Mục
Lục
Ý
Nghĩa Của Chữ Ăn Chay
Phần
Thứ Nhất: Ăn Chay Qua Lăng Kính Khoa Học
Mục
Đích Của Sự Ă n Chay
Phân
Loại Ăn Chay
Ăn
Chay Đúng Phương Pháp
Phần
Thứ Hai: Ăn Chay Trong Đạo Phật
Mục
Đích
Sự
Lơi Ích
Những
Vấn Đề Nhạy Cảm Liên Quan Đến Ăn Chay Trong Đạo Phật
Sự
Khác Biệt
Vấn
Đề Ăn Thịt Thì Sao
Đức
Phật Có Thừa Nhận Chuyện Ăn Thịt không?
Kinh
Bắc Tông Nói Về Ăn Thịt
Có
Phải Đức Phật Tịch Diệt Vì Ăn Thịt Chăng?
Vì
Sao Có Sự Khác biệt?
Phần
Thứ Ba: Trả Lời Những Thắc Mắc Về Ăn Chay Ăn Mặn
Trả
lời câu hỏi thứ 1: Vấn đề tên gọi các món chay giả mặn.
Trả
lời câu hỏi thứ 2: Người ta thường nói: “Ăn mặn nói
ngay còn hơn ăn chay nói dối." Ông nghĩ sao?
Trả
lời câu hỏi thứ 3: Tại sao một số vị sư ăn trường chay
từ khi còn tu ở Việt Nam, nay qua đây lại bị bệnh tiểu
đường và cũng có một số vị khác bị bệnh tim mạch, như
vậy là sao? Sao nói ăn chay chữa được nhiều bệnh?
Trả
lời câu hỏi thứ 4: Có người xem lịch sử Việt Nam thấy
ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, là một vị giác ngộ, thầy của
vua Trần Nhân Tông sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm cũng ăn mặn
nên nói rằng ăn chay không cần thiết. Lý này là thế nào?
Có phải ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ ăn mặn không?
PHẦN
THỨ HAI
ĂN
CHAY TRONG ĐẠO PHẬT
MỤC
ĐÍCH ĂN CHAY CỦA ĐẠO PHẬT
Có
người hỏi mục đích ăn chay của đạo Phật có giống mục
đích ăn chay của người Hoa Kỳ nói riêng và người Tây Phương
nói chung không?
Chúng
tôi xin thưa ngay là mục đích ăn chay của những người theo
đạo Phật không giống mục đích ăn chay của người Tây
Phương. Mục đích ăn chay
của đạo Phật là tôn trọng và bảo vệ sự sống.
Tôn trọng sự sống là đặc điểm của Phật giáo. Không
sát sanh là giới luật nhằm bảo vệ sự sống ấy và ăn
chay đối với những người theo đạo Phật chính là sự thực
hành cụ thể cho đặc điểm ấy.
Đạo
Phật xem sự sống là tối thượng, là trên tất cả. Hết
thảy cái gì có sự sống, có cảm giác và tự cử động
được, từ con giun, con dế đến con bò, con voi là người
Phật tử phải dốc lòng bảo vệ sự sống ấy. Nhân
đây chúng tôi cũng thưa với quí vị là, mặc dầu đức Phật
có thể đã cho phép ăn thịt trong một số điều kiện đặc
biệt nào đó, ở một thời điểm hay một nơi nào đó, nhưng
điều chủ yếu của giáo lý đạo Phật là Từ Bi đối với
mọi loài chúng sanh, thương xót tất cả muôn loài chúng sanh.
Vì thế, nếu thực phẩm có sự chết của chúng sanh thì tốt
hơn là không nên ăn. Do đó mới gọi Đạo Phật là đạo
từ bi. Và cũng do đạo Phật là đạo từ bi nên đức
Phật đã dạy các đệ tử của Ngài là không được giết
hại, cũng không được viện dẫn bất cứ lý do nào để
giết hại chúng sanh, vì mọi chúng sanh cũng đều ham sống
và sợ chết.
Chúng
tôi còn nhớ một vị cao Tăng Phật giáo đã giảng dạy rằng:
"Giết sự sống để nuôi sự
sống là mê muội mà vì tham sống nên hại sự sống cũng
là vô minh. Cho nên tôn trọng sự sống không những bằng cách
giúp nhau để sống còn, mà còn có khi phải hy sinh sự sống
để bảo vệ sự sống, nghĩa là có khi tiêu cực như ăn chay
để cứu muôn loài, có khi tích cực như "thay khổ cho chúng
sanh" để cứu vạn loại. Đạo Phật đặc biệt chú trọng
và nêu cao chủ nghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải
hướng về mục đích tôn trọng sự sống."
Thật là thâm sâu khi ngài nói về mục đích ăn chay của đạo
Phật như vậy.
SỰ
LỢI ÍCH CỦA ĂN CHAY
Mục
đích ăn chay của người Tây Phương mà phần lớn là bảo
vệ sức khỏe cho bản thân, khác với mục đích của Phật
giáo, tuy rằng cũng có một số người (khoảng 4% của 12,5
triệu người) là có mục đích tương tự như đạo Phật.
Bác sĩ Albert Schweitzer, người đã đoạt giải Nobel về hòa
bình đại diện cho những người này. Ông đã nói rằng: "không
giết sinh vật kể cả côn trùng, không ăn bất cứ cái gì
mà trước kia đã từng sống." (Animal, Nature and Albert Schweitzer,
page 40).
Kính
thưa quý vị, vì lòng từ bi không sát hại chúng sinh, người
Phật tử ăn chay không những có được những lợi ích trong
hiện tại mà cả trong đời sống tương lai nữa.
(Thứ
1) Thân thể được mạnh khỏe; tinh thần được nhẹ nhàng,
trong sạch; trí tuệ được minh mẫn để tu hành.
(Thứ
2) Không gây nhân giết hại, sẽ không bị quả báo.
Ngoài
ra, ăn chay không những có lợi ích cho cá nhân, mà còn có
lợi
ích chung cho cộng đồng là đem lại an lạc hoà bình cho xã
hội, cho quốc gia và cho thế giới. Cổ nhân đã nói:
"Nhất
thế chúng sanh vô sát nghiệp,
Hà
sầu thế giới động đao binh".
(Nếu
tất cả chúng sanh không sát hại lẫn nhau, thì sợ gì thế
giới có chiến tranh).
Thật
vậy người ăn chay, với tâm từ bi, luôn luôn trân quý sự
sống của muôn loài chúng sinh, luôn luôn hướng tâm về sự
an nguy của chúng sinh thì sẽ không nỡ tâm tàn sát đồng
loại để đạt mục đích lợi danh.
