50.
THIỀN SƯ ĐỊNH HUỆ
(1)
Làng An Trinh, phủ Thiên Đức này, chúng tôi hiện chưa khảo
được đích xác là làng nào thuộc huyện nào của tỉnh Bắc
Ninh ngày nay. Bắc thành địa dư chí lục 2 có ghi một làng
tên An Trinh thuộc tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, trấn Hải
Dương. Chúng tôi chắc làng An Trinh này không phải là làng
An Trinh của Định Huệ ở đây, nhưng cứ ghi ra, bởi vì huyện
Cẩm Giàng theo Đại nam nhất thống chí, tỉnh Hải Dương,
mục Kiến trí diên cách thì huyện Cẩm Giàng đời thuộc
Minh thuộc vào châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang”.
(2)
Tức thuộc phần đất tỉnh Vĩnh Phú ngày nay. Xem chú thích
(6) truyện Pháp Hiền. Về Cẩm Điền, bảng danh sách các tổng
xã của hai tỉnh Sơn Tây và Vĩnh Yên trong Đại nam nhất thống
chí, tỉnh Sơn Tây, mục Tục khảo, không có tổng xã nào
tên Cẩm Điền cả. Nhưng một số làng hai huyện Tam Dương
và Yên Lạc có những tên bắt đầu bằng chữ “cẩm” hay
chữ “điền”, hay kết thúc bằng chữ “điền”. Đấy
là xã Điền Trù của tổng Bình Hòa, xã Cẩm Trạch của tổng
Đạo Tú và xã Đại Điền của tổng Quan Ngoại thuộc huyện
Tam Dương, và những xã Cẩm La, Cẩm Trạch và Cẩm Viên của
tổng Nhật Chiếu thuộc huyện Yên Lạc. Chúng tôi nghĩ Cẩm
Điền có lẽ gồm phần đất của hai tổng Đạo Tú và Quan
Ngoại vừa thấy.
51.
THIỀN SƯ ĐẠO HẠNH
(1)
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Tự quan, viết:
“Chùa Thiên Phúc tại xã Sài Tây, huyện An Sơn, xưa gọi
là am Hương Giang (nên đọc hải) lại gọi là viện Phổ Đà.
Chùa bên trái thờ Từ thiền sư bên phải thờ tượng Lý
Thần Tông, ở giữa thờ tượng Phật. thiền sư họ Từ tên
Lộ, tự Đạo Hạnh, người Yên Lãng huyện Vĩnh Thuận, tỉnh
Hà Nội, là bậc cao tăng của thời đó đến trác tích ở
đây. Lý Nhân Tông tuổi đã cao mà chưa có con nối dõi. Em
vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con, cùng với Đạo Hạnh
nói việc cầu tự. Đạo Hạnh hẹn ngày kia khi phu nhân sắp
sinh thì nên báo trước cho biết. Sau đó, khi phu nhân sắp
sinh, bèn đi báo. Đạo Hạnh tức khắc thay áo quần tắm rửa,
vào trong động mà thi giải. Phu nhân liền sinh một người
con trai ấy là Thần Tông. Người làng cho đó là điều lạ,
đem thây bỏ vào trong khám mà thờ. Mỗi năm đến ngày 7 tháng
3, tục truyền đó là ngày kỵ của Sư, sĩ nữ tụ họp đông
đảo, làm thành một chỗ du ngoạn đẹp đẽ của địa phương.
Văn nhân danh sĩ phần nhiều có làm thơ vịnh. Thây của Sư
đến khoảng Minh Vĩnh Lạc thì bị người Minh đốt cháy.
Người làng lại đúc tượng Sư mà thờ. Trong khoảng Lê Quang
Thuận, cha của Hoàng hậu Trường Lạc là Nguyễn Đức Trung
đi cầu tự cho hậu ở trong động chùa đó thì có một mảnh
đá bay tới. Bèn cầm về tạc thành một tượng Phật mà
thờ. Khi đã làm vậy, thì sau đó hậu mộng thấy rồng vàng
vào sườn bên trái, bèn sinh ra Hiến Tông. Trong khoảng Cảnh
Thống, bàn lập bia am Hiển Thụy khắc vào đá nay còn. Triều
ta phong thần Từ Đạo Hạnh đại thiền sư”.
