Phần
2
Hỏi:
Pháp
môn Tổ sư thiền chỉ cần một câu thoại đầu, hỏi lên
khởi tâm không biết liên tục sẽ kiến tánh. Nhưng người
chưa biết đạo Phật, con thiết nghĩ rất cần đọc kinh sách
cho hiểu để có lòng tin tự tâm. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Cơ
bản tham Tổ sư thiền là tin tự tâm và phát nghi tình. Đối
với những người chưa tin tự tâm phải cần coi kinh sách
để tăng cường lòng tin tự tâm. Cho nên, tôi hoằng Tổ sư
thiền cũng dịch kinh viết sách, để cho những người chưa
đủ lòng tin tự tâm được tin, thì họ thực hành mới mau
đạt đến kiến tánh. Mặc dù, Phật Thích Ca truyền pháp
môn ‘từ nghi đến ngộ’ này là bất lập văn tự, nghĩa
là tự tánh khỏi cần qua văn tự, không phải phế bỏ phương
tiện văn tự.
Nếu
phế bỏ văn tự tại sao Phật có đủ thứ kinh điển để
làm gì? Mà chư Tổ có ngữ lục, ngài Tăng Xán có Tín Tâm
Minh, Lục Tổ có Pháp Bảo Đàn Kinh, làm sao bỏ văn tự! Chỉ
là không chấp vào văn tự. Lợi dụng văn tự để cho mình
hiểu Phật tánh vốn lìa văn tự. Tất cả kinh sách đều
là phương tiện, tất cả lời nói của chư Phật chư Tổ
đều là phương tiện.
Mình
biết là phương tiện, không nên chấp vào chỗ đó. Khi đã
tin tự tâm thì những thứ ấy không cần nữa, nhưng không
phải phế bỏ; mình không cần mà người khác cũng còn cần,
vô lượng vô biên chúng sanh vẫn còn cần; đâu phải mình
không cần mà người khác không cần! Phật thuyết pháp 49
năm dù nói không có nói một chữ, nhưng kinh sách lưu hành
trên thế gian mênh mông, xem suốt đời không thể hết. Vì
vậy nói không cần kinh sách là không đúng.
Hỏi:
Theo
chư tôn đức hoằng pháp môn Tịnh độ chỉ cần niệm Phật
đến nhứt tâm bất loạn, khi lâm chung đức Phật A Di Đà
rước về cõi Tây Phương Cực Lạc; thậm chí không cần niệm
đến nhứt tâm bất loạn, chỉ cần niệm được 10 câu, như
Trương Thiện Hòa làm nghề mổ trâu nhờ niệm được 10 câu
cũng về được Tây Phương Cực Lạc. Vậy pháp môn quá dễ
dàng, giống như chiếc thuyền buông xuôi theo giòng nước;
mà lại theo pháp môn lạ lùng là pháp môn Tổ sư thiền, không
biết bỏ cái dễ lấy cái khó, uổng phí một kiếp tu hành
không?
Đáp:
Phật
nói ra 48.000 pháp môn làm phương tiện, mỗi pháp đều có
tông chỉ riêng, người tu pháp môn nào phải đúng theo tông
chỉ của pháp môn đó. Pháp môn Tịnh độ có muôn muôn ngàn
ngàn, có Tịnh độ A Di Đà, có Tịnh độ Đâu Suất, có Tịnh
độ Dược Sư, 3 Tịnh độ này người Trung Quốc có hoằng
dương. Nếu theo đúng tông chỉ Tịnh độ thì lâm chung một
niệm cũng được vãng sanh, khỏi cần phải 10 niệm.
Nếu
không đúng tông chỉ dù có được nhứt tâm bất loạn cũng
không được vãng sanh, chỉ có thể đầu thai cõi người cõi
trời chứ không được vãng sanh. Bởi vì không đúng với
tông chỉ Tịnh độ đó thì không được vãng sanh Tịnh độ
đó. Như mình muốn đến mục đích ấy phải đi đúng con
đường ấy mới tới, nếu mình đi sai đường làm sao tới
được! Mặc dù có phát nguyện đến chỗ ấy, nhưng lại
đi lầm đường thì đi đến nơi khác, không đi lại nơi ấy.
Người
ta chỉ biết Tịnh độ dễ, mà những cái khó lại bỏ đi.
Chư Tổ Tịnh độ dạy cách thực hành mà những cái khó bỏ,
những cái dễ lại kể. Không có cái khó làm sao có cái dễ?
Cái khó thực hành được thì cái dễ mới nói là dễ. Vậy
là đi sai đường làm sao đến nơi! Cho nên, muốn thành tựu
pháp môn của mình tu thì phải đi đúng pháp môn đó, không
đi đúng mà nói dễ thì không phải. Nói được mấy niệm
khi lâm chung được vãng sanh, vậy ai chứng tỏ?
Năm
1974, tôi đi Bangkok gặp sư Tích Lan nói “Tích Lan là nước
Phật giáo, làm quan phải là Phật giáo đồ”, đại sứ Tích
Lan thấy tu sĩ rất kính trọng, họ không biết có Phật A
Di Đà, huống là cách thực hành đến cõi Tây Phương Cực
Lạc! Người ta nói 10 câu, chỉ lấy 1 câu còn 9 câu bỏ cho
là dễ. Nếu 10 câu lấy hết để thực hành không phải dễ.
Nói theo Phật tánh không có cái nào dễ cũng không có cái
nào khó. Vì không có tương đối nên không có khó dễ, cái
khó dễ do mình dùng bộ óc phân biệt.
Thiền
tông phải nhờ tha lực và tự lực, Tịnh độ cũng vậy.
Nếu chỉ nhờ tha lực mà được thì không có nhân quả, nên
mình khỏi tu cũng được. Vậy không có nhân quả làm sao có
Phật pháp? Cho nên, bất cứ pháp môn nào đều phải nhờ
tự lực và tha lực.
Nhà
khoa học, triết học ở thế gian cũng phải có nhân quả,
nhân duyên mới được thành tựu; huống là pháp xuất thế
gian khỏi cần nhân, mà chỉ cần duyên là được! Phật pháp
nói nhân duyên, có nhân phải có trợ duyên, cái nhân là phải
tự làm, tự mình gieo nhân gì thì được quả nấy; không
gieo nhân mà cầu Phật cho mình cái quả làm sao được? Rồi
cho dễ là vô lý.
Hỏi:
Chúng
con không biết chương trình đả thiền thất ở Việt Nam và
Trung Hoa. Xin Thầy nói rõ cách đả thiền thất hai nơi?
Đáp:
Đả
thiền thất ở Trung Hoa, ngài Lai Quả giải thích rất kỹ
từ thất thứ nhất đến thất thứ mười, từ cạn vào sâu.
Đả thiền thất rất nghiêm khắc, giống như đi thi cử, trước
kia đã học sẵn, vô thiền thất là phải thi đậu (kiến
tánh).
Tôi
hoằng thiền ở Việt Nam thì khác, là vô trong thi trường
mới tập học biết chữ, chứ không phải đã học sẵn đến
thi. Đó là phải theo phương tiện ấy, vì Tổ sư thiền đã
bị thất truyền từ nhà Lê cách nay đã hơn 200 năm. Tôi là
người đầu tiên khôi phục hoằng dương lại. Người ta không
biết đường lối thực hành và không tin pháp môn này. Cho
nên, tôi mở đả thiền thất là dạy cho người ta tập thực
hành tham Tổ sư thiền, chứ không phải người thực hành
sẵn mà vào thiền thất để tu kiến tánh. Hôm nay chúng ta
đả thiền thất cũng là tập tham thiền.
Hỏi:
Kính
xin Sư Phụ nói rõ cái khó của tông Tịnh độ?
Đáp:
Cái
khó của pháp môn Tịnh độ là phát đại nguyện và thực
hành đại nguyện của mình phát. Trong kinh A Di Đà nhấn mạnh
phát đại nguyện, nói đến ba bốn lần; đã phát nguyện
là đã vãng sanh, nay phát nguyện là nay vãng sanh, vị lai phát
nguyện là vị lai vãng sanh. Bởi vì quyết định vãng sanh
hay không vãng sanh là do cái nguyện, nhưng cái nguyện gồm
có đại nguyện và tiểu nguyện.
Nếu
nguyện chỉ cầu cho mình được vãng sanh thì không hợp với
nhân quả, vì sanh Tịnh độ thì không đi đầu thai, ở đó
tu đến thành Phật. Không đi đầu thai thì không trả cái
quả, nếu cầu một mình vãng sanh thì phải thiếu nợ của
mọi người. Nợ thịt nợ mạng khỏi trả sao? Theo nhân quả
phải đi đầu thai trả trước. Cho nên, tiểu nguyện không
hợp nhân quả thì không được vãng sanh.