NHỮNG
VẤN ĐỀ NHẠY CẢM
LIÊN
QUAN ĐẾN ĂN CHAY TRONG ĐẠO PHẬT
Chúng
tôi đang trình bày về một trong những điểm đặc sắc của
đạo Phật là tôn trọng và bảo vệ sự sống. Đạo
Phật mà chúng tôi muốn nói ở đây bao gồm tất cả các
trường phái, các bộ phái và các tông phái Phật Gíao.
Tất cả đều thừa nhận điểm đặc biệt và quan trọng
này, đều thừa nhận và chấp hành giới cấm sát sinh.
Theo
giới cấm thứ nhất này, Đức Phật dạy chúng ta không được
làm tổn thương đến mọi loài chúng sinh. Trong kệ 131 kinh
Pháp Cú Đức Phật dạy rằng: "Kẻ
nào tìm hạnh phúc cho mình bằng cách hành hạ chúng sinh khác
-- cũng mong cầu hạnh phúc --, kẻ ấy sẽ không được hạnh
phúc". Vì thế theo Phật giáo,
sự không giết hại và không làm tổn thương đến chúng sinh
rất là quan trọng.
Kinh
Pháp Cú kệ 129 và 130 nói rằng, "Tất
cả đều sợ hãi trước hiểm nguy, tất cả đều quý trọng
đời sống. Hãy lấy lòng ta suy lòng người. Không nên giết,
cũng không nên làm cho kẻ khác bị giết".
Kính
thưa quý vị. Theo Phật giáo, tất cả mọi loài như loài
cá bơi lội, loài thú vật đi hay bò trên đất, loài chim bay
trên trời; đều là các loài có cảm giác, không thể bị
giết hại hay làm bị thương. Phật tử không thể là những
người đi săn bắn, đánh cá, đánh bẫy, nhân viên của các
lò sát sinh, và mổ xẻ động vật sống.
Vậy
làm thế nào để bảo vệ sự sống và làm thế nào để
thi hành giới không được sát sinh. Không làm những nghề
gây tổn hại đến chúng sinh là chúng ta đã thực hành đủ
rồi chăng? Chưa đủ, vì đó chỉ là chính nghiệp trong
Bát Chánh Đạo, nhưng vẫn còn phải ăn thịt hàng ngày vì
một số đông cho rằng “ăn
thịt để nuôi sự sống, để thỏa mãn nhu cầu ăn uống
hằng ngày”. Họ quên
rằng trong Bát chánh đạo, ngòai chánh nghiệp còn có chánh
mạng, chánh mạng tức là nuôi mạng sống chân chánh.
Nếu giết hại chúng sanh làm thực phẩm để nuôi sống thân
mạng thì đó không phải là chánh mạng.
Đó
là vấn đề ăn thịt, một vấn đề gây nhiều tranh luận,
không phải ngày nay mới có mà đã có từ thời Đức Phật
và trở thành vấn đề nhạy cảm trong cộng đồng Phật giáo
mỗi khi nói đến ăn chay, ăn mặn. Nhạy cảm đến nỗi
có khi tranh luận thành tranh cãi và biến thành rêu rao như
những câu người ta thường nói: “ăn mặn nói ngay còn hơn
ăn chay nói dối… “ . Và đến nỗi một vị giảng
sư trong giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay như chúng tôi
đã nói, đề nghị không nên dùng từ ăn chay và ăn mặn nữa.
SỰ
KHÁC BIỆT
Cùng
thừa nhận nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ sự sống, cùng
chấp hành giới luật không sát sinh nhằm bảo vệ sự sống,
nhưng chính sách cụ thể để chấp hành thì khác nhau.
Những
người ăn chay tu theo Phật Giáo Bắc Tông thì cho rằng ăn
chay là chính sách cụ thể, để thực hành giới luật không
sát sinh, mặc dầu có tính cách gián tiếp và tiêu cực. Giới
luật đầu tiên dành cho một Phật tử là:
“Ý
thức được những sự khổ đau do sự sát hại gây ra, tôi
xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi
người và mọi loài. Tôi nguyện không giết hại bất kỳ
sinh vật nào, không tán thành sự giết hại, và không để
kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống
hằng ngày của tôi”.
Lời
của Đức Phật ghi lại trong các kinh sách Nguyên Thuỷ rất
rõ ràng: “Chớ có sát sinh,
chớ có khuyến khích sát sanh, chớ có chấp nhận sát sanh,
chớ có làm hại các sinh vật nhỏ bé trong nước, thậm chí
chớ có đạp trên cỏ xanh.”
Hành động ăn thịt là khuyến khích các ngành công nghiệp
liên đới tạo ra những hành động tàn ác và gây ra cái chết
cho hằng hà sa số súc vật. Một người có lòng từ
bi nhân hậu cần phải làm dịu đi những nỗi đau khổ đó
bằng cách không ăn thịt. Ăn chay để bảo vệ sự sống,
để nuôi dưỡng lòng từ bi, để không còn cảnh từng con
bò, từng con heo, hết con này rồi tới con khác bị đẩy vào
lò sát sinh, hay cảnh hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn con gà
bị đẩy vào máy cắt để cắt cổ và nhổ lông.
Ngày
xưa có một thi sĩ viết về bát canh thịt:
Ngàn
năm qua một bát canh
Oán
sâu biển cả hận thành non cao
Muốn
hay nguồn gốc binh đao
Lắng
nghe quán thịt tiếng gào thâu đêm.
Chỉ
cần nhìn vào trong bát canh và miếng thịt trong đó, chỉ cần
nhìn vào nồi soup ra-gu hầm thịt, người ta sẽ thấy được
niềm oán hận của các loài bị tàn sát; nỗi oán hận này
sâu như biển, lớn như núi. Nếu muốn biết được bản
chất của chiến tranh hiện đang xảy ra trên thế giới, từ
A phú Hãn đến miền Trung Đông, chỉ cần nửa đêm thức
giấc lắng nghe tiếng gào thét của những con vật đang bị
giết ở các lò sát sinh.
Một
Phật tử gửi thư cho chúng tôi, viết rằng: "Tôi xem cuốn
phim "Downed Animals" nhìn thấy những con vật bị lùa vào lò
sát sinh, chúng trì lại ở ngoài cửa, không chịu bước, cứ
dáo dác nhìn quanh bằng những cặp mắt kinh hoàng, như đang
cầu khẩn xin tha mạng, thương tâm quá, nghĩ nếu như con mình
mà trong trường hợp ấy, tính mạng lâm nguy, nhìn ra chung
quanh cầu cứu, chỉ thấy toàn những bộ mặt hăm hở muốn
giết, đau lòng quá!"
