
hơn với giơi và nắm giữ giới thân ái như nắm giữ chính
hạnh phúc của mình./.