(2)
Lịch triều hiến chương loại chí 3 tờ 8a6b1 viết: “Núi
(nguyên văn viết chùa, nay sửa) Phật Tích ở xã Thủy Khê,
huyện An Sơn, một tên là Sài Sơn, lại gọi là Cổ Sài. Cảnh
núi đẹp đẽ trông ngang xuống mặt hồ trên núi có hang sâu
là chỗ Từ Đạo Hạnh thi giải. Vách hang đang còn có dấu
đầu và dấu chân. Trên đó có am Hương Hải và viện Phổ
Đà đều do Từ Công dựng nên, nay là chùa Thiên Phúc”.
Kiến
văn tiểu lục 6 tờ 2a7-3a1 viết: “Sài Sơn của huyện Yên
Sơn, đời Lý gọi là núi Phổ Đà lạc, đời Trần gọi là
núi Phật Tích. Trên núi có chùa và tiên động các nơi. Trong
động có tám chỗ lõm, như dấu đầu người va vào, lại
có dấu chân như của người khổng lồ. Dưới núi có chùa
Thiên Phúc, trước có hồ lớn, sau có lầu chuông, có chuông
do thiền sư Đạo Hạnh đúc thành, vào năm Long Phù Nguyên
Hóa thứ 9 (1109) triều Lý, đệ tử Huệ Hưng soạn ký, trước
tác lang Nghiêm Thường khắc chữ. Trên chuông có khắc hình
cây bồ lao, dùng dây sắt mà treo. Đấy là vật xưa 700 năm
đến nay. Dưới lời ký có khắc sắc chỉ của vua Trần Anh
Tông cấp ruộng cúng vào năm Hưng Long thứ 12 (1304). Bên cạnh
có am Hiển Thụy dựng trong khoảng Cảnh Thống, có bia ký
do Thượng thư Nguyễn Bảo soạn. Xét An Nam chí có nói rằng:
Núi Phật Tích có một tảng đá, trên có dấu chân người
khổng lồ. Dưới chân núi có hồ, chu vi hơn ba dặm. Hai bên
hồ và núi có dựng nhà thủy tạ. Tháng 5 tháng 6 hoa sen nở
đầy hồ, mùi thơm sặc cả người. Trên núi có chùa Thiên
Phúc, sơn phết rực rỡ, thực là danh thắng một phương,
chỉ nói trên núi Phật Tích có chùa Tư Phúc, có am Biện Tài
và am Cực Lạc. Người của châu và những con em của phường
du lịch thường mỗi năm vào tháng 3 đến dạo chơi xem lễ,
đèn nhang chất đống, xe ngựa dập dìu, văn nhân danh sĩ phần
nhiều đều có đề thơ vịnh cảnh. Tức là núi đó”.
Xem
thêm Đại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Sơn xuyên
và mục phụ khảo về núi.
(3)
Làng Yên Lãng đây tức là làng Yên Lãng thuộc huyện Vĩnh
Thuận của Bắc thành địa dư chí lục 1 và Đại nam nhất
thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Từ miếu và Tự quán, tức
làng Láng ở gần phía tây Thủ đô Hà Nội ngày nay. Làng
này hiện có chùa thờ Đạo Hạnh, tục gọi là chùa Láng.
Bắc thành địa dư chí lục 1 chép chuyện đấy vào thế kỷ
thứ 19 như sau: “Chùa Yên Lãng tại trại Yên Lãng huyện,
Vĩnh Thuận, thế truyền là chỗ tu hành của thiền sư Từ
Đạo Hạnh triều Lý. thiền sư là kẻ có thù với thiền
sư Đại Điên xã Dịch Vọng. Đạo Hạnh sau đó đi Tây Vức
học đạo, trở về giết Đại Điên, nên lệ chùa Yên Lãng
mỗi năm vào tháng 3 phải rước thần qua chùa hai xã Yên Quyết
và Dịch Vọng, đốt pháo múa gậy, giống như có việc đánh
nhau, để diễn lại chuyện đó. Nay chùa Yên Lãng có một
hòm gỗ trong đựng một miếng đồng có chữ Phạn viết bằng
son. Đó là di tích của Sư. Sau Đạo Hạnh đến tu đạo tại
Sài Sơn, tỉnh Sơn Tây, rồi đầu thai làm Lý Thần Tông”.