Phải
phát đại nguyện. Làm sao phát đại nguyện? Mặc dù, mình
không có tiền trả, nhưng mình ký ngân phiếu hẹn sau này
thành Phật trả. Mình làm việc gì đều vì tất cả chúng
sanh (cái nghĩa hồi hướng), muốn độ hết tất cả chúng
sanh, tức là tôi và tất cả chúng sanh cùng nhau vãng sanh.
Nếu người nào chưa vãng sanh, tôi thành Phật trở lại độ
những người ấy. Bởi vì sanh Tịnh độ không còn chết,
ở đó tu đến ngày thành Phật.
Khi
đã phát đại nguyện, tức là đã ký ngân phiếu này; nhưng
trương mục của mình ở trong ngân hàng không có tiền, hay
tiền không đủ trả cho người ta. Mỗi ngày mình phải làm
công đức gì đều hồi hướng cho chúng sanh, như nạp tiền
vô ngân hàng để chủ nợ cầm ngân phiếu đến ngân hàng
lấy.
Nếu
mình không thực hành đại nguyện của mình phát, làm sao được
vãng sanh! Tức là mình không có nạp tiền vô ngân hàng. Đến
khi người ta cầm ngân phiếu vô ngân hàng lấy không được,
thì ngân phiếu này là giả nên phải bị tội. Bởi vì, nguyện
suông nguyện giả, mình chỉ tâm nghĩ, miệng nói nhưng không
có làm. Cái khó phát đại nguyện và thực hành đại nguyện
của mình phát.
Nếu
thực hành đại nguyện của mình phát thì phải coi chúng sanh
bình đẳng, mình và chúng sanh không khác. Người đối với
người, mình cũng chưa bình đẳng; huống là đối với tất
cả loài vật! Nếu không bình đẳng là nguyện suông nguyện
giả thì không thể vãng sanh. Nếu không thực hành đại nguyện
của mình phát thì phải đi đầu thai để trả nợ.
Hỏi:
Con
nghe nói “tâm tịnh Phật độ tịnh”. Vãng sanh về Tịnh
độ, vậy Tịnh độ ở đâu?
Đáp:
Sự
thật, Phật nói pháp môn Tịnh độ là bất đắc dĩ để
độ những chúng sanh quá chấp thật, nên nói có cõi Tịnh
độ, đặc biệt có Tịnh độ này Tịnh độ kia. Nếu mình
tin tự tâm thì Tịnh độ không ở ngoài tâm, vì tâm cùng
khắp không gian thì ngoài không gian đâu có không gian để
lập cõi Tịnh độ! Tịnh độ ở trong tâm, cho nên Kinh nói
“ngoài tâm không có Phật”. Người Tịnh độ cũng biết:
“chúng sanh, tâm và Phật đều không sai biệt”. Nhưng bệnh
chấp của người Tịnh độ quá nặng, thành ra có cái nói
đúng, có cái nói sai, rất mâu thuẫn.
Nói
tóm lại, mình muốn tu pháp môn nào phải đúng theo tông chỉ
của pháp môn đó, chứ đừng nói pháp môn này dễ, pháp môn
kia khó. Tu đúng thì cái khó cũng thành dễ, mà tu không đúng
thì dễ cũng thành khó. Bởi vì dễ mà không được thành
tựu là khó rồi.
Hỏi:
Tại
sao ngài Ấn Quang cho người tu Tịnh độ chỉ đọc 3 cuốn
kinh: Quán Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Thọ và A Di Đà?
Đáp:
Tổ
Tịnh độ muốn người tu Tịnh độ được thành tựu vãng
sanh, nhưng người tu Tịnh độ không nghe lời Tổ Tịnh độ,
tự cho mình thực hành đúng hơn Tổ Tịnh độ, vậy làm sao
được vãng sanh? Mình tu Tịnh độ phải theo lời dạy của
tổ Tịnh độ, rồi nói cái khác cho Tịnh độ là dễ, việc
này rất khó nói. Trước kia tôi hoằng Tịnh độ mười mấy
năm cảm thấy rất khó, nên sau này tôi chuyển sang Tổ sư
thiền.
Hỏi:
Đa
số chúng con hiểu pháp môn Tịnh độ như thế này: “hành
và nguyện” thì mình nguyện về cõi Tây Phương Cực Lạc,
rồi cái hành là niệm danh hiệu Phật A Di Đà, niệm riết.
Đó là phát đại nguyện. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Tín,
nguyện, hành mà tôi đã giảng nhiều lần là 3 thứ tin, 2
thứ nguyện và 2 thứ hành. Cách niệm Phật: Tổ 13 là ngài
Ấn Quang dạy ghi nhớ niệm Phật. Quyết định được vãng
sanh hay không được vãng sanh là do cái nguyện. Nếu cái nguyện
không đúng thì niệm đến nhứt tâm bất loạn cũng không
được vãng sanh, chỉ là được sanh cõi người hay sanh cõi
trời.
Tịnh
độ A Di Đà có 3 cấp: Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng
niệm Phật, Trì danh niệm Phật. Thật tướng niệm Phật thì
Tịnh độ trong tâm, khỏi cần đi vãng sanh, tâm tịnh là Phật
độ tịnh. Việc ấy, người Tịnh độ biết hay không biết,
nhưng chỉ dạy người ta những điều dễ, mà không dạy các
điều khó. Đó là làm hại cho người ta.
Hỏi:
Nhân
Sư Phụ nói dạy điều dễ mà không dạy điều khó, trong
kinh Lăng Nghiêm nói cách niệm Phật của Đại Thế Chí dường
như rất khó hơn cách niệm Phật của ngài Ấn Quang. Kính
xin Sư Phụ chỉ cho cách niệm Phật của Đại Thế Chí như
thế nào?
Đáp:
“Thâu
nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục” nghĩa là nhiếp được
lục căn thì trong sạch liên tục. Vậy làm sao nhiếp lục
căn? Mắt nhìn sắc không phân biệt xấu đẹp là nhiếp được
nhãn căn, tai nghe tiếng không phân biệt khen chê thì nhiếp
được nhĩ căn, lưỡi ăn thức ăn không phân biệt ngon dỡ
là nhiếp được thiệt căn… Nếu nhiếp không được thì
niệm không trong sạch là không phải tịnh niệm. Tịnh niệm
không được chắc chắn không được vãng sanh. Cái khó mà
người ta không biết tới, chỉ là nói những cái dễ. Nhưng
cái dễ mà vô lý như “niệm Phật một câu bao nhiêu tội
ác đều tiêu hết”. Vậy người ta làm ác đâu có sao?
Hỏi:
Niệm
Phật như con nhớ mẹ là sao?
Đáp:
Niệm
Phật như con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con; nhưng cái niệm đó
phải trong sạch. Nếu niệm Phật như con nhớ mẹ mà không
trong sạch cũng không được, nên cần phải nhiếp cả lục
căn liên tục trong sạch thì tâm niệm đó mới được, dùng
tâm niệm đó niệm Phật. Nhiếp được lục căn thì không
còn vọng tưởng, vì không nhiếp được lục căn nên có vọng
tưởng. Niệm mà còn vọng tưởng thì cái niệm ấy không
trong sạch.
Hỏi:
Cách
nhiếp lục căn của Đại Thế Chí giống như tham thiền, nhưng
khác là không có cái nghi. Vậy có đúng không?
Đáp:
Phải
rồi. Cách nhiếp khó hơn, ngài Ấn Quang nhiếp bằng ghi nhớ
niệm Phật, tập trung ở trong cái nhớ đó.
Hỏi:
Thế
nào là Tam bảo?
Đáp:
Tam
bảo là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo.
Phật
là giác ngộ, tức giác ngộ biết được chính mình, tự làm
chủ thì đạt đến tự do tự tại. Cho nên, Phật muốn tất
cả chúng sanh đều được giác ngộ đạt đến tự do tự
tại, dứt hết thảy khổ gọi là Phật bảo.
Muốn
đạt đến giác ngộ phải có phương pháp, tôi dạy phương
pháp tham thiền đưa mình đến giác ngộ, đạt đến tự do
tự tại, dứt hết tất cả khổ, đó gọi là Pháp bảo.
Tăng
tiếng Ấn Độ gọi là Tăng già, dịch nghĩa hòa hợp chúng;
theo quy định nhà Phật là 4 vị tu sĩ Phật giáo trở lên
hợp lại thành Tăng. Tại sao Tăng cũng là bảo? Bởi vì, nếu
không có Tăng bảo từ đời từ đời trực tiếp giáo hóa
chúng sanh, dù có Phật bảo và Pháp bảo ở thế gian cũng
không có Phật pháp. Cho nên, Phật pháp mới thường trụ ở
thế gian, chúng sanh được giải thoát tất cả khổ, đạt
đến tự do tự tại.
Quy
Tam bảo có hai thứ: Thường trụ Tam bảo và Tự tánh Tam bảo.