Có
người nói rằng: “Trời sinh con vật để cho con người
ăn, tại sao không ăn?", thì có thể sẽ có người hỏi
lại: "Trời sinh con người để làm thức ăn cho vi trùng,
hay cho con cọp, con beo ăn, tại sao không để cho vi trùng hay
để cho con cọp, con beo ăn?".
Kính
thưa quý vị, đó là quan niệm của những người ăn chay tu
theo Phật giáo Bắc Tông, còn Phật giáo Nam Tông thì sao?
Một
số đông người tu theo Phật giáo Nam Tông, nhưng không
phải là tất cả, thì tin rằng việc ăn chay là không cần
thiết đối với Phật tử bởi vì:
(Thứ
1) Nếu như Đức Phật cảm thấy các thức ăn không thịt
là hợp với các Giới Luật thì ắt hẳn Ngài đã tuyên bố
và ít ra cũng đã được ghi chép trong Tam tạng Pali, nhưng
đàng này lại không thấy Ngài đề cập đến.
(Thứ
2) Trừ phi chính chúng ta thực sự giết con vật để lấy
thịt sử dụng, thì chúng ta không có trách nhiệm trực tiếp
về cái chết của con vật đó; và hiểu như vậy thì người
ăn chay và không ăn chay cũng không khác biệt gì cả. Những
người ăn chay chỉ có thể ăn rau quả vì có người nông
dân cày cấy ruộng (như vậy họ cũng đã sát hại biết bao
nhiêu sinh vật) và phun thuốc trừ sâu (lại giết thêm nhiều
sinh vật nữa)
(Thứ
3) Cho dù những người ăn chay không ăn thịt, họ cũng
phải dùng rất nhiều sản phẩm khác dẫn đến việc sát
hại thú vật (như sà-phòng, đồ da thuộc, huyết thanh, tơ
tằm, v.v...). Tại sao kiêng không dùng một thứ sản phẩm
này, song lại sử dụng các thứ khác?
(Thứ
4) Các đức tính tốt như cảm thông, nhẫn nại, quảng
đại, và trung thực, và các tính xấu như ngu dốt, kiêu hãnh,
đạo đức giả, ganh tị và lãnh đạm thờ ơ không tùy thuộc
vào những gì chúng ta ăn vào miệng, và như vậy thì thức
ăn không phải là nhân tố quan trọng để phát triển tâm
linh. (Nguyên tác: "Vegetarianism", Venerable
S. Dhammika, BhuddhaNet. Tỳ kheo Thiện Minh dịch)
VẤN
ĐỀ ĂN THỊT THÌ SAO ?
Nguyên
nhân chính đưa tới hai quan điểm khác biệt nhau mà chúng
tôi vừa trình bày là vấn đề ăn thịt và những giải
thích về vấn đề này dựa theo kinh sách, một vấn đề
nhạy cảm, dễ xung đột nhất. Những người Phật tử
không ăn chay bao gồm cả giới cư sĩ và giới tu sĩ thường
viện dẫn kinh Jivaka, trong đó đức Phật nói rằng,
"Như
Lai cấm không cho ăn thịt trong ba trường hợp. Nếu thấy,
nghe hay có lòng hoài nghi rằng con vật bị giết cho mình ăn.
Trong ba trường hợp, Ta cho phép ăn, nếu không thấy, không
nghe hay không có lòng hoài nghi rằng con vật bị giết cho mình
ăn".
Phái
này cho rằng, trong trường hợp người ta không tự giết con
vật để mà ăn, có nghĩa là không cố ý sát sanh (cũng có
nghĩa là người khác giết dùm) thì không có vấn đề gì
khi ăn thịt đó. Mặc dầu có sự chết xảy ra, nhưng người
ăn thịt không tạo ra nghiệp sát, họ hoàn toàn không liên
hệ vào sự chết chóc đó. Họ biện luận rằng (xin
trích dẫn): “phần lớn những người ăn thịt, không
phải vì họ có ý muốn giết hại thú vật, mà chỉ là một
thói quen họ đã có từ nhỏ. Đó chính là một phần nền
văn hóa của họ, là vì họ đã biết cách nấu món ăn đó,
và họ biết cách ăn món đó ra sao. Điều đó thích hợp với
họ, chính vì vậy mà họ ăn thịt…”
Họ cho rằng do “ảnh hưởng văn hóa, cách thức vị
giác của bạn được hình thành là do bạn đã được nuôi
dưỡng ra sao. Nếu bạn quen dùng một số thực phẩm nào đó,
bạn sẽ cảm thấy thoải mái khi ăn loại thức ăn đó. Chính
vì vậy mà bạn thích mua thức ăn đó. Đó là loại thực
phẩm bạn đã biết cách nấu nướng ra sao. Tại sao đa số
người Úc lại là người "không-ăn-chay"? Họ ăn thịt là
bởi vì đó là điều họ đã quen ăn. Đó là một phần tạo
ra nền văn hóa Úc” (Buddhism
and Vegetarianism", Ajahn Jagaro (1994). Tỳ kheo Thiện Minh dịch)
Tuy
nhiên, những Phật tử ăn chay viện dẫn kệ 129 và 130 trong
Kinh Pháp Cú đã chỉ rõ rằng chúng ta KHÔNG ĐƯỢC GIẾT HAY
GÂY NÊN SỰ GIẾT (should not kill or cause to kill). Họ viện
dẫn nhiều kinh sách Nguyên Thủy tạng Pali trong đó có chép
lại lời Phật dạy: "Chớ có
sát sinh, chớ có khuyến khích sát sanh, chớ có chấp nhận
sát sanh, chớ có làm hại các sinh vật nhỏ bé trong nước,
thậm chí chớ có đạp trên cỏ xanh".
Họ cho rằng “người nào mua
thịt hay các sản phẩm có nguồn gốc từ thịt, tức là người
đó đã tạo nên những nhân thiết yếu, tức tạo nên nhu
cầu tiêu thụ; để cho người khác giết những con thú vật
này, tức cung cấp theo nhu cầu, có nghĩa là những loài động
vật như con bò, con dê, con heo, con gà bị giết tại các lò
sát sinh là để cho những người ăn thịt thưởng thức.
Nếu như không một ai ăn thịt thì rõ ràng là các con vật
này không bị giết. Bởi sự đồng ý ăn thịt do người
khác phục vụ, người ăn thịt là nguyên nhân tạo cho người
khác giết hại thú vật. ".