(4)
Đây như vậy chỉ nói tên cha và trú quán, nhưng không nói
tên mẹ và nguyên quán của Từ Đạo Hạnh. Đại nam nhất
thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Từ miếu, nhân viết về Từ
Đạo Hạnh thiền sư ở chân núi Sài Sơn huyện Yên Sơn, nói:
Xét trong đền thì bên trái thờ tượng Từ Đạo Hạnh, bên
phải thờ tượng Lý Thần Tông, ở giữa thờ tượng Phật.
Một thuyết nói rằng Đạo Hạnh là người thôn Đồng Bụt,
huyện Yên Sơn, cha là Từ Vinh, mẹ là Tăng Thị Loan. Nay tương
truyền ở Đồng Bụt có nền cũ nhà họ Từ, trước chùa
có 70 mẫu ruộng là ruộng họ Từ, nay đem làm tự điền
cho thôn ấy”.
Cứ
đây thì nguyên quán của Đạo Hạnh là thôn Đồng Bụt, huyện
Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây. Truyện Đạo Hạnh ở đây nói rõ
Yên Lãng là trú quán của Hạnh, nên ta khỏi phải đặt nghi
vấn về chuyện đâu là quê quán của Hạnh, như Đại nam
nhất thống chí đã làm.
(5)
Đại Việt sử lược 2 tờ 16a10 viết: “Năm Quảng Hựu thứ
7 (1091) kiến quan Lê Toàn Nghĩa dâng rùa năm sắc”. Đại
Việt sử ký toàn thư B3 tờ 12a9 cũng ghi chuyện này, nhưng
không ghi chức quan của Nghĩa.
(6)
Truyện Từ Đạo Hạnh trong Lĩnh nam chích quái truyện tờ
28-31 chép hoàn toàn giống truyện Từ Đạo Hạnh ở đây,
nhưng sau câu “hậu ứng tăng quan ngự thí trúng”, nó lại
thêm 7 chữ “Bạch liên khoa, vị cơ phụ Vinh”, trước khi
viết tiếp “dĩ tà thuật hãn Diên Thành Hầu”. Truyện Đạo
Hạnh ở đây, sau câu “hậu ứng tăng quan ngự thí trúng”,
lại bỏ trống một đoạn đúng chỗ cho 7 chữ, rồi viết
tiếp “dĩ tà thuật hãn Diên Thành hầu”. Chúng tôi nghĩ
rằng khoảng trống 7 chữ đây đúng là chỗ của 7 chữ hiện
còn chép trong Lĩnh nam chích quái mà để bản của bản in
Thiền uyển tập anh năm 1715 đã bị rách hay mọt ăn mất,
nên người hiệu đính cho bản in đây đã để trống đúng
7 chỗ cho những chữ mất đó. Đây là một ưu điểm lớn
của bản in năm1715 giữa những ưu điểm khác của nó. Bản
in đời Nguyễn không để một khoảng trống nào cả, nên
dù có bản của Lĩnh nam chích quái chăng nữa, ta cũng không
thể nào nhận ra khoảng đấy thiếu mấy chữ. Chúng tôi do
thế đề nghị thêm 7 chữ trên vào chỗ trống ở tờ 53b10
của Thiền uyển tập anh, để cho ý nghĩa của câu “hậu
ứng tăng quan ngự thí trúng..”. và câu “dĩ tà thuật hãn
Diên Thành hầu” ở trước và sau khoảng trống đấy được
rõ hơn. Nếu chấp nhận, hai câu ấy bây giờ đọc: “Hậu
ứng tăng quan thí trúng Bạch liên khoa. Vị cơ phụ Vinh dĩ
tà thuật hãn Diên Thành Hầu”, mà ta có thể dịch thành:
“Sau đó Sư ứng thi điện thí tăng quan, trúng khoa Bạch liên.
Chẳng bao lâu, cha Sư là Vinh dùng tà thuật làm mích lòng Diên
Thành Hầu..”.
Khoa
Bạch liên là khoa gì vào thời Lý, chúng ta hiện chưa có một
thông tin nào.
(7)
Diên Thành Hầu (?-1117) là con của Lý Thánh Tông và em của
Nhân Tông. Tính tình của vị hầu này chắc nóng nảy lắm.