Bây
giờ quy y là quy y Thường trụ Tam bảo. Thường trụ Tam bảo
là gì? Tượng Phật thay mặt cho Phật bảo, vì Phật Thích
Ca đã nhập diệt. Pháp bảo là tất cả kinh điển thay mặt
cho Pháp bảo. Chúng tôi là tu sĩ Phật giáo thay mặt cho Tăng
bảo. Phải có mục tiêu để cho người thế gian thấy thường
trụ tại thế gian, nên gọi là Thường trụ Tam bảo.
Nhờ
sự giáo của Thường trụ Tam bảo ngộ nhập Tự tánh Tam
bảo. Tự tâm của mọi người đều đủ Tam bảo.
Hỏi:
Có
3 trường hợp: 1- Thấy bông cúc màu vàng biết nó vàng. 2-
Tâm khởi ý thức thấy bông cúc vàng đẹp là biết đẹp
thế thôi. 3- Tâm biết bông cúc vàng đẹp ưa thích ham muốn.
Ba trường hợp trên, trường hợp nào tâm không bị vọng
động?
Đáp:
Theo
pháp thiền trực tiếp của Phật Thích Ca đích thân truyền
thì 3 trường hợp này đều nghịch với Tổ sư thiền. Tại
sao? Tổ sư thiền là muốn bộ óc không biết, không biết
nhiều chừng nào tốt chừng nấy, còn cái này thì muốn biết;
muốn biết là tác dụng của bộ óc, còn ý của Phật Thích
Ca cho cái biết của bộ óc không đúng với thực tế, có
giới hạn, không bằng cái biết của Phật tánh.
Cái
biết bộ óc là tướng bệnh, cái biết của Phật tánh là
tướng mạnh. Ý của Phật Thích Ca muốn quét sạch tướng
bệnh để tướng mạnh hiện lên. Nếu còn giữ tướng bệnh
thì tướng mạnh ẩn trong tướng bệnh, không thể hiện ra.
Tại sao? Vì tướng mạnh và tướng bệnh cũng mặt mũi
này, không phải mặt mũi khác. Tướng bệnh là xanh vàng ốm
yếu, tướng mạnh hồng hào. Khi mình đang xanh vàng ốm yếu
thì hồng hào làm sao hiện ra? Cần phải trị hết bệnh và
không còn xanh vàng ốm yếu thì hồng hào của tướng mạnh
hiện ra. Nhờ cái không biết của bộ óc quét sạch tất cả
cái biết của bộ óc; ban đầu quét tìm hiểu biết, tiếp
theo quét ghi nhớ biết, rồi quét luôn tùy duyên biết.
Thế
nào gọi là tùy duyên biết? Tùy duyên là không cần tìm hiểu
cũng biết, như ngồi không tìm hiểu cũng biết ngồi, đi không
tìm hiểu cũng biết đi, mặc áo ăn cơm không cần tìm hiểu
cũng biết mặc áo ăn cơm… những cái này gọi là tùy duyên
biết. Sau cùng tùy duyên biết quét sạch luôn, lúc đó sắp
kiến tánh là đến thoại đầu.
Thoại
đầu là trước khi chưa muốn nói một lời nói, nếu muốn
nói mà miệng chưa nói ra là thoại vỉ; thoại đầu (vô thỉ
vô minh) là một niệm chưa sanh khởi, một niệm sanh khởi
là nhứt niệm vô minh. Thiền tông muốn phá tan vô thỉ vô
minh, gọi là kiến tánh. Nếu kéo dài cho bộ óc biết hoài
là tướng bệnh kéo dài thì tướng mạnh không hiện ra. Vì
vậy pháp này khác, không những khác 3 trường hợp đó, mà
khác hơn tất cả thiền, luôn các thứ thiền của Phật dạy
trong kinh.
Hỏi:
Người
sống không biết đạo Phật, chưa từng nghe kinh kệ và không
thích; lúc chết, người nhà mời thầy tu đến cầu siêu,
phóng sanh… Vậy người chết có cảm ứng kinh kệ, phóng
sanh và được phước đức không?
Đáp:
Phật
dạy mình phải tin nhân quả, nhân nào quả nấy, kinh Pháp
Hoa nói “như thị nhân như thị quả”; gieo nhân thiện thì
được phước quả, gieo nhân ác thì chịu khổ quả. Nếu
tụng kinh được phước thì làm ác cũng không sao, vậy nghịch
với nhân quả. Tụng kinh là cách tu của Giáo môn, Giáo môn
ngày xưa tùy duyên khởi quán, đọc đến chỗ nào quán theo
duyên đó, gọi là tu, chứ không phải tụng suông. Bây giờ
người ta tụng suông, không quán theo kinh.
Bởi
vì cái nhân là do mình tạo, muốn sửa đổi nhân quả cũng
được; nhưng phải tự mình sửa đổi, chứ người khác không
thể sửa đổi cho mình, nếu người khác sửa đổi giùm mình
thì bây giờ hết chúng sanh. Tại sao? Vì Phật Thích Ca rất
từ bi, nếu Phật Thích Ca làm được thì đâu còn chúng sanh;
có hằng hà sa số chư Phật thì bây giờ cũng không còn chúng
sanh, vì Phật nào cũng có đại từ đại bi. Vậy tin Phật
phải tin nhân quả thì tạo nhân lành mới được phước quả.
Nếu không có nhân quả thì Phật pháp không có, không cần
lập chùa.
Phật
nói “nhứt thiết duy tâm tạo” thì nhân quả là tâm mình
tạo. Làm sao sửa lại nhân quả? Những người vượt biên
trên biển chết rất nhiều, mà những người đó đều có
tiền. Có tiền thường không bị chết đói, nhưng tạo cái
nhân chết đói; cho nên có tiền vẫn bị chết đói, vì nhân
quả không trừ với nhau được. Làm thiện được phát tài
nên có tiền đi vượt biên, làm ác tạo cái nhân chết đói
nên vượt biên có tiền cũng bị chết đói.
Thành
Phật là siêu việt số lượng, thí dụ người không tu thì
tâm lực 1 độ, tu đến thành Phật thì tâm lực 1 triệu độ.
Kiếp trước mình tạo cho người ta chết đói là tâm lực
1 độ, kiếp này không có tu, tâm lực cũng 1 độ, cho nên
có tiền phải chịu quả chết đói. Nếu bây giờ biết tu
thì tâm lực từ 1 độ lên đến 10 độ, tuy tâm lực 10 độ
mới làm nhưng cái nhân mạnh nên cái quả đến trước, còn
tâm lực 1 độ là cái nhân yếu nên cái quả đến sau. Tại
sao? Như thiếu nợ, chủ nợ có thế lực mạnh phải trả
trước; chủ nợ có thế lực yếu thì trả sau.
Tâm
lực của 1.000 A la hán cảm ứng đến tâm bà Thanh Đề được
sửa lại, bà thoát khỏi cảnh ngạ quỷ, tâm bà Thanh Đề
sửa mới được, có nhân sẽ có quả. Nếu tâm bà Thanh Đề
không sửa, Phật cũng không cứu được. Chính tâm mình tạo
thì tự mình sửa, chứ không phải người khác sửa giùm.
Nếu người khác sửa giùm được thì Phật Thích Ca và chư
Bồ tát sửa giùm thì mình không cần tu.
Hỏi:
Trong
khi tọa thiền chế ngự không cho suy nghĩ để tâm tỉnh lặng
trống rỗng, nhưng thấy Phật Thích Ca ngồi thiền 49 ngày
tìm ra đạo; như vậy suy nghĩ của Ngài lúc đó rất nhiều,
đối với pháp thiền này có khác nhau như thế nào?
Đáp:
Tổ
sư thiền do đức Phật Thích Ca đích thân truyền là không
cho bộ óc suy nghĩ, không cho bộ óc tìm hiểu. Vì cái biết
của bộ óc là tướng bệnh, cho nên Bát Nhã Tâm Kinh nói ban
đầu là vô ngũ uẩn, tiếp theo là vô lục căn. Sự hiểu
biết của lục căn, Phật dùng chữ vô quét sạch. Lục căn,
lục trần, lục thức cho đến Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân
Duyên của Phật dạy cũng quét luôn. Phàm do bộ óc nhận biết
được không phải chân thật, chỉ tạm thời. Tại sao? Vì
bộ óc sau khi chết đem thiêu thành tro, đi chôn thành đất.
Bộ óc biến thành đất thì những cái bộ óc biết được
cũng biến thành đất.
Phật
tánh vĩnh viễn không biến đổi, vô thỉ vô chung, không sanh
không diệt nên có tên là Niết bàn. Vì không sanh nên Phật
nói không có sự bắt đầu. Nếu có sanh thì có bắt đầu
nên có cuối cùng, người chứng quả là chứng pháp vô sanh
gọi là chứng vô sanh pháp nhẫn. Tịnh độ cũng nói là “hoa
khai kiến Phật ngộ vô sanh”.