Họ
biện luận rằng : “Thật là
không công bằng chút nào khi chúng ta tạo nguyên nhân cho những
người làm nghề đồ tể phải vào địa ngục chỉ vì sự
hưởng thụ khoái khẩu của chúng ta. Nếu chúng ta đều
nhất trí ăn chay thì những người chém giết thú vật làm
thịt bán sẽ phải chuyển đổi ngành nghề khác tốt đẹp,
phước đức hơn và lúc đó toàn thế giới sẽ sống an lạc
hoà bình. Do cứ tiếp tục ăn mạng chúng sanh nên khiến chúng
ta cứ duy trì một lớp người hành nghề chém giết đáng
thương đó.” (Dr.
D.P. Atukorale, M.D. là bác sĩ chuyên khoa về tim mạch, hiện
là Giáo Sư Viện Đại Học Colombo Tích Lan)
Họ
cũng trích dẫn lời giảng của một vị cao Tăng Phật giáo
hiện đại, Hoà Thượng Thích Trí Tịnh nói về việc
ăn thịt như sau: (chúng tôi xin đọc nguyên văn)
“Đại
chúng nên biết, nếu muốn có thịt để ăn, thì phải sát
sanh. Không tự giết thì cũng bảo người giết, cho nên ăn
thịt là nguyên nhơn cho sự sát hại sanh mạng của các loài
vật. Tất cả các thứ thịt, không luận là thịt gì, từ
thịt heo, bò cho đến tôm ốc v.v... thuộc về loài thịt của
chúng sanh đều không được ăn.
Có
đạo cho rằng loài ốc, tôm không có máu như vậy ăn được.
Còn có đạo nói trứng chưa tượng hình, nó không biết đau
đớn nên ăn được.
Nhưng
theo lời Phật dạy, xét kỹ nó thuộc về loài thịt đều
không được ăn cả, bởi vì dù con tôm, con ốc thật sự
nó không có máu đi nữa, nhưng nó cũng ham sống sợ chết.
Như con ốc biết khép mai khi nghe tiếng động, con tôm, con
tép biết nhảy ngược khi mình đụng vào nó. Như vậy là
nó có cảm giác biết đau, biết ham sống sợ chết mới có
những tác động như thế. Còn như các trứng, nếu ta
ăn trứng mà chưa có tượng hình, nghĩa là chưa lộn, gọi
rằng không có tội mà được ăn, như vậy những người có
thai, hoặc một, hai tháng, hay bao nhiêu tháng, ngày đó mà phá
thai thì không có tội, bởi vì thai lúc đó nó cũng chưa thành
hình gì. Mà nếu phá thai có tội, thì ăn trứng cũng
có tội, bởi vì trong trứng nếu đủ duyên nó sẽ thành con
gà hay con gì đó.
Như
vậy nói tóm lại, mình y theo lời Phật dạy, thì tất cả
những gì thuộc về tánh chất thịt đều không được ăn.
Tuy thế, đức Phật cũng theo thời cơ của người đời.
Do đó trong giới Tiểu Thừa, lúc ban sơ Phật không cấm ăn
thịt, nhưng cho ăn ba thứ thịt: không nghe con vật bị giết,
không thấy con vật bị giết, không nghi người ta giết con
vật vì mình. Ngoài ra còn được ăn thêm các thứ thịt:
con vật nó tự chết, hoặc con thú khác bắt ăn rồi còn dư.
Nhưng
tìm cho được các thứ thịt đó mà ăn cũng khó lắm.
Nếu mình chịu khó suy xét kỹ, thì trong khi ăn cá hoặc thịt,
mình có thể nghĩ rằng: vì sự ăn thịt của mình đây làm
duyên cho người giết, xúi người ta giết.
Những
người giết nếu không có người mua, thì họ giết để làm
gì ? Có người nghĩ rằng, nếu mình không ăn, thì cũng có
người bán thịt, họ cũng giết như thường. Nhưng suy
nghĩ kỹ : nếu một người không ăn, thì sẽ bớt sự giết
một phần, thì sự giết hại cũng ít đi.
Tại
sao không được ăn thịt ? Đức Phật nói: người ăn thịt
thì mất lòng đại từ bi, dứt giống Phật tánh...”(Bài
Giảng của Hoà Thượng Thích Trí Tịnh Trong Mùa Kiết Hạ
An Cư Năm Đinh Mùi 1967 tại Chùa Vạn Đức Thủ Đức)
ĐỨC
PHẬT CÓ THỪA NHẬN CHUYỆN ĂN THỊT KHÔNG?
Chúng
tôi vừa trình bày lập luận của hai phía về việc ăn thịt.
Đến đây một câu hỏi khác được đặt ra là Đức Phật
có thừa nhận chuyện ăn thịt không? bởi vì kinh Jivaka đức
Phật cho phép ăn ba thứ thịt (không nghe con vật bị giết,
không thấy con vật bị giết, không nghi người ta giết con
vật vì mình. Ngoài ra còn được ăn thêm các thứ thịt:
con vật nó tự chết, hoặc con thú khác bắt ăn rồi còn dư).
Trong kinh khác đức Phật lại ngăn cấm không cho Phật tử
làm những ngành nghề buôn bán đẫm máu với những sự giết
chóc tại lò sát sinh, săn bắn thú vật, câu cá và bãy sập
thú rừng. Tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy?
Những
người Phật tử không ăn chay nói rằng kinh Jivaka cho
phép họ ăn thịt và họ diễn giải kinh với ngụ ý rằng
Phật đã ngầm chấp thuận những sự giết chóc tại các
lò sát sinh. Họ cho rằng thịt được sản xuất tại các
lò sát sinh thường đặt xa nơi dân chúng cư ngụ và ngày
nay bày bán tại các siêu thị nên người mua cũng là người
ăn không nghe tiếng kêu gào, không thấy chết dẫy dụa và
không hòai nghi con vật bị giết là cho riêng mình ăn thì đó
chính là ba thứ thịt ngày xưa Phật cho phép ăn.
Nhưng
phái
chống lại sự giết loài vật, dù nơi giết ở bất cứ
địa điểm nào thì cho rằng: "nên biết rằng sự giết hại
thú vật làm thực phẩm tại các lò sát sinh là một trong
các ngành nghề mà Phật đã ngăn cấm không cho Phật tử làm
vì lý do chính là lòng từ bi “Nói rằng một đằng
Phật lên án những ngành nghề buôn bán đẫm máu với những
sự giết chóc trong các lò sát sinh, săn bắn thú vật, câu
cá và bẫy sập thú rừng và một đằng lại cho phép người
Phật tử và hàng tăng sĩ được ăn thịt, nếu những con
vật này không phải là đặc biệt bị giết để cho họ ăn,
là một sự mâu thuẫn vô lý.” Còn ai nữa ngoài những người
ăn thịt phải chịu trách nhiệm về sự giết chóc nơi các
lò sát sinh, săn bắn thú vật và câu cá? Những
đồ tể tại các lò sát sinh chỉ làm việc để đáp ứng
cho nhu cầu của những người ăn thịt mà thôi.