Đại Việt sử lược 2 tờ 20a3 ghi lại một chứng sau: “Năm
Long Phù Nguyên Hóa thứ 4 (1104), mùa thu tháng 9 ngày mồng một,
Diên Thành Hầu lấy hốt đánh Trung Nghĩa Hầu ở điện Thiên
An”. Trung Nghĩa Hầu (?-1117) cũng là con của Thánh Tông và
chắc là em của Diên Thành, và điện Thiên An là nơi thị
triều của vua. Thế mà, giữa mặt bá quan văn võ, Diên Thành
đã lấy hốt đánh Trung Nghĩa.
(8)
Tức Nguyễn Đại Điên, mà truyện Thần Nghi tờ 40a11 nói
tới như đại biểu cho một dòng thiền của thời Lý. Cứ
vào truyện Đạo Hạnh ở đây, ta có thể đoán Đại Điên
bị Đạo Hạnh đánh chết vào khoảng năm 1110 bởi vì cuối
truyện có chua câu: “Giác Hoàng, hoặc có người nói là Đại
Điên ấy vậy”. Mà Giác Hoàng theo Đại Việt sử lược
2 tờ 21a4, thì vào năm Hội Tường Đại Khánh thứ 3 (1112)
là đã 3 tuổi rồi. Vậy Hoàng phải sinh năm 1110. Bấy giờ,
nếu bảo Giác Hoàng là Đại Điên thì đương nhiên Điên
phải chết vào năm Hoàng sinh, tức năm 1110 ấy, mới đầu
thai thành Hoàng được, tối thiểu là bằng vào sự tin tưởng
huyền thuật đương thời. Cho nên, việc liên hệ Đại Điên
với sự sinh của Giác Hoàng phải giả thiết rằng Điên chết
vào năm Hoàng sinh.
Về
nguyên quán của Điên, Đại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn
Tây, mục Tăng thích, có ghi một vị sư tên Nguyễn Đạo Hạnh
và nói: “Sư người huyện Tiên Phong là miêu duệ của thiền
sư Thái Điên, bình sanh cùng sư Nguyễn Minh Không và Từ Đạo
Hạnh làm bạn, học thuật tu luyện, sau hóa thân ở xã Chiêu
Nhân, thổ nhân bèn lập đền thờ”. Thái Điên đây, chúng
tôi nghi cũng là Đại Điên, bởi vì Việt sử tiêu án 1 tờ
108b9 dẫn Ngoại truyện nói: “Cha Đạo Hạnh là Từ Vinh vì
pháp thuật bị sư Thái Điên đánh giết”. Kiến văn tiểu
lục 9 tờ 16a1-17a2 viết rất là dài về cuộc đời nhà sư
Nguyễn Đạo Hạnh đây và nói: “Ông người xã Vịnh Phệ,
huyện Tiên Phong”. Nếu vậy Điên là người xã Vịnh Phệ
Cuối
cùng, về ngôi chùa trú trì của Điên, Bắc thành địa dư
chí lục 1 nhân viết về chùa Yên Lãng dẫn trước nói “Đạo
Hạnh có thù với thiền sư Đại Điên xã Dịch Vọng”. Như
thế, vào thế kỷ thứ XIX người ta coi Điên sống ở xã
Dịch Vọng. Làng Dịch Vọng này, Đại Việt sử ký toàn thư
B3 tờ 3a 3-8 nói là nơi có chùa Thánh Chúa. Ở đây đã có
vị sư dạy Nguyễn Bông cái thuật đầu thai thành Lý Nhân
Tông. Dã sử về thần tích Ỷ Lan nói rõ ra vị sư chùa Thánh
Chúa, đấy không ai khác hơn là Đại Điên. Từ đó, ngôi
chùa Đại Điên ở chắc không ngôi nào khác hơn là chùa Thánh
Chúa, làng Dịch Vọng, huyện Từ Liêm ngày trước, tức huyện
Hoài Đức, tỉnh Hà Đông ngày nay. Sự việc Nguyễn Bông xảy
ra vào năm 1063. Thế thì, Điên sống tại chùa đấy vào khoảng
từ năm đó.
