Theo
tinh thần Phật giáo Đại thừa, chư vị Bồ tát tùy loại
ứng hiện thân, nghĩa là mang thân hình nào có thể giúp cho
nhiều người hướng thiện, an vui, giải thoát thì các Ngài
hiện diện với thân hình đó; vì các vị Bồ tát xem thân
vật chất này như chiếc áo mặc bên ngoài, hay một phương
tiện để thực hiện sáu pháp Ba la mật của Bồ tát hạnh.
Thời
Đức Phật tại thế, bà Ma ha Ba Xà Ba Đề cùng với hàng
trăm cung nữ ở thành Ca Tỳ La Vệ đã được Đức Phật
cho xuất gia và về sau, cũng đã có những vị Tỳ kheo ni chứng
đắc từ Sơ quả cho đến quả vị A la hán. Như vậy, giáo
đoàn của Đức Phật đã công nhận sự hiện diện của hàng
Tỳ kheo ni; nói rộng hơn, Đức Phật còn công nhận cả hàng
cư sĩ tại gia có thể làm công việc cứu nhân độ thế của
Bồ tát. Có thể nói, theo kiến giải của kinh điển Đại
thừa thì hàng tứ chúng của Đức Phật gồm có Tỳ kheo,
Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đều được coi là hiên thân
Bồ tát nối gót theo Phật để tự rèn luyện bản thân thăng
hoa, vừa làm lợi ích cho cuộc đời.
Và
kinh Hoa Nghiêm, một bộ kinh lớn của tư tưởng Đại thừa,
đã thể hiện rõ nét tinh thần này qua hình ảnh của Thiện
Tài đồng tử cầu đạo với 53 vị thiện tri thức, trong
đó có hàng nữ giới như Tỳ kheo ni Sư Tử Tần Thân và các
nữ cư sĩ như Hưu Xã Ưu bà di, Từ Hạnh đồng nữ, Cụ Túc
Ưu bà di, Bất Động Ưu bà di và bà Tu Mật Đa. Kinh Hoa Nghiêm
đã giới thiệu những phụ nữ tại gia và xuất gia làm được
những việc khó làm đến mức gọi là bất khả tư nghì mà
hàng nam giới bình thường không làm được. Nói cách khác,
kinh điển Đại thừa nhấn mạnh đến năng lực tiềm ẩn
vô cùng vô tận trong con người, kinh gọi là bí mật tạng,
nếu biết phát huy đúng đắn khai thác trọn vẹn. Tỳ kheo
ni Sư Tử Tần Thân và các Ưu bà di mà kinh Hoa Nghiêm đưa
ra là những người đã nhận ra và phát huy được năng lực
vô song cua chính mình, mới trở thành mẫu người siêu việt
được kinh điển Đại thừa đề cao.
Từ
xa xưa, hàng nữ giới tu hành vào thời Đức Phật tại thế,
cho đến mẫu người phụ nữ được ghi lại trong kinh điển
Đại thừa thể hiện được hiểu biết trong sáng, năng lực
siêu tuyệt và đạo hạnh đáng kính ngưỡng như vậy. Đến
đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, có các vị Ni làm nên đạo
nghiệp phải kể đến Sư bà Diệu Tịnh, sư bà Diệu Không,
Ni trưởng Như Thanh… đã khởi đầu cho việc hình thành và
phát triển của Ni giới Việt Nam. Và đến nay, chư Ni đã
xây dựng được giáo đoàn lên đến hàng vạn người.
Riêng
hệ phái Khất sĩ cũng có những vị Ni nổi danh như quý sư
bà Huỳnh Liên, Bạch Liên, Tạng Liên... đa thành lập được
Ni giới Khất sĩ dấn thân trên mọi nẻo đường đời để
truyền bá Chánh pháp, cứu độ rất nhiều người. Điều
này chứng tỏ năng lực giáo hóa của chư Ni Việt Nam rất
đáng kể ở thế kỷ XX.
Có
thể nói ngày nay, số lượng chư Ni ở Việt Nam đông hơn
chư Tăng, trong đó có nhiều vị tốt nghiệp học vị thạc
sĩ, tiến sĩ. Vì vậy, thiết nghĩ chư Ni có thể tham gia vào
mọi lãnh vực hoạt động; nhưng quan niệm Tiểu thừa trong
giới Tăng Ni, Phật tử không phải không còn, nghĩa là quan
niệm phân biệt giới tánh và phân biệt hình thức tu tại
gia và xuất gia vẫn còn rất mạnh, nên không thấy được
năng lực siêu việt tiềm ẩn trong từng con người. Chính
điều này đã tạo ra một sức cản lớn cho tầm hoạt động
của chư Ni và giới cư sĩ ở Việt Nam.
Chúng
tôi mong rằng trên bước đường thắp sáng ngọn đèn trí
tuệ của Đức Phật, cần có cái nhìn đúng với sự thật
để phát huy được nhận thức trong sáng và năng lực làm
lợi ích cho đời, làm đẹp cho đạo, không luận là hàng
nữ lưu hay nam giới, bất kể là người xuất gia hay tại
gia, theo tinh thần của kinh Hoa Nghiêm đã gợi mở. Có như
vậy, chúng ta mới tận dụng được chất xám của tất cả
mọi người thuộc mọi thành phần xã hội, vừa thể hiện
được chân lý bình đẳng của Đức Phật dạy, vừa xây
dựng thế giới Ta bà được an vui và phát triển bền vững.
HT
THÍCH TRÍ QUẢNG
07-06-2008
11:23:46