"Thưa
ông. Tôi chỉ làm giùm ông cái phần việc dơ bẩn", người
đồ tể đã trả lời như thế với một bậc thượng lưu
khi vị này phản đối sự tàn bạo của việc giết hại thú
vật khờ khạo vô tội.
Những
người ăn thịt, bất kể đã được diễn dịch rằng con
vật được giết cho họ hay là không, đều gián tiếp
yểm trợ cho kỹ nghệ giết thú vật và góp phần vào sự
tàn bạo giết chóc các sinh vật. Chẳng lẽ Phật lại
không biết đến và không hiểu được điều này, Ngài là
người được mô tả là đấng toàn giác, đấng mà trí tuệ
và từ bi bao trùm tam thiên đại thiên thế giới? Phải chăng
Phật lại có thể không nhạy cảm đến nỗi không thấy rằng
chỉ cần ngưng ăn thịt, người ta có thể chấm dứt một
cách hiệu quả cả sự giết hại những con vật yếu ớt,
câm lặng cùng với những sự thống khổ, kinh hoàng mà chúng
phải chịu đựng.
Chúng
ta được biết rằng Phật ngăn cấm các đệ tử của ngài
không được ăn thịt các thú vật như chó, voi, gấu và sư
tử. Vậy tại sao Phật lại cho phép ăn một loại thịt và
ngăn cấm ăn loại khác? Thế còn heo hay bò, hay gà hay vịt;
những con vật này giả thiết là được chấp thuận cho phép
ăn, thì ít đau đớn hơn con chó, con voi hay con gấu khi chúng
bị giết chăng?
Ai
là Phật tử cũng đều biết Phật vô cùng từ bi và vô cùng
quý trọng sự sống, thí dụ như Ngài nhấn mạnh rằng các
Tỳ kheo phải an cư nhập hạ ba tháng, không ra ngoài, tránh
dẫm đạp lên côn trùng đang sinh sản trong mùa mưa, cho nên
không thể tin được rằng Ngài có thể lãnh đạm trước
nỗi đau đớn và chết chóc của các loài gia súc bị giết
để làm thực phẩm.
Như
chúng ta đều biết, hàng tu sĩ có giới luật riêng. Phật
có thể đòi hỏi các vị Sư nhiều điều chấp hành mà không
đòi hỏi nơi những Phật tử tại gia. Các tu sĩ được huấn
luyện đặc biệt để có những phẩm hạnh cao quý và nghị
lực bền bỉ, khác biệt với hàng cư sĩ tại gia. Các vị
Sư có khả năng mạnh mẽ chống lại sự cám dỗ khoái lạc
mà người thường khó chống cự nổi. Đấy là lý do tại
sao họ từ bỏ khoái lạc tình dục, sống đời sống độc
thân và cũng không ăn cơm sau 12 giờ trưa. Tại sao ăn cơm
sau 12 giờ trưa lại vi phạm giới luật nghiêm trọng hơn là
ăn thịt loài vật? Chúng ta có thể tin quả thật Phật đã
có nói những điều ấy cho những người biên tập kinh điển
Pali, nơi đề tài về sự ăn thịt chăng? …”
(Dr. D.P. Atukorale, M.D. là bác sĩ chuyên khoa về tim mạch,
hiện là Giáo Sư Viện Đại Học Colombo Tích Lan)
KINH
BẮC TÔNG NÓI VỀ VẤN ĐỀ ĂN THỊT
Thưa
các bạn, đó là những vấn đề nhạy cảm đến nhức nhối
của những người Phật tử. Bây giờ chúng ta hãy xem
xét phiên bản kinh điển tiếng Phạn nói về việc ăn thịt.
Chúng tôi trích từ kinh "Lăng Già" mà nguyên một chương
nói về những điều tai hại của việc ăn thịt.
"Vì
lòng từ bi, vì sự tinh khiết, các Bồ tát không được ăn
thịt mà nó được sanh ra từ máu mủ ..v..v.. Vì nỗi lo ngại
những nguyên nhân cấu thành sự kinh hoàng của chúng sinh,
vị Bồ Tát, người đã tự rèn luyện để có được từ
tâm không được ăn thịt".
"Thật
là điều không đúng sự thật khi cho rằng thịt là thực
phẩm thích đáng và dùng được khi con vật không bị giết
bởi chính người ăn, khi người ăn không ra lệnh cho người
khác giết, và khi người khác không đặc biệt giết để
cho mình ăn ".
" Trong
tương lai có thể có những người bị sự cám dỗ bởi mùi
vị của thịt, sẽ kết hợp lại với nhau để tạo ra nhiều
cách
ngụy biện cho việc ăn thịt. Nhưng dù thịt được ăn dưới
bất cứ hình thức nào, bất cứ kiểu cách nào, bất cứ
ở đâu, đều bị tuyệt đối cấm chỉ đối với bất cứ
ai.
Kinh
Lăng Nghiêm nói, "Người tu hành chánh định, cốt để giải
thoát khỏi khổ đau của cuộc đời. Nhưng trong khi tìm kiếm
sự giải thoát nỗi khổ đau của chính mình, tại sao chúng
ta lại làm khổ đau cho kẻ khác. Trừ khi chúng ta kiểm soát
được tâm, biết ghê tởm ngay cả đến ý tưởng về sự
hung ác, tàn bạo, và giết chóc; chúng ta sẽ chẳng bao giờ
có thể giải thoát khỏi cảnh trần lao khổ ải"...
"Sau
khi ta diệt độ, có nhiều loại quỷ thần sôi nổi trên khắp
thế gian lừa gạt chúng sinh, và dạy rằng ăn thịt cũng có
thể đạt đạo giác ngộ. Có thể nào một vị Sư hy vọng
trở nên vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh lại có thể sinh
sống bằng thịt của chúng sinh"?
Kinh
"Đại Bát Niết Bàn" phiên bản tiếng Sanckrit nói rằng:
"Ăn thịt làm tiêu tan hạt giống từ bi".