Tại
sao nói không có bắt đầu? Vì tất cả vũ trụ vạn vật
đều không thành lập nghĩa bắt đầu. Truy cứu con gà có
trước trứng gà được không? Không được. Vì không có trứng
gà thì không ấp ra con gà. Trứng gà có trước con gà được
không? Không được. Vì không có con gà thì không sanh ra trứng
gà. Con gà và trứng gà đều không bắt đầu, cho nên gọi
là nghĩa vô sanh, vũ trụ vạn vật cũng đều như thế.
Trung
Quán luận nói sanh tử không có bắt đầu. Các vị tin sanh
là bắt đầu, ngài Long Thọ nói sanh bắt đầu là không đúng.
Ngài nói “nếu sanh bắt đầu được thì khỏi cần tử có
sanh, nếu khỏi cần tử có sanh thì sanh lìa tử độc lập,
sanh rồi khỏi tử nữa”. Nhưng sự thật bất cứ động
vật thực vật sanh rồi phải tử, không có cái nào sanh mà
không tử! Luôn cả Phật Thích cũng vậy, sanh rồi phải tử.
Sự
thật chứng tỏ sanh bắt đầu không được, sanh bắt đầu
là vô lý; sanh phải dính líu với tử, không thể độc lập;
như con gà và trứng gà không thể lìa nhau. Con gà làm nhân
cho trứng gà, trứng gà cũng làm nhân cho con gà, gọi là nhân
duyên. Sanh làm nhân cho tử, tử cũng làm nhân cho sanh; sanh
tử làm nhân với nhau, nên có sự luân hồi. Tất cả đều
không có bắt đầu, Phật nói trắng ra là vô thỉ, tức cái
nghĩa vô sanh.
Tổ
sư thiền cần cái không biết, không biết nhiều chừng nào
tốt chừng nấy. Bởi vì không biết nhiều là đại nghi, đại
nghi sẽ được đại ngộ. Nhà khoa học cũng do nghi được
ngộ, nhưng nhà khoa học do đi nghiên cứu tìm hiểu, nên gọi
là hồ nghi; hồ nghi chỉ phát minh việc thế gian, có giá trị
thế gian; họ không phát minh chính tâm mình, nên không làm
chủ được tâm mình, không được tự do tự tại, không giải
thoát tất cả khổ.
Tham
thiền là chánh nghi, không cho bộ óc tìm hiểu mới ngộ và
làm chủ được chính mình, nên được tự do tự tại, giải
thoát tất cả khổ vĩnh viễn, không phải chỉ kiếp này,
cũng không phải kiếp sau, cũng không phải muôn ngàn kiếp
sau. Bởi vì thành Phật không trở lại làm chúng sanh.
Hỏi:
Thế
nào là Tổ sư thiền?
Đáp:
Tổ
sư thiền là từ trong hội Linh Thứu Sơn, đức Phật đưa
cành hoa lên trước đại chúng, hơn 1 triệu người ngơ ngác
không biết, chỉ có ngài Ca Diếp mỉm cười, đức Phật ấn
chứng cho ngài Ca Diếp ngộ đạo. Từ đó ngài Ca Diếp làm
sơ tổ, rồi truyền cho A Nan làm nhị tổ, A Nan truyền cho
Thương Na Hòa Tu làm tam tổ. Từ Tổ từ Tổ truyền xuống
Bồ Đề Đạt Ma làm Tổ thứ 28 ở Ấn Độ, Bồ Đề Đạt
Ma sang Trung Quốc truyền cho Huệ Khả, Huệ Khả truyền cho
Tăng Xán, Tăng Xán truyền cho Đạo Tín, Đạo Tín truyền cho
Hoằng Nhẫn, Hoàng Nhẫn truyền cho Huệ Năng, cho đến đời
tôi là thứ 89.
Nhưng
tôi chưa phải là Tổ sư, vì tôi chưa kiến tánh. Tôi chỉ
biết đường lối thực hành đúng theo tông chỉ của Tổ
sư thiền rồi tôi mới truyền lại cho quý vị. Nếu thực
hành đúng sẽ được kiến tánh, như ngài Lai Quả kiến tánh,
mà thầy của ngài Lai Quả chưa kiến tánh; ngài Hư Vân kiến
tánh, nhưng thầy của ngài Hư Vân chưa kiến tánh. Thầy dạy
phương pháp tu cho trò, trò có thể kiến tánh trước thầy.
Trong lịch sử Thiền tông có đệ tử kiến tánh trước, thầy
đảnh lễ trò để làm thầy, thầy trở lại làm trò. Nếu
quý vị kiến tánh trước tôi thì tôi đảnh lễ quý vị làm
thầy. Đó là chuyện thường.
Hỏi:
Làm
thế nào phát nghi tình để chấm dứt cái biết của bộ óc?
Đáp:
Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền có đề ra 5 câu
thoại đầu, câu thoại đầu rất nhiều kể không hết. Câu
thứ nhất: khi chưa có trời đất ta là cái gì? Như có trời
có đất thì chúng ta ngồi đây, khi chưa có trời đất ta
là cái gì?
Không
cho bộ óc suy nghĩ, không cho bộ óc tìm hiểu, khi tôi vừa
hỏi dứt thì ông trả lời ngay, nếu trả lời chậm là muốn
tìm câu trả lời cho tôi là không đúng. Tôi hỏi ông: khi
chưa có trời đất ông là cái gì? Không biết. Vậy là đúng,
tức tham thiền được rồi. Tham thiền chỉ cần không biết,
ngày đêm giữ cái không biết và hỏi câu thoại đầu để
kích thích niệm không biết. Tham thiền khởi lên không biết
rất dễ, việc thế gian muốn biết rất khó; còn không biết
ai cũng làm được, cho nên con nít 6, 7 tuổi và bà già 6, 7
chục tuổi đều tham thiền được.
Hiện
nay có đứa bé 3 tuổi tham thiền, bảo nó tham thiền đi. Nó
liền hỏi “ta là cái gì?” Nó mới 3 tuổi vẫn tham thiền
được vậy! Vì chỉ cần không biết. Ngày đêm đi đứng
ngồi nằm, mặc áo ăn cơm, đi cầu ngủ nghỉ, làm việc…cứ
hỏi như vậy thôi. Có hỏi thì phải có đáp, nhưng không
hiểu thì đáp không ra, tức lắm phải hỏi nữa, hỏi đến
chừng nào đáp ra là kiến tánh. Đáp ra không phải đáp ra
đáp án, đáp ra là phát hiện bản thể cùng khắp không gian
thời gian. Cái dụng cũng cùng khắp không gian thời gian. Chính
phát hiện đó là cái đáp án, tức trả lời câu hỏi, nên
gọi là kiến tánh siêu việt số lượng.
Tất
cả do bộ óc nhận biết đều nằm trong số lượng, mặc
dù những cái không thấy, không còn vật chất, không còn thời
gian nhưng vẫn còn số lượng, còn số lượng thì bộ óc
nhận biết được. Nói về thời gian, một ngày 24 tiếng,
1 tiếng chia làm 60 phút, 1 phút chia làm 60 giây, 1 giây nhà
Phật chia làm 60 sát na. Tôi chia 1 sát na làm 60 A, 1 A chia làm
60 B, 1 B chia làm 60 C. Tôi nói chưa dứt thì đã qua bao nhiêu
C thời gian rồi, nếu chia nữa vẫn còn số lượng mà bộ
óc nhận biết được, nên gọi là pháp hữu vi.
Phật
tánh không có hình tượng và cũng không có số lượng, thành
ra bộ óc không thể nhận biết được. Bộ óc không nhận
biết nên không thể diễn tả để cho quý vị biết… Vì
vậy, Phật Thích Ca nói “tôi thuyết pháp 49 năm mà chưa từng
nói một chữ”, “không có pháp để thuyết mới là thuyết
pháp”, “ai nói Phật có thuyết pháp, người ấy phỉ báng
Phật”, vì nói không được.
Nếu
như Phật Thích Ca nói được nhưng chúng sanh không nhận biết.
Bởi lời nói của thế gian là do bộ óc lập ra. Nên truyền
pháp môn Tổ sư thiền không qua lời nói, vì lời nói không
thể nói được. Vậy nói bất lập văn tự, chứ không phải
phế bỏ văn tự.
Hỏi:
“Nhược
dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ
âm thanh cầu ngã.
Thị
nhân hành tà đạo,
Bất
năng kiến Như lai”.
Kính
xin Thầy khai thị?