(9)
Bắc thành địa dư chí lục 1 viết: “Sông Tô Lịch ở phía
đông của thành (Hà Nội) phân lưu từ sông Nhị, theo thành
từ phía Bắc mà chảy qua phía tây gặp sông Hà Liễu và sông
Nhuệ, hai sông cùng chảy đổ vào. Sông này, mùa đông và
xuân thì khô cạn, mùa thu và hạ thì thuyền đi được...
Quốc sử của Ngô Sĩ Liên nói: “Sông này hễ khi có mưa
lớn thì nước đầy ứ mà chảy ngược”. Họ Ngô nói: “Sông
Tô Lịch chảy đi ra từ sông Nhị bắt đầu từ phường Hà
Khẩu chảy qua Tây Hồ, Thụy Chương, Yên Hoa và Yên Quyết
thì cạn thuyền đi không được, vì dân ở hai bên sông cứ
để ngói đá lấp đầy, khi mưa to nước ứ lại không chảy
được, nên phải chảy ngược lại thì không có gì là
lạ”.
(10)
An nam chí lược 1 tờ 24 viết: “Sông Tô Lịch chảy quanh
La Thành. Sông có năm cầu đều rất đẹp”. Nhưng nó không
cho biết năm cầu đó. Ta ngày nay có thể truy nhận tối thiểu
tên của ba cầu đó, đấy là cầu Tây Dương, cầu Yên Quyết
và cầu Nhân Mục. Đại Việt sử ký toàn thư B10 tờ 21b 2-5
trong khi mô tả diễn tiến của chiến dịch Tốt Động, Chúc
Động, đã viết về những hướng xuất quân của Vương Thông
từ thành Đông Quan như sau: “Ngày mồng 6, Vương Thông v.v...
của nhà Minh đem lính cũ lính mới 10 vạn người phân làm
ba đạo quân đánh ta. Vương Thông do ngã Khâu Ôn qua cầu Tây
Dương đến đóng ở bến Cổ Sở, dựng cầu nổi cho quân
đi. Phương Chính xuất quân từ cầu Yên Quyết, đóng ở cầu
Sa Đôi. Sơn Thọ và Mã Kỳ đi ra từ cầu Nhân Mục, đóng
ở cầu Thanh Oai. Chúng dựng doanh trại vài chục dặm, cờ
xí rợp đồng, giáp trượng sáng trời, tự bảo rằng chúng
chỉ một lần đánh là bắt hết nghĩa quân”.
Cầu
Nhân Mục, tên nôm gọi là cống Mọc, ngày nay thuộc làng
Nhân Chính, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, vết tích hiện
còn là chiếc cầu bắc ngang sông Tô Lịch tại làng đấy.
Còn
cầu Yên Quyết, tên Nôâm gọi là cống Cót, ngày nay là chiếc
cầu bắc ngang sông Tô Lịch tại địa phận làng Yên Quyết
huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Vì cầu Yên Quyết có tên
nôm là cống Cót, cho nên chữ Quyết kiều ở đây đúng ra
phải dịch là cống Cót, nhưng vì không chắc chữ Cót phát
âm như thế nào vào thơi Lý, nên chúng tôi vẫn để nguyên
và dịch là: “Cầu Quyết”. Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường
Kiệt tr. 499 vì chấm câu lộn, nên đã đọc thành cầu Vu
Quyết. Về cầu Tây Dương thì cứ trên đường hành quân
của Vương Thông, nó phải là cầu Giấy, bởi vì để đi
từ Đông Quan tới Cổ Sở, người ta phải đi qua cầu Giấy
ở sông Tô Lịch, rồi qua cầu Diễn hay Phù Diễn ở sông
Nhuệ thì tới bến Cổ Sở trên sông Đáy thuộc làng Yên
Sở ngày nay. Như vậy, cầu Tây Dương không gì khác hơn là
cầu Thượng Yên Quyết, mà Đại nam nhất thống chí, tỉnh
Hà Nội, mục Tân lương, nói là “tục gọi cầu Giấy, cầu
dài ba trượng, có lợp ngói ở về huyện Từ Liêm”.
(11)
Mọi răng vàng hay Kim Xỉ Man là tên một dân tộc ít người,
vào thời Đường đang còn ở phần đất thuộc vương quốc
Pyu, nhưng đến đời Nguyên cho tới nay thì phần đất ấy
thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Xem Nguyên sử 16 tờ 8a4.