Ngài
nói: “Nầy Ca Diếp! Bắt đầu từ ngày nay trở đi, Như Lai
không cho phép hàng Thanh Văn đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt
đem đến dâng thí, phải xem thịt ấy như thịt con mình…
Ngài
cũng cho biết lý do tại sao ngày trước Ngài cho phép hàng
Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục. Ngài nói: “Này
Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc mà tạm
chế thôi” … Cũng là nhơn nơi sự mà lần lượt chế…Này
Ca Diếp! bao nhiêu giới cấm của Như Lai chế ra đều có dị
ý. Vì dị ý nên cho ăn ba thứ tịnh nhục. Vì dị ý nên cấm
ăn mười thứ thịt. Vì dị ý nên cấm tất cả thứ thịt
đều không được ăn, dầu là thịt của con vật tự chết.
Nầy Ca Diếp! Từ nay Như Lai cấm các đệ tử không được
ăn tất cả thứ thịt.”
[Phẩm Tứ Tướng thứ 7 Kinh Đại
Bát Niết Bàn].
Không
hết, trước khi Ngài diệt độ, trong những giây phút cuối
cùng, Ngài căn dặn các đệ tử: “Phải
thương xót chúng sinh, chớ giết hại dầu là côn trùng nhỏ
nhít. Thân nghiệp thanh tịnh thường sanh cõi tốt đẹp.
Khẩu nghiệp thanh tịnh xa lìa những lỗi ác. Chớ ăn
thịt, chớ uống rượu. Phải suy nghĩ kỹ nghiệp nhân
thiện ác cảm báo tốt xấu. Nhân quả ba đời tuần
hoàn chẳng mất, như bóng theo hình. Đời này luống qua
về sau ăn năn không kịp. Giờ Niết Bàn đã đến, ta
tóm tắt dạy bảo như vậy.”
[Phẩm
Di Giáo thứ 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn]
CÓ
PHẢI PHẬT TỊCH DIỆT VÌ ĂN THỊT CHĂNG?
Kính
thưa quý vị, có một nghi vấn trong lịch sử Phật giáo cũng
gây khá nhiều tranh luận, đó là nghi vấn có phải Đức Phật
tịch diệt vì Ngài ăn thịt chăng? Và cũng do nghi vấn này
nên có những tu sĩ mà, trong một số trường hợp có ăn thịt,
khi bào chữa cho việc ăn thịt của mình, nói rằng chính Phật
đã ăn bát canh nấu bằng thịt heo tại nhà một đệ tử
để tránh làm buồn lòng vị thí chủ đó. (nếu khước từ
nhận cúng dường)
Nhưng
phần đông các học giả Phật giáo cho rằng thức ăn dâng
cho Phật không phải là thịt đã làm cho Phật tịch diệt
và tất cả kinh điển Bắc Tông đều một mực chống lại
việc ăn thịt như đã đề cập trước đây.
Theo
nhà học Phật Rhys David thì thức ăn mà cư sĩ Thuần Đà dâng
cúng Phật là nấm rơm. David nói rằng chữ sukara maddava
được kết hợp bởi hai chữ sukara và maddava. Sukara có nghĩa
là con heo và maddava có nghĩa là phơi khô, là ngon, tức là
một loại thức ăn mà giống heo rừng rất thích ăn. Các học
giả Phương Tây dịch là truffles, một loại nấm quý.
Sukara
maddava có bốn ý nghĩa:
(1)
Loại thực phẩm heo ăn.
(2)
Một loại thức ăn mà heo rất ưa thích
(3)
Các phần mềm trong cơ thể con heo và
(4)
Một loại thức ăn bị giẫm nát bởi con heo.
Cư
sĩ Thuần Đà là một đệ tử thuần thành của Phật, chắc
ông ta không thể nào cúng dường đức Phật bát canh nấu
bằng thịt heo vì biết rằng Ngài không ăn thịt. Rất có
thể chính Thuần Đà cũng không ăn thịt như rất nhiều người
Ấn Độ thời bấy giờ. Như thế thì có thể nào ông ta lại
cúng dường thịt lên Phật, một người rất nhạy cảm về
nỗi thống khổ, đau đớn của chúng sinh, người không uống
sữa bò trong thời kỳ 10 ngày đầu tiên sau khi bò sanh con.
Người từ chối sự cúng dường một chùm trái cây cùa lòai
vượn vì trong đó có những con kiến đang sinh sống.
Người không cho phép Tăng đoàn ra ngoài trong ba tháng an cư,
nhằm tránh dẫm đạp lên côn trùng đang sinh sản trong mùa
mưa.
Thưa
quý vị, thưa các bạn. Trong bữa ăn cuối của Đức
Phật, có một điều chúng ta cần để ý, theo Kinh Trường
A Hàm, Quyển 3, Phẩm Du Hành, Thứ 2, Đoạn 2 nói rằng: “Khi
đức Phật nhận bát canh nấm từ tay Thuần Đà, Ngài có nói
với Thuần Đà rằng, đừng đem thứ canh nấm còn dư này
cúng dường cho các vị Tăng khác, Thuần Đà vâng lời rồi
lui ra.” Tại sao Phật nói như vậy?
Đây
là nguyên văn kinh:"....Sau khi Phật
và đại chúng đã an tọa, ông Châu Na (Thuần Đà) đem món
ăn dâng Phật và chúng Tăng, ông lại nấu riêng một thứ
nấm Chiên Đàn là thức ăn trân quý kỳ lạ ít thấy, đem
dâng riêng cho Phật, Phật dạy Châu Na chớ đem thứ nấm ấy
cho chúng tăng ăn. Châu Na vâng lời...."
(Kinh
Trường A Hàm, Thích Thiện Siêu Việt dịch, Phật Học Viện
quốc Tế xuất bản 1986 (trang 86).
Trong
thời kỳ Phật tại thế, những thí chủ cúng dường thức
ăn cho Phật thường tham vấn ngài A Nan, vị thị giả của
Phật. Ngày nay các tăng sĩ không thích loại thức ăn
nào cũng có thể có cách thích hợp để từ chối mà không
cần phải thốt lên một lời nói nào, như đức Phật đã
từ chối sự cúng dường của lòai vượn.
Bất
cứ một vị sư nào được cúng dường bữa ăn tại nhà cư
sĩ đều biết rằng gia chủ thường thỉnh hỏi sư hay vị
thị giả theo hầu hoặc một vị cư sĩ hộ pháp thân cận,
loại thức ăn nào sư thường ăn, để có thể tránh các loại
thực phẩm không thích hợp với cơ thể và tinh thần của
Sư.
VÌ
SAO CÓ SỰ KHÁC BIỆT
Có
một điều rất đặc biệt mà có lẽ quý vị đã nhận thấy,
là tất cả Phật tử không phân biệt truyền thống hay tông
phái tu tập đều có chung một mẫu số. Đó là
điều tôn trọng và bảo vệ sự sống đồng thời thừa
nhận và chấp hành giới luật cấm sát sinh nhằm bảo vệ
sự sống ấy. Còn việc làm thế nào để bảo vệ
sự sống ấy thì có những sự khác biệt.