Đáp:
Bài
kệ này trong kinh Kim Cang diễn tả dùng lục căn không thể
được, trong này nói “nếu dùng sắc thấy ta (Phật tánh),
dùng âm thanh cầu ta”; sắc là thuộc lục trần, thanh cũng
thuộc lục trần. Bát Nhã Tâm Kinh nói “vô sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp”, là phủ nhận lục trần, làm sao còn lấy
lục trần để thấy Phật tánh! Nếu làm như vậy không đúng,
nên nói là người ấy hành tà đạo. Làm đúng mới được
kiến tánh, làm không đúng làm sao kiến tánh? Dùng bộ óc
để nhận biết Phật tánh không thể được, cho nên nói là
chẳng thể thấy Như lai.
Bởi
vậy, Phật truyền pháp môn Tổ sư thiền không qua bộ óc,
lại chấm dứt tất cả biết của bộ óc, cuối cùng không
biết của bộ óc (nghi tình) bùng vỡ thì không biết cũng
tan rã, lúc đó biết và không biết đều sạch hết thì cái
biết của Phật tánh (chánh biến tri) hiện lên cùng khắp
không gian thời gian.
Hỏi:
Nghi
tình có phải trong “Tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến” không?
Đáp:
Nghi
tình là không biết của bộ óc, nhưng khác hơn không biết
của ngủ mê, không biết của chết giấc, không biết của
bệnh tâm thần. Nhờ câu thoại đầu khởi lên không biết
đụng với tánh ham biết của bộ óc mới tự thành nghi tình.
Tham, sân, si, mạn, nghi khác xa với nghi tình.
Hỏi:
Con
tin Phật không còn nghiệp quả, vậy trong đời của Phật
có những lần đau bệnh, có phải Phật muốn cho chúng sanh
biết ở đời đã mang thân người đều phải qua 4 giai đoạn
sanh, lão, bệnh, tử không?
Đáp:
Phải
rồi! Phật thị hiện có sanh phải có tử, có sanh tử thì
có bệnh có già, như tôi bây cũng già rồi, không biết ngày
nào sẽ chết. Sanh với chết làm nhân với nhau, không lìa
nhau được. Bây giờ mình chưa chết phải giải quyết vấn
đề chết, nên nói “sanh tử là việc lớn”. Người đời
không giải quyết sanh tử chính mình, lại muốn phát tài,
có thế lực mạnh. Nhưng thế lực mạnh hay có nhiều tiền
sau khi chết không còn. Thấy người ta chết không biết sợ,
đến chừng mình gần chết mới biết sợ.
Như
bác sĩ nói mình bệnh ung thư 3 tháng sau chết, lúc đó rất
sợ, ăn ngủ không yên. Sự thật, người nào cũng mang bệnh
ung thư. Tại sao? Vì có sanh đợi ngày chết, như bệnh ung
thư là đợi ngày chết vậy. Mình đâu biết mình ngày nào
chết, có khi người bệnh ung thư chưa chết; mà mình lại
chết trước. Có người hôm nay thấy gặp, ngày mai bị đụng
xe chết. Cho nên trước khi chết, mình phải giải quyết vấn
đề chết; đừng để gần chết rồi sợ, vậy đâu kịp!
Phật Thích Ca truyền pháp môn Tổ sư thiền muốn dạy mình
giải quyết trước khi chết, nếu đợi đến lúc lâm chung
làm sao giải quyết?
Hỏi:
Như
lai nói “nhứt thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp đẳng
hữu sai biệt”. Kính xin Thiền sư giải thích?
Đáp:
Pháp
vô vi là quả cùng tột, tức là Phật tánh; vì không có số
lượng, không có hình tướng, gọi là pháp vô vi. Tu là phát
hiện Phật tánh không có hình tướng, không có số lượng.
Nhưng trên đường tu có nhiều giai cấp (Giáo môn), theo Giáo
môn đi tới quả Phật (Diệu giác) có 52 cấp. Thập tín có
10 cấp, Thập trụ có 10 cấp, Thập hạnh có 10 cấp, Thập
hồi hướng có 10 cấp, Thập địa có 10 cấp, tổng cộng
là 50 cấp thêm Đẳng giác và Diệu giác là 52 cấp. Có 52
cấp sai biệt, đến cùng tột không còn sai biệt. Nên có câu
“vì có pháp vô vi nên có sai biệt”.
Hỏi:
Năm
thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) chuyển Thành sở tác trí,
ý thức chuyển Diệu quan sát trí. Vậy khi khởi nghi tình,
ý thức không suy nghĩ có trái nghịch Diệu quan sát trí không?
Đáp:
Tại
sao gọi là Diệu? Tức là không qua suy nghĩ mới gọi là Diệu,
chữ Diệu trong kinh là bất khả tư nghì (không thể suy nghĩ).
Hai chữ Bát Nhã là không qua bộ óc suy nghĩ mà làm qua, đó
là trí huệ Phật tánh, không phải là trí huệ bộ óc.
Trí
huệ bộ óc phải thông qua suy nghĩ mới dùng ra được. Trí
huệ Phật tánh không dịch ra trí huệ, mà dịch nguyên âm
là Bát nhã, vì không phải trí huệ của thế gian; trí huệ
của thế gian là dùng bộ óc suy nghĩ để làm được.
Hỏi:
Quỷ
thần thuộc loài nào trong sáu loài?
Đáp:
Cõi
trời cao nhất trong sáu loài (lục đạo), hạng nhì là cõi
người, hạng ba là a tu la, hạng tư là súc sanh, hạng năm
là quỷ, hạng sáu là địa ngục. Thần là làm quan ở đạo
quỷ, như người làm quan ở cõi người cũng là người, bất
quá thế lực lớn hơn người thường, khi nào miễn chức
giống như người thường.
Người
ta cho rằng người chết biến thành quỷ là sai lầm, do tạo
nghiệp quỷ nên phải đầu thai quỷ. Nếu người chết đều
biến thành quỷ làm sao có lục đạo luân hồi? Tạo nghiệp
nào thì sanh ở cõi đó. Ai có phước đầu thai trong đạo
quỷ gọi là thần, cho nên thường nói là quỷ thần. Đáng
lẽ quỷ thần là cấp thứ năm, con người hạng nhì; quỷ
thần lạy con người mới phải, trái lại con người lạy
quỷ thần! Quỷ thần theo nghiệp hiện ra một chút thần thông.
Hỏi:
Một
người đang hiểu biết chích một mũi thuốc bị bất tỉnh
không biết gì hết, vậy cái biết người đó ở đâu?
Đáp:
Người
ấy chết giấc hôn mê thì không biết cũng là tác dụng của
bộ óc. Người tham thiền mượn không biết của bộ óc để
chấm dứt hết tìm hiểu biết, ghi nhớ biết, tùy duyên biết
của bộ óc là đến thoại đầu. Nhưng vẫn còn cái không
biết (nghi tình), đến chừng nghi tình bùng vỡ, cái không
biết tan rã, không còn tác dụng của bộ óc. Người bị chích
thuốc mê còn không biết của bộ óc, khi kích thích lên một
niệm gọi là nhất niệm vô minh.
Hỏi:
Tham
thiền có học thêm kiến thức không?
Đáp:
Nếu
học thêm là học ở ngoài, không tin tự tâm; bởi vì học
là phải biết, tham thiền cần không biết, không cho biết.
Học là muốn biết là nghịch với nghi tình, chướng ngại
công phu của mình tham thiền. Tin tự tâm cùng khắp không gian
thời gian, không gian không có ngoài.
Trong
Đường Lối Thực Hành Tham Tổ Sư Thiền điều thứ nhất
phá ngã chấp là “vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”.
Không cho đắc, không cho cầu là muốn người ta tin tự tâm
cùng khắp không gian. Muốn đắc là đắc ở ngoài, ngoài còn
không có thì mình đắc cái gì? Ngoài còn không có lấy cái
gì để cầu? Tức là không có cái ở ngoài để cho mình đắc
mình cầu, chứ không phải có đắc có cầu mà tôi không cho.
Như
trong Pháp Hoa nói “có hạt châu như ý trong áo mà không biết,
cho mình nghèo khổ đi ăn xin khắp nơi, đến chừng người
ta chỉ trong áo có hạt châu thì giàu sang liền”. Tin Phật
tánh mình sẵn có đầy đủ thì đâu tạo nghiệp phải chịu
luân hồi sanh tử trong lục đạo.
Hỏi:
Thế
nào gọi là Phật pháp?
Đáp:
Người
ta hường hiểu lầm Phật là một thần linh, chữ Phật là
tiếng Ấn Độ dịch nghĩa là giác ngộ, nên gọi Phật pháp
là pháp giác ngộ để đưa tất cả chúng sanh đến chỗ giác
ngộ. Tại sao cần phải giác ngộ? Nếu không giác ngộ thì
không được đến chỗ tự do tự tại, giải thoát tất cả
khổ. Như mình ở trong nhắm mắt chiêm bao phải chịu cái
khổ trong chiêm bao, nếu mình ở trong chiêm bao thức tỉnh
là giác ngộ thì tất cả khổ trong chiêm bao tự nhiên được
giải thoát.