Gọi
là mọi răng vàng vì dân tộc ấy dùng vàng lá mà trang sức
răng mình, “khi ăn thì lấy ra”. Họ có nhiều giống, mà
Tân đường thư 222 hạ tờ 15b-16a liệt ra như giống Tú Cước,
giống Tú Diện, giống Điêu Đề, giống Xuyên Tỷ. An nam chí
lược 1 tờ 19 nói: “Đà Giang lộ tiếp giáp với Kim Xỉ”.
Kim Xỉ đây đương nhiên là Kim Xỉ man. Và nếu như vậy,
thì Đạo Hạnh vừa mới vượt khỏi biên giới nước ta thôi.
(12)
Tức Tứ Thiên Vương, đấy là Trì Quốc ở phía đông, Tăng
Trưởng ở phía nam, Quảng Mục ở phía tây, và Tỳ Sa Môn
ở phía bắc của tầng thứ tư núi Tu Di, quản thủ bọn Dạ
xoa và La sát. Chúng có nhiệm vụ bảo vệ thế giới, theo
vũ trụ quan thần thoại của một số trường phái Phật giáo.
Xem chú thích (7) truyện Khuông Việt, và Khí thế nhân bản
kinh 6 tờ 394c.
(13)
Chú thích (10) trên cứ vào đường hành quân của Vương Thông
do Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, đã đồng nhất cầu
Tây Dương với cầu Giấy. Mà cầu Giấy theo Đại nam nhất
thống chí, tỉnh Hà Nội, mục Tân lương là tên Nôm của
cầu Thượng Yên Quyết. Làng Yên Quyết thực ra có hai, đó
là làng Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết. Đại Việt lịch
triều đăng khoa lục có ghi một số tiến sĩ xuất thân từ
hai làng đó như Đặng Công Toản khoa 1520, Nguyễn Sằn
Khoa 1554, Nguyễn Dụng Ngãi khoa 1574, của làng Thượng yên
quyết, Hoàng Quán Chí khoa 1393, Nguyễn Như Uyên khoa 1409, Nguyễn
Khiêm Quang khoa 1523, Nguyễn Nhật Tráng khoa 1595, Nguyễn Dụng
Triêm khoa 1602 v.v... của làng Hạ Yên Quyết. Vậy thì, cầu
Quyết hay cầu Yên Quyết của truyện đây là cầu Hạ Yên
Quyết, còn cầu Tây Dương hay cầu Giấy là cầu Thượng Yên
Quyết. Bến Quyết cũng ở làng Hạ Yên Quyết. Xác định
như thế, bây giờ nó trở thành rõ ràng là Đại Điên trụ
trì chùa Thánh Chúa làng Dịch Vọng ở sát làng Thượng Yên
Quyết, thì khi đánh chết Từ Vinh, xác Vinh tất ném xuống
sông Tô Lịch từ khoảng cầu Tây Dương, trôi xuôi cho đến
cống Cót, nơi có nhà Diên Thành Hầu, rồi dừng lại. Tới
khi Đạo Hạnh ném gậy mình từ bến Cót, nếu trôi ngược
nó tất nhiên phải lên đến cầu Tây Dương hay cầu Thượng
Yên Quyết, chứ không thể cầu nào khác.
Cầu
Tây Dương gọi là cầu Giấy tối thiểu bắt đầu từ thời
Lý, bởi vì gần cầu đó có xóm chuyên chế tạo giấy, tên
là xóm Chỉ Tác hay xóm làm Giấy. Xem Đại Việt sử lược
3 tờ 29a11.
(14)
Thái Bình đây chắc là phủ Thái Bình, nơi có chùa Khai Thiên
do Nguyễn Quang Lỵ dựng và Ma Ha trụ trì. Xem chú thích (10)
truyện Ma Ha. Tuy nhiên, vùng Hưng Yên, đất của phủ Thái
Bình cũ, không thấy có làng nào thờ Đạo Hạnh cả. Trái
lại, theo Đại nam nhất thống chí, tỉnh Nam Định mới có
một số làng thờ Đạo Hạnh thuộc huyện Nam Chân như làng
Chân Nguyên, làng Vân Chàng, làng Kinh Lủng... rồi nó viết
tiếp: “Hạnh thuở nhỏ ưa đi chơi, đến xã Chân Nguyên,
dựng chùa Đại Bi, ở đấy trú trì, sau dân làng tôn làm
Tổ sư. Thế thì, vùng Thái Bình do Kiều Trí Huyền giáo hóa
phải chăng nằm tại đất tỉnh Nam Định? Đây là một có
thể. Về Kiều Trí Huyền, nay ta không biết gì hết về tông
tích tông phái của ông.