Điều
này thiết tưởng cũng không có gì khó hiểu. Sự khác
biệt này là do tâm chúng sinh khác biệt, do căn cơ và môi
trường sinh sống của chúng sinh khác biệt, lại do không gian
và thời gian khác biệt. Hoàn cảnh sống của Phật
tử Tây Tạng khác với hoàn cảnh sống của Phật tử Việt
Nam, lại càng khác hơn với Phật tử sống ở Hoa Kỳ.
Ngay như hoàn cảnh quý Tăng Ni theo truyền thống Bắc Tông
ở miền Nam Việt Nam (ăn chay) cũng khác với một số tăng
ni theo truyền thống Bắc Tông sống tại miền Bắc từ
năm 1954 đến năm 1975 (không ăn chay). Nếu quý vị hiểu
được những hoàn cảnh khác biệt như vậy thì sẽ thấy
không có vấn đề gì và dễ dàng cảm thông.
Còn
lý do tại sao trong tất cả kinh điển Nam Tông không có điều
luật ăn chay mà lại còn có điều luật cho phép ăn thịt
tam tịnh nhục và các kinh điển Bắc Tông lại có điều luật
không được ăn thịt.
Thưa
quý vị, thưa các bạn,
Đức
Phật là một đại lương y, là y vương, trước khi Ngài diễn
nói, Ngài quán sát thính chúng, biết căn cơ của người nghe
pháp để đưa ra những giáo pháp thích hợp nhằm chữa cho
họ hết tâm bệnh. Cho nên, chúng ta cũng hiểu rằng mỗi lời
Phật nói đều nhắm vào một mục đích tương đối nào đó,
dành cho một đối tượng thính chúng nào đó và ở một quốc
độ hay thời gian nào đó, để tháo gỡ những vướng mắc
cho họ. Nếu chúng ta hiểu được hoàn cảnh của họ
thì mới có thể hiểu được lời tuyên bố của Phật.
Vì Phật muốn độ chúng sinh mà phương tiện nói pháp.
Chúng
tôi xin lập lại: Vì Phật muốn độ chúng sinh mà
phương tiện nói pháp. Ngài tuỳ duyên mà nói. Mà
đã nói là tuỳ duyên nói pháp, thì không có một pháp nhất
định nào có thể thuyết, có thể nói là đúng hay không đúng,
mà chỉ tuỳ duyên, tuỳ thời, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ căn cơ
của từng đối tượng, mà Phật nói pháp. Trong kinh Đại
Niết Bàn, Ngài cho biết lý do tại sao ngày trước Ngài cho
phép hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục. Ngài nói:
“Này Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục
ấy chỉ là theo việc mà tạm chế thôi” Cũng là nhơn nơi
sự mà lần lượt chế..”
Trong
thời kỳ ban đầu của đạo Phật, do nội dung cách mạng
và giải phóng triệt để hầu xóa tan biên giới giai cấp
cùng cách phân biệt đối xử rất khắc nghiệt của xã hội
Ấn Độ thời ấy, nên nhiều thế lực đã tìm cách phá hoại
uy tín của Đức Phật. Cũng do điều kiện khách quan còn nhiều
khó khăn, chưa thể hoạt động thật mạnh mẽ ở tất cả
mọi phương diện, nên Đức Phật đã phải tùy nghi phương
tiện, uyển chuyển cải cách, để vừa hoằng pháp, vừa phát
triển, lại vừa sinh tồn.
Ngày
xưa, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải
được giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược
thực, vì thế tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thực.
Khất thực là chính sách thực hành giáo pháp. Các thầy Tỳ
kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng nhà,
không phân biệt giầu nghèo sang hèn để mọi tầng lớp dân
chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước.
Pháp
khất thực cũng vừa có mục đích phá trừ ngã chấp, vừa
tự độ vừa độ tha, lợi mình lợi người lại khỏi mất
thời gian mua và nấu nướng thực phẩm. Khi ăn thì phải trộn
các món ăn với nhau để không còn phân biệt món này với
món khác, món ngon món dở và không phân biệt mùi vị, mục
đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần
ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.
Trong
hoàn cảnh xứ Ấn Độ hai ngàn năm trăm năm trước đây,
dân chúng thì nghèo mà tăng đoàn của Phật thì lại đông,
mỗi khi đi khất thực có đến cả ngàn tỳ kheo, làm sao mà
có thể có đủ thực phẩm chay. Lại nữa, đã gọi là trải
ruộng phước cho mọi người gieo trồng, làm sao có thể từ
chối vật thực cúng dường, tạo sân hận cho người có lòng
cúng dường. Cho nên sự việc tăng đoàn thọ nhận vật thực
cúng dường, dù cho có lẫn thịt cá, hoàn toàn là tình cờ,
chư Tăng không hề quan tâm đến món ăn, chỉ cốt có thực
phẩm để nuôi dưỡng cơ thể có đủ sức tu hành hoàn thành
đạo quả.
Cũng
do hoàn cảnh khó khăn, Phật không đòi hỏi mọi người một
cách khắt khe, nhưng nhờ Giới Không Sát Sanh do Ngài ban hành
sẽ thấm nhuần từ từ khiến cho mọi Phật tử sẽ ngừng
tay giết hại súc sinh, thay thế thực phẩm bằng các thực
vật rau đậu, chừng đó họ sẽ cúng dường rau đậu trái
cây.
Hơn
hai ngàn năm đã trôi qua, ngày nay, đời sống toàn thế giới
đã tương đối sung túc hơn. Các vùng sa mạc nay cũng có thể
trồng được hoa mầu. Lương thực không còn thiếu thốn như
xưa. Dù nghèo, mọi người muốn cúng dường chư Tăng đều
có thể thực hiện được vì thực phẩm rau đậu đâu đâu
cũng có, vừa tinh khiết lại nhiều chất bổ dưỡng.