Lục
tổ Huệ Năng nói trong Pháp Bảo Đàn “Phật pháp là pháp
bất nhị, thiền định giải thoát chẳng phải Phật pháp”.
Tại sao nói thiền định giải thoát chẳng phải Phật pháp?
Vì có thiền định phải có tán loạn để đối đãi, có
giải thoát phải có trói buộc để đối đãi. Phàm có đối
đãi đều ở trong phạm vi tương đối là tác dụng của bộ
não, cái nào qua bộ não đều có tương đối. Có tương đối
thì có lợi và có hại, thường thường cái hại nhiều hơn
cái lợi.
Chánh
pháp của Phật pháp muốn mình từ cửa tương đối bước
vào cửa tuyệt đối, tức là muốn mọi chúng sanh hưởng
hạnh phúc chung, mà không có sự biến đổi tai họa, không
có phiền não, không có khổ. Như chiếc bè đưa mình từ bờ
sông bên này phiền não đến bờ sông bên kia hết phiền não.
Tác dụng của Phật pháp là như thế.
Thế
nào là khoa học? Khoa học là dùng bộ não đi tìm hiểu nghiên
cứu phải ở trong tương đối thì có lợi và có hại. Cho
nên, Phật Thích Ca dạy pháp thiền trực tiếp để đưa mình
từ cửa tương đối đến cửa tuyệt đối.
Hỏi:
Khoa
học mỗi ngày tiến bộ đến một ngày nào thì bị sụp đổ,
như nền văn minh trong quá khứ, lúc đến cực thịnh rồi
suy tàn biến mất. Kính xin Thầy khai thị?
Đáp:
Định
luật theo nhà Phật có thành, trụ, hoại, không. Bây giờ là
thời kỳ đang trụ, qua thời trụ từ từ hoại, hoại rồi
mất. Khoa học cũng ở trong vũ trụ này, vũ trụ biến mất
thì các thứ trong vũ trụ cũng mất luôn. Nhà khoa học biết
quả đất này sẽ bị tiêu diệt.
Hỏi:
Giáo
môn cũng phải đi từ nghi tới ngộ, vậy cái nghi của Giáo
môn ra sao?
Đáp:
Giáo
môn ở Trung Quốc có 4 tông: Thiên thai, Hiền thủ, Tam
luận, Duy thức. Những người tu chỉ quán là tu pháp thiền
của tông Thiên thai. Chỉ quán của tông Thiên thai gồm
có tam chỉ tam quán. Tam chỉ là Hệ duyên chỉ, Tùy duyên chỉ,
Thể chơn chỉ. Tam quán là Giả quán, Không quán, Trung quán.
Ban đầu quán tất cả pháp đều là giả, nhưng quán riết
thấy giả không phải thật giả thì quán không, quán không
chẳng phải thật không, rồi quán trung, mà trung không có chỗ
trung thì phát nghi gọi là Thể chơn chỉ; tức là thể cứu
chỗ chân thật, chỗ chân thật không thể biết được.
Biết
được là cái giả, cái không, cái trung; nhưng những cái đó
đều không phải, tự động phát nghi, nên gọi là Thể chơn
chỉ. Đó thuộc về Giáo môn, tức là qua Hệ duyên chỉ (hệ
là cột tâm ở dưới đan điền, duyên như con khỉ nhảy qua
lại, rồi đem cột một chỗ), sau rồi Tùy duyên chỉ cũng
như Giả quán, coi cái này cái kia không phải thật thì tâm
không bị dính mắc, được ngưng tâm phan duyên. Đến Thể
chơn chỉ là tự nhiên phát nghi.
Nhưng
Thiền tông bước đầu đã phát nghi, nhờ câu thoại đầu
khởi lên nghi tình; còn Giáo môn cuối cùng mới phát nghi,
do nghi đến ngộ là chứng quả. Người tu Tịnh độ được
vãng sanh Tây Phương Cực Lạc chuyển qua tham thiền phát nghi
được ngộ. Bởi vì tất cả ngộ đều phải do nghi, chữ
Phật là nghĩa giác ngộ, muốn giác ngộ phải nghi. Nghi là
nhân, ngộ là quả; có nhân phải có quả, tất cả pháp môn
nào và nhà khoa học đều cũng vậy.
Như
Newton thấy trái bôm từ trên cây rớt xuống đất, ông phát
nghi “tại sao trái bôm từ trên cây không rơi lên trời, mà
rớt xuống đất?” Ông phát minh được hấp dẫn lực của
vạn hữu. Nhưng nhà khoa học dùng bộ óc đi tìm hiểu, nghiên
cứu vẫn còn ở trong tương đối, ông chỉ phát minh pháp
thế gian, không phát minh chính mình thì không làm chủ cho mình,
nên không được tự do tự tại và không giải thoát tất
cả khổ.
Nghi
tình của Phật pháp là nhờ hỏi câu thoại đầu khởi lên
không biết của bộ óc chấm dứt cái biết của bộ óc, để
cái biết Phật tánh hiện lên cùng khắp không gian thời gian,
không còn chỗ nào mà không biết, không lúc mà không biết.
Như cái biết của bộ óc không cùng khắp thời gian thì ngủ
mê không biết, chết giấc không biết, chết rồi không biết.
Cái biết của Phật tánh thì ngủ mê vẫn biết, chết giấc
vẫn biết, chết rồi vẫn biết. Nếu chết rồi không biết
thì có gián đoạn, không cùng khắp thời gian, không phải
cái biết của Phật tánh.
Hỏi:
Đạo
Phật có giải thoát hết cả loài người không? Đạo Phật
có thể làm cho toàn thể thế giới này hết sự khổ đau
không?
Đáp:
Phật
pháp là muốn cho mình giác ngộ, khi giác ngộ thì tự mình
chứng tỏ hiện tượng thế giới này, tất cả đều do tâm
mình tạo ra; chúng sanh do tâm mình tạo đều độ hết; tức
là dùng tự tánh Phật độ tự tánh chúng sanh. Đây trong Pháp
Bảo Đàn có giải thích. Bây giờ do bộ óc nhận thức mình
cho tất cả đều là thật, đối với Phật pháp chỉ là chiêm
bao. Tất cả chúng sanh, vũ trụ đều ở trong chiêm bao. Theo
Duy thức học có hai thứ chiêm bao: nhắm mắt chiêm bao và
mở mắt chiêm bao.
Ban
đêm ngủ chiêm bao, thấy thân chiêm bao tiếp xúc thế giới
chiêm bao, tiếp xúc cái tách, cái bình… đều có thật; tiếp
xúc nóng lạnh biết lạnh nóng, thân chiêm bao bị người ta
đánh biết đau. Giả sử trong chiêm bao có thiện tri thức
thuyết pháp rất hay, giải thích cái tách, cái bình đều không
thật, luôn cả thân không thật; mà thân chiêm bao không thể
tin. Tại sao? Vì tiếp xúc cái nào cũng thấy thật, sao nói
không thật! Sao nói thân tôi không thật mà người ta đánh
tôi biết đau? Khi thức tỉnh khỏi cần thiện tri thức nói,
tự mình chứng tỏ những thật chất ở đâu? Luôn cả thân
chiêm bao không tìm ra. Đó là nhắm mắt chiêm bao, người nào
cũng có kinh nghiệm.
Tôi
đang giảng và các vị đang nghe là mở mắt chiêm bao, tiếp
xúc cái gì cũng thấy có thật. Bát Nhã Tâm Kinh nói “ngũ
uẩn, lục căn, lục trần, lục thức, Tứ diệu đế, Thập
nhị nhân duyên, Trí huệ Bồ tát, Niết bàn đều không thật”.
Nếu theo pháp môn thiền trực tiếp do Phật đích thân truyền
mà thực hành sẽ đến chỗ giác ngộ. Lúc giác ngộ là ở
trong chiêm bao thức tỉnh thì tự mình chứng tỏ, gọi là
chứng ngộ. Như nhắm mắt chiêm bao thức tỉnh vậy, chứng
tỏ những cái mình tiếp xúc được là không thật. Nếu chứng
tỏ tất cả đều ở trong chiêm bao thì tất cả chúng sanh
đều được độ.
Kinh
Kim Cang nói “độ tất cả chúng sanh, nhưng không thấy một
chúng sanh nào được độ”, tức tự tâm Phật độ tự tâm
chúng sanh. Người nào chưa ngộ phải chịu sanh tử luân hồi,
là từ chiêm bao này qua chiêm bao khác không ngừng. Nếu người
đã ngộ thì không còn trở lại trong chiêm bao. Nhắm mắt
chiêm bao ngủ đã tự thức, có thể đêm sau chiêm bao lại;
mở mắt chiêm bao không bao giờ tự thức, phải tham thiền
đến giác ngộ mới thức tỉnh. Thành Phật không trở lại
làm chúng sanh.