(15)
Cơ xan khát ẩm, cách ngữ của thiền gia chỉ đạo lý thiền
không ở đâu xa, mà ở ngay trong chính những công tác thường
nhật nhất. Sư Nguyên Tân đến hỏi thiền sư Đại Châu Huệ
Hải: “Hòa thượng tu đạo có dụng công không?”. Hải đáp:
“Dụng công”. Hỏi: “Dụng công ra sao?”. Đáp: “Đói
đến thì ăn cơm, mệt lại thì đi ngủ”. Xem Truyền đăng
lục 6 tờ 247c1-3.
(16)
An nam chí nguyên tờ 209 dẫn ý chính của đoạn này về Đạo
Hạnh: “Thiền sư Đạo Hạnh là vị sư huyện Thạch Thất,
thường đi khắp tòng lâm tìm tòi bậc trí thức, khi duyên
đạo đã chín, pháp lực có thêm, Sư có thể sai sử chim rừng
thú nội họp nhau đến chịu phục. Sư cầu mưa trị bệnh,
không gì là không ứng nghiệm. nay xác thịt đang còn”.
Việc
sử dụng những ngữ cú và văn ý đồng nhất với Thiền
uyển tập anh như đây chứng tỏ tác giả An nam chí nguyên
hay tác giả một cuốn sách khác mà ông vẫn phải sử dụng
Thiền uyển tập anh. Do vậy, trước bản in năm 1715, Thiền
uyển tập anh phải có in một lần nào đó. Chính qua bản
in hay tối thiểu bản chép trước năm 1715 mà An nam chí nguyên
hay một cuốn sách trước nó đã rút những dẫn trên về
Đạo Hạnh.
(17)
Đại Việt sử lược 2 tờ 21a4-b5: “Hội Tường Đại Khánh
năm thứ 3 tháng 2 người Thanh Hóa nói rằng: ở Hải Tân có
một đứa bé lạ lùng, tuổi mới lên ba, mà hiểu được
tiếng nói, tự xưng là đích tử của Hoàng đế, gọi mình
là Giác Hoàng, hễ vua cử động thì không gì là nó không
biết trước. Vua sai Trung sứ đến hỏi xem thì những gì người
ta nói đều đúng cả, bèn rước về ở tại chùa Báo Thiên.
Vì sự linh dị của nó, vua thương yêu nó càng nhiều. Bấy
giờ, vua không có người nối dõi, muốn lập nó làm Thái
tử, quần thần không chịu, mới thôi. Bèn liền lập trai
hội ở trong cung cấm, muốn khiến Giác Hoàng đầu thai vào
làm con mình.
Có
nhà sư núi Phật Tích là Từ Lộ Đạo Hạnh nghe việc ấy
mà không vui bèn sai người chị mình là Từ Thị đến phó
hội, lén lấy vài hạt châu có kết ấn rồi trao cho, bảo:
“Đến chỗ hội thì hãy nhét vào đầu mái diềm, đừng
để cho ai thấy biết”. Từ Thị làm theo lời dặn của sư.
Giác Hoàng bỗng chốc mắc bệnh sốt trẻ con, bèn nói với
người ta rằng: “Tôi thấy khắp cả nước đều có lưới
sắt bao phủ, không có ngõ nào mà thác sinh vào cung được”.