Nên
nhớ là chư Tăng hoan hỷ nhận lãnh bất cứ gì người Phật
tử tại gia vui lòng cúng dường. Việc ăn thịt trong
ba trường hợp mà Đức Phật cho phép không còn đúng cho ngày
nay, đó chỉ là pháp phương tiện mà Đức Phật uyển chuyển
ban hành trong thời kỳ khó khăn nói trên. Chúng sinh có
bệnh, Phật cho thuốc cũng phải tùy bệnh, tùy hoàn cảnh,
thời đại, cơ duyên, có lúc thuốc phải nhẹ nhàng để thấm
từ từ, có lúc bệnh nhân đủ sức chịu đựng thì Phật
cho uống liều mạnh để khỏi bệnh luôn. Hay nói một cách
khác, tất cả lời Phật đều là pháp phương tiện giáo hóa
chúng sinh, pháp đó hợp với lý chân thật của vạn sự vạn
vật, nhưng do hoàn cảnh không gian và thời gian sai khác, nên
pháp đó có thể phù hợp hay áp dụng được ở một quãng
thời gian hay không gian nào đó cho một số chủng loại chúng
sinh nào đó, nhưng cũng có thể không phù hợp hay không áp
dụng được cho một thời kỳ nào khác hay nơi chốn nào khác
cho chủng loại chúng sinh khác. Đó gọi là “tuỳ
duyên”. Nhưng “tuỳ duyên” mà bất biến.
Bất biến là phải thực hiện cho được hạnh từ bi và bình
đẳng đối với tất cả các loài chúng sinh.
Người
ngày xưa khác với người ngày nay. Hoàn cảnh ngày xưa
khác với hoàn cảnh ngày nay. Người và phong thổ xứ
Ấn Độ khác với người và phong thổ xứ Trung Hoa và lại
càng khác hơn với người và phong thổ xứ Hoa Kỳ, xứ Tây
Tạng…
Cho nên không có gì là khó hiểu khi thấy Phật Giáo truyền
sang phương Bắc chủ trương ăn chay, truyền sang Tây Tạng
có nơi ăn chay có nơi không ăn chay, tuy rằng ba bộ kinh liễu
nghĩa Bắc Tông: Kinh Lăng Già, Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Đại
Bát Niết Bàn đức Phật đều dạy các đệ tử không được
ăn thịt.
Sau
nữa kinh Phạm Võng của Phật Giáo Bắc Tông nói về Bồ Tát
giới: gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh, trong đó giới
khinh thứ 3 cấm ăn thịt. Bởi thế người nào thọ giới
Bồ Tát phải trường trai. Tuy nhiên, do căn cơ của Phật
tử tại gia sống tại hải ngoại, (chúng tôi xin lập lại
là Phật tử tại gia sinh sống tại hải ngoại) nên vào
năm 1989, Hoà Thượng Thích Đức Niệm soạn dịch quyển Tại
Gia Bồ Tát Giới, thu lại còn 6 giới trọng và 28 giới khinh,
trong đó không bắt buộc Phật tử tại gia thọ Bồ Tát Giới
phải trường trai nữa mà chỉ cần giữ ít nhất 6 ngày chay
trong một tháng (giới khinh thứ 7).
[Tại Gia Bồ Tát Giới, Phật Học Viện Quốc Tế Xuất Bản
1999]
Có
lẽ cũng do hoàn cảnh ngày nay khác ngày xưa và “giáo pháp
muốn tiếp tục được hữu hiệu trong việc độ đời, phải
có tính cách khế lý và khế cơ”, nên Hoà Thượng Nhất
Hạnh đã soạn thảo lại giới luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni.
Bộ luật mới này được gọi là “Giới Bản Khất Sĩ
Tân Tu” (The Revised Pratimoksha) và đã được ban hành vào
đầu năm 2003, trong đó cũng có những giới điều mới phù
hợp với thời đại ngày nay và đặc biệt có giới không
được ăn mặn (giới thứ 55).
Chúng
tôi muốn nêu lên hai sự việc này nhằm cho thấy là quý thầy
đã uyển chuyển áp dụng lời Phật dạy, áp dụng nguyên
tắc khế lý và khế cơ, nguyên tắc tứ tất đàn trong giáo
lý nhà Phật. Còn việc quý thầy (Hoà Thượng Thích Đức
Niệm, Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh v.v…) soạn lại giới
luật có đúng với luật Phật không thì chúng tôi không dám
có ý kiến vì đó là việc làm của chư Tăng.
Tưởng
cũng nên nhớ vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa đã thỉnh
cầu Đức Phật ban hành thêm năm điều trong giới luật của
hàng xuất gia, trong đó có giới Tỳ Kheo phải ăn chay suốt
đời. Với lòng từ bi và đức khoan dung, và cũng có
thể đức Phật sáng suốt nhận thấy thời điểm chưa thuận
tiện, nên ngài tuyên bố rằng các đệ tử của ngài được
tự do hành động về năm điều này, muốn áp dụng hay không
cũng được.
Cũng
ngày nay tại quốc gia Tây Tạng với nhiều đặc thù, trong
giới Bồ Tát của Tây Tạng gồm 18 giới trọng và 64 giới
khinh, không có giới nào cấm ăn thịt cả.
Kính
thưa quý vị,
Hơn
60 phút vừa qua, chúng tôi đã cố gắng trình bày nhiều
khía cạnh khác nhau về vấn đề ăn chay, ăn mặn, vì biết
rằng mỗi người đều có ý kiến riêng, không ai giống ai,
mỗi người đều có căn cơ riêng và phước duyên khác nhau;
không ai có thể áp đặt ý kiến của mình cho người khác.
Thật ra, những vấn đề khác biệt mà chúng tôi vừa trình
bày, không nên còn là vấn đề tranh luận nữa, nếu tất
cả chúng ta cùng tôn trọng sự khác biệt của nhau, khác biệt
do hoàn cảnh, do môi trường sinh sống, do môi trường tiếp
cận kinh sách khác nhau, do nhân duyên, nhân quả mỗi người
khác nhau và đặc biệt do sự lựa chọn lối sống cá nhân.
Có
một điều chắc chắn quý vị và chúng tôi đều đồng ý
rằng đạo Phật không phải là một tôn giáo có đức tin
mù quáng. Đức Phật đã dạy chúng ta rằng đừng nên tin
tưởng một điều gì vì văn phong, vì tập quán lưu truyền,
vì là bút tích của thánh nhơn, của thầy dạy mà chỉ tin
vào kinh nghiệm học hỏi và thực hành nơi chính mình và nhận
là đúng, có lợi cho mình và có lợi cho chúng sinh thì áp
dụng. Tất cả tùy thuộc nơi trí tuệ và tấm lòng từ bi
của mỗi chúng ta. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn, lựa
chọn ăn chay hay ăn thịt cho ngon miệng hay không ngon miệng
không phải là vấn đề quan trọng mà là chọn một lối sống
có ý nghĩa cho mình mới là điều quan trọng.
Xin
trân trọng cảm ơn quý vị đã lắng nghe và tiếp theo đây
chúng tôi bước sang phần thứ ba của buổi thuyết trình ngày
hôm nay.
Phần
Thứ Ba: Trả Lời Những Thắc Mắc Về Ăn Chay Ăn Mặn