Hỏi:
Thượng
tọa nói “Phật nghĩa là giác ngộ, Phật pháp đưa con người
đến chỗ giác ngộ, Phật tánh (giác tánh) của mỗi người
đều giống”. Vậy làm thế nào thấy được giác tánh đó?
Đáp:
Phật
Thích Ca nói “tôi thuyết pháp 49 năm, nhưng chưa từng nói
một chữ”. Tại sao? Vì Phật thuyết trong kinh điển đều
phải qua văn tự lời nói, qua văn tự lời nói đều là tác
dụng của bộ óc, không phải là giác tánh (giác ngộ). Qua
bộ óc suy nghĩ là không phải giác ngộ, giác ngộ không qua
bộ óc suy nghĩ. Cho nên, cuối cùng Phật truyền pháp thiền
trực tiếp là Tổ sư thiền.
Tại
sao gọi là Tổ sư thiền? Phật truyền cho Ma Ha Ca Diếp làm
sơ tổ, Ma Ha Ca Diếp truyền cho A Nan là nhị tổ, A Nan truyền
cho Thương Na Hòa Tu làm tam tổ; từ Tổ từ Tổ truyền xuống
Bồ Đề Ma là Tổ thứ 28. Bồ Đề Đạt Ma qua Trung Quốc
làm sơ tổ, rồi truyền cho Huệ Khả làm nhị tổ, Huệ Khả
truyền cho Tăng Xán làm tam tổ, Tăng Xán truyền cho Đạo Tín
làm tứ tổ, Đạo Tín truyền cho Hoằng Nhẫn làm ngũ tổ,
Hoằng Nhẫn truyền cho Huệ Năng làm lục tổ.
Đến
Lục Tổ là người không biết chữ, mà danh tiếng cùng khắp.
Bởi vì nơi tự tâm sẵn có, không phải do học; những gì
qua bộ óc học không bằng Lục Tổ tự ngộ. Muốn phát hiện
giác tánh của mình phải tham Tổ sư thiền. Ngày xưa chư Tổ
dùng các cơ xảo cho người tham thiền mau được chứng ngộ.
Các
chùa Việt Nam phần nhiều thuộc dòng Lâm Tế, nhưng không
biết thiền Lâm Tế, ngài Lâm Tế trước kia ở trong hội
Hoàng Bá, thầy truyền pháp là Hoàng Bá, ở trong hội 3 năm
không có học hỏi gì. Thủ tọa Mộc Châu là người kiến
tánh triệt để, biết Lâm Tế là một pháp khí, sau này sẽ
thành tựu lớn, nên bình thường đối với Lâm Tế rất tốt.
Một hôm, gặp Lâm Tế hỏi: Đến đây ở bao lâu rồi?
Lâm
Tế đáp: được 3 năm.
Mộc
Châu hỏi: có hỏi Phật pháp với Hòa thượng Hoàng Bá không?
Lâm
Tế đáp: không.
Mộc
Châu hỏi: tại sao không đi hỏi?
Lâm
Tế đáp: không biết hỏi cái gì.
Mộc
Châu nói: hỏi “thế nào đại ý của Phật pháp?”
Lâm
Tế đến hỏi Hoàng Bá: thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt thì bị đánh đập đuổi ra, lúc đó đã phát
khởi nghi tình, đang tham thiền nhưng tự mình không biết,
cứ nghi “tại sao hỏi Phật pháp đâu có lỗi gì mà bị
đánh đập đuổi ra?” Đó là cơ xảo của Tổ sư Thiền
tông.
Hôm
sau đi gặp Mộc Châu, Mộc Châu hỏi: có đi hỏi không?
Lâm
Tế đáp: có.
Mộc
Châu hỏi: thế nào?
Lâm
Tế đáp: khi câu hỏi vừa dứt bị đánh đập đuổi ra, không
biết lỗi chỗ nào?
Mộc
Châu nói: hãy đi hỏi nữa đi.
Lâm
Tế nói: đã hỏi bị đánh đập đuổi ra, còn hỏi gì nữa!
Mộc
Châu nói: kỳ này khác, hãy đi hỏi nữa đi.
Lâm
Tế đến hỏi Hoàng Bá: thế nào là đại ý của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt bị đánh đập đuổi ra.
Hôm
sau gặp Mộc Châu, Mộc Châu hỏi: như thế nào?
Lâm
Tế đáp: cũng như kỳ trước, bị đánh đập đuổi ra.
Mộc
Châu nói: hãy đi hỏi lần nữa!
Lâm
Tế nói: thôi thôi, hỏi hai lần bị đánh đập đuổi ra còn
hỏi gì nữa!
Mộc
Châu nói: làm việc gì cũng phải 3 lần, hãy đi hỏi lần
nữa đi.
Kỳ
này, Lâm Tế ráng đến hỏi Hoàng Bá: Thế nào là đại ý
của Phật pháp?
Câu
hỏi vừa dứt thì bị đánh đập mạnh đuổi ra, Lâm Tế
liền đi gặp Mộc Châu, nói: Tôi không muốn ở đây nữa
(lúc đó nghi tình muốn bùng vỡ mà tự mình không biết).
Mộc
Châu nói: muốn đi hãy đến từ giả Hòa thượng.
Lâm
Tế đến từ giả Hoàng Bá, Hoàng Bá hỏi: muốn đi đâu?
Lâm
Tế đáp: chưa biết.
Hoàng
Bá nói: bây giờ khỏi cần đi chỗ khác, đi lại chỗ Thiền
sư Đại Ngu ở Cao An Thăng sẽ có lợi ích.
Lâm
Tế không biết cơ xảo của thầy, nên muốn bỏ đi chỗ khác,
đến Cao An Thăng gặp Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: từ đâu đến?
Lâm
Tế đáp: từ Hoàng Bá đến.
Đại
Ngu hỏi: Hoàng Bá có dạy bảo gì không?
Lâm
Tế đáp: 3 lần hỏi Phật pháp, 3 lần bị đánh đập, không
biết lỗi ở chỗ nào?
Đại
Ngu nói: Hoàng Bá từ bi đối với ông như vậy, mà còn hỏi
lỗi ở chỗ nào!
Lúc
ấy Lâm Tế nghe ngộ liền triệt để.
Bởi
vì nghi tình đến mức, được Đại Ngu nói trắng ra thì ngộ
liền. Lập tức trở lại Hoàng Bá. Hoàng Bá hỏi: sao trở
về mau vậy? Có đi Đại Ngu không?
Lâm
Tế đáp: có.
Hoàng
Bá hỏi: Đại Ngu nói thế nào?
Lâm
Tế kể chuyện gặp Đại Ngu. Hoàng Bá nói: Đại Ngu sao nhiều
chuyện quá, sau này gặp sẽ cho bạt tai.
Lâm
Tế nói: khỏi cần sau này, bây giờ cho liền. Lâm Tế liền
đánh một bạt tai Hoàng Bá.
Hoàng
Bá cười lên.
Tại
sao đánh bạt tai Hoàng Bá mà Hoàng Bá lại cười? Vì Hoàng
Bá biết Lâm Tế đã ngộ và có một pháp tử được nối
huệ mạng của Phật, cho nên thấy vui mà cười. Cơ xảo của
Tổ trong Thiền tông rất nhiều, kể trong Truyền Đăng Lục
có 1.700 công án.
Hỏi:
Tánh
giác toàn thể ai ai cũng có, nhưng chúng con vẫn mơ hồ chưa
rõ. Tánh giác là cái gì, làm sao biết mình có tánh giác?
Đáp:
Tánh
giác là giác ngộ, khi giác ngộ mới biết; chưa giác ngộ
có đoán mò cũng là bộ óc, cái biết của bộ óc không thể
biết cái biết của giác tánh. Tại sao? Vì cái biết của
bộ óc không cùng khắp, nên không đúng sự thật, theo Phật
pháp là cái biết bệnh; cái biết của giác tánh cùng khắp
không gian thời gian là tướng mạnh.
Tham
thiền là muốn hiện ra tướng mạnh, nếu còn tướng bệnh
thì tướng mạnh không hiện ra. Tại sao? Vì tướng bệnh là
xanh vàng ốm yếu, tướng mạnh là hồng hào; khi còn xanh vàng
ốm yếu thì tướng hồng hào làm sao hiện ra? Phải hết xanh
vàng ốm yếu thì hồng hào hiện ra. Cho nên, dùng tướng bệnh
không thể đi tìm tướng mạnh, càng tìm càng xa. Vì tướng
bệnh còn thì tướng mạnh không có dịp hiện ra.
Pháp
thiền trực tiếp của Phật Thích Ca truyền là muốn đóng
bít tác dụng của bộ óc, tức là cho tướng bệnh sạch hết
rồi tướng mạnh tự hiện ra. Lúc tướng mạnh hiện ra là
thấy tánh thành Phật (thấy được giác tánh) cùng khắp không
gian thời gian. Bây giờ mình chưa giác ngộ thì không thể
hiểu được, nếu chỉ theo lời Phật để hiểu là sai lầm.
Tại sao?
Phật
trong kinh có thí dụ: Người mù bẩm sinh (chưa ngộ) không
thấy mặt trời hỏi người mắt sáng (ngộ rồi). Người
mắt sáng diễn tả mặt trời tròn với nóng, người mắt
sáng nói đúng nhưng người mù cho tròn với nóng là sai. Vì
tròn với nóng đâu phải mặt trời.
Tôi
quen biết với ông Trương, quý vị không gặp ông Trương nên
không biết mặt mũi ông Trương ra sao. Tôi diễn tả hình dáng
của ông Trương rất kỹ, nhưng các vị gặp ông Trương ngoài
đường cũng không biết. Khi nào gặp ông Trương, tôi giới
thiệu trước mặt cho các vị thì sau này các vị gặp ông
Trương liền biết. Vì qua lời nói là không đúng sự thật.
Nếu
nói giác tánh như thế nào cho mình biết thì mình khỏi tu,
khỏi cần ngộ. Do nói không được, nói là không phải; nói
là qua văn tự lời nói, nên Phật nói trong kinh đều không
phải. Vì vậy, Phật nói “tôi thuyết pháp 49 năm, nhưng chưa
từng nói một chữ”. Mục đích Phật muốn tất cả chúng
sanh trị hết bệnh mù, tự mình đích thân thấy. Mặc dù,
Phật đã ngộ nói cho người mù biết cũng không thể được.
Hỏi:
Có
phải chân tâm là tánh giác không?
Đáp:
Phải!
Chân tâm là tánh giác, tức là bản tâm chân thật của mỗi
chúng sanh. Tại sao gọi là tánh giác? Vì có tánh giác ngộ,
giác ngộ là tự mình tự thấy tự biết; cho nên gọi là
tánh giác.
Hỏi:
Phật
pháp là pháp bất nhị, con không hiểu rõ pháp bất nhị là
pháp gì? Có phải pháp bất nhị là pháp không hai, nếu là
không hai thì còn một. Vậy Phật pháp là pháp một, vì có
một nên có hai để đối đãi, như thế nghĩa là sao?
Đáp:
Bất
nhị là không có tương đối, không phải một; nếu kiến
lập một thì có hai có ba, cho đến muôn ngàn. Nhị là tương
đối, không có tương đối thì không có đồng và khác. Tại
sao? Nếu có đồng phải có cái này đồng với cái kia, có
hai mới đồng được; rồi nói khác phải có hai, cái này
khác với cái kia. Bất nhị không có tương đối, không có
tương đối thì không có đồng, không có khác. Nói một tức
là đồng, không được. Số 1 là con số đầu tiên, có 1 có
2 có 3 có con số muôn ngàn.
Chân
tâm của mình là siêu việt số lượng, cùng khắp không gian
thời gian; cùng khắp không gian thì không có số lượng. Tại
sao? Vì ngoài không gian không còn không gian nữa, không có hai
không gian; không gian không có biên giới, siêu việt số lượng
không thể nói là một, không thể nói là nhiều. Chính bản
thân số lượng không thể nói con số nào lớn nhất hay nhỏ
nhất. Vì số lượng không có bản thể nên không có cái gì
để tính toán để có số lượng. Giác tánh không có hình
thể, là thể tinh thần cùng khắp không gian thời gian.
Như
ánh sáng của đèn, những người học khoa học biết ánh sáng
cùng khắp không gian; ánh sáng có hình tướng, mình thấy nhưng
cùng khắp không gian mà không có số lượng; huống là giác
tánh mình thấy không được. Ánh sáng của đèn có đèn lớn
đèn nhỏ, đủ thứ đèn phát ra ánh sáng cùng khắp không
gian, không thể chỉ ra ánh sáng nào thuộc cây đèn lớn, ánh
sáng nào thuộc cây đèn nhỏ; không thể phân biệt được,
vì ánh sáng cùng khắp, siêu việt số lượng, nên không thể
chỉ.
Giác
tánh của mình cũng vậy, vì muốn dùng lời nói của thế
gian để nói; cho nên chỉ nói là bất nhị, không có tương
đối chứ không phải là một.
Hỏi:
Các
vị Tổ sư ngày xưa chỉ thẳng vào tâm thấy tánh thành Phật,
như ngài Đạt Ma chỉ bày pháp an tâm, ngài Huệ Năng chỉ
luận kiến tánh khế hiệp ngộ ý là xong, chứ đâu có tham
thoại đầu như ngày nay. Vậy thưa Thiền sư tham thoại đầu
bắt đầu vào thời kỳ nào? Và Tổ sư thứ mấy đặt ra
và vì sao mà đặt ra?
Đáp:
Trước
đời nhà Tống có cuốn Truyền Đăng Lục ghi lịch sử Thiền
tông chưa ra đời thì không có tham công án tham thoại đầu,
tất cả Tổ sư đều dùng cơ xảo, như vừa rồi tôi kể
ngài Lâm Tế hỏi pháp bị đánh đập đuổi ra là cơ xảo
của Tổ sư.
Thiền
sư Sùng Tín làm thị giả cho Đạo Ngộ được 3 năm, mà thầy
không dạy bảo, không khai thị gì hết. Lúc đó Sùng Tín bắt
đầu nghi “tôi xuất gia là muốn cầu giải thoát, thầy không
dạy gì làm sao giải thoát?” Đã khởi lên nghi tình mà tự
mình không biết, cứ nghi trong bụng hoài, nghi tức là tham
thiền. Đó là cơ xảo của thầy mà Sùng Tín không biết,
nghi tình quá mạnh muốn bùng vỡ, lại từ giả thầy, nói
“bây giờ con muốn đi chỗ khác học Phật pháp”.
Đạo
Ngộ hỏi: sao vậy?
Sùng
Tín nói: con ở đây 3 năm, nhưng thầy không dạy bảo gì làm
sao được giải thoát?
Đạo
Ngộ nói: ngày nào tôi cũng khai thị, tại sao nói không khai
thị?
Sùng
Tín nói: Thầy khai thị gì đâu?
Đạo
Ngộ nói: ngươi bới cơm thì tôi ăn, rót trà thì tôi uống,
đảnh lễ tôi gật đầu, chỗ nào không khai thị!
Sùng
Tín nghe liền ngộ.
Đó
là cơ xảo của thầy, vì thầy chỉ làm cho trò phát nghi tình;
không dạy bảo, không khai thị cũng là cơ xảo của Tổ sư.
Lúc đó không cần tham công án tham thoại đầu, tham công án
tham thoại đầu là bất đắc dĩ. Tại sao? Bởi do cuốn đầu
tiên là Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, tức lịch sử Thiền
tông được ghi từ thời vua Cảnh Đức đời nhà Tống. Đáng
lẽ Tổ sư khai thị không cho học trò ghi, nhưng nhiều người
ham tri kiến ghi lén, sau này tập trung lại tất cả cơ xảo
của Tổ sư ghi trong đó. Những người tham thiền đọc biết
cơ xảo, Tổ sư có đánh đập, chửi mắng… cách mấy cũng
không phát lên nghi tình.
Nếu
không nhờ câu thoại đầu phát lên nghi tình thì không thể
đến ngộ, nhờ câu thoại đầu là biết mình tham thiền rồi,
muốn đạt đến chỗ chân tham rất khó. Ngài Lai Quả nói
“vô tham mới là chân tham”, vô tham không phải là không
có tham, là mình đang tham mà mình không biết mình tham. Cơ
xảo của Tổ làm cho mình tham nhưng không biết mình tham.
Như
ngài Sùng Tín và ngài Lâm Tế đang tham nhưng không biết mình
tham, cho nên bước đầu tiên là đến chân tham. Bây giờ dạy
tham công án tham thoại đầu đã biết mình tham, muốn đạt
chỗ chân tham phải qua năm mười năm mới có thể được.
Cho nên đời sau người tham thiền kiến tánh rất ít.
Lục
Tổ có 43 người kiến tánh, Mã Tổ có 139 người kiến tánh;
lúc ấy Trung Quốc phần nhiều là Tòng lâm có người kiến
tánh rất nhiều. Còn dùng cơ xảo, Thiền tông có chia làm
5 phái (Lâm Tế, Tào Động, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng, Vân Môn).
Sau này cơ xảo dùng không được thì 5 phái hợp lại thành
một, tông phái nào cũng tham thoại đầu, tham công án. Nhờ
công án thoại đầu phát khởi nghi tình, rồi từ nghi đến
ngộ. Phật Thích Ca truyền pháp môn này là từ nghi đến ngộ.