Vua ra lệnh mở một cuộc lùng soát lớn thì bắt được những
hạt châu do Từ Thị giấu, bèn bắt Lộ trói ở lang Hưng
Thánh, muốn đặt vào tội xử tử. Gặp khi Sùng Hiền Hầu
vào chầu, Lộ gào khóc thảm thiết nói rằng: “Xin Hầu ra
tay cứu vớt bần tăng nếu may mà được thoát chết thì sẽ
vào làm con Hầu để đáp lại ân đức”. Hầu bằng lòng,
nên khi vào gặp vua, Hầu mưu cứu bằng trăm lối, nói rằng:
“Giác Hoàng nếu thật có thần lực mà lại bị Lộ thư
giải thì rõ ràng Lộ hơn Giác Hoàng vậy. Thần nghĩ không
gì hơn là cho Lộ thác sanh vậy”. Vua bèn xá tội Lộ. Đại
Việt sử ký toàn thư không ghi chuyện này.
(18)
Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 16a2-6: “(Hội Tường Đại
Khánh) năm thứ ba, bây giờ tuổi vua đã cao, mà không có con
nối dõi, xuống chiếu chọn con tôn thất vào làm nối dõi.
Em vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có con nối dõi. Gặp lúc
nhà sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến nhà Hầu để
cùng nói chuyện cầu tự, Đạo Hạnh nói: “Ngày kia khi phu
nhân lâm bồn thì nên trước báo cho biết, bởi vì tôi đã
vì Ngài đến cầu xin ở thần núi rồi”. Ba năm sau, phu nhân
nhân thế mà có thai, sinh ra con trai Dương Hoán”.
(19)
Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 16b6-17a4: “(Hội Tường
Đại Khánh ) năm thứ bảy, mùa hạ tháng sáu, thầy Từ Đạo
Hạnh thi giải ở chùa núi Thạch Thất.... Trước đó, phu
nhân của Sùng Hiền Hầu là Đỗ thị có thai. Đến lúc ấy,
khó sanh, Hầu nhớ lại lời nói ngày trước của Đạo Hạnh,
sai người chạy đến báo. Đạo Hạnh tức khắc tắm rửa
thay áo, vào trong hang thi giải mà mất. Phu nhân liền sanh được
người con trai, tức là Dương Hoán vậy. Người làng cho là
chuyện lạ, đem thi bỏ vào trong khám mà thờ. Núi Phật Tích
ngày nay tức là chỗ của nó vậy. Mỗi năm đến ngày 7 tháng
3 mùa xuân, sĩ nữ tụ hội lại ở chùa, làm nó trở nên
một nơi du ngoạn nổi tiếng. Người sau ngoa truyền đó là
ngày kỵ của Thầy”.
Đại
Việt sử lược 2 tờ 22a5: “(Hội Tường Đại Khánh thứ
7) mùa hạ tháng 6 thầy Đạo Hạnh hóa thân - Thần Tông sinh
ra”.
(20)
Tam thập tam thiên (Phạn: Trayastrimsà), một tên gọi khác của
cõi trời Đao lợi hay Đâu suất đà (Phạn: Tusita), nơi ngự
trị của Đế Thích theo huyền thoại Phật giáo. Xem Trường
a hàm 20 và Câu xá luận 11.
(21)
Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 17a4-5: “Xác của Sư đến
khoảng năm Vĩnh Lạc đời Minh mới bị người Minh đốt.
Người làng đúc lại tượng của Sư mà thờ như xưa, nay
còn”. Thì rõ ràng, xác của Đạo Hạnh đang còn vào thời
Trần, khi tác giả Thiền uyển tập anh viết tác phẩm của
mình. An nam chí lược 15 tờ 147-148 cũng nói: “Sư nhục thân
kim thượng tồn”. An nam chí nguyên 3 tờ 209 viết: “Kim chân
hình thượng tồn”.
(22)
Nguyên văn: “Án Quốc sử, Hội Tường Đại Khánh bát niên,
(nhân) Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành
Kỳ, Hầu tử, nghênh nhập trung cung giáo dưỡng. Sùng Hiền
(Khánh thọ bát niên đông thập nhị nguyệt đế băng) Hầu
tử, niên phương nhị tuế, đế thâm ái chi, toại lập vi
Hoàng thái tử, chí Thiên Phù Khánh Thọ nguyên niên đông thập
nhị nguyệt đế băng, Thái tử tức vị, xuân thu nhị thập
nhất niên, tại vị phàm thập nhất niên, thụy viết Thần
Tông, tức Sư thị giả, Giác Hoàng hoặc Đại Điên thị giả”.
Những
chữ đặt trong vòng ngoặc là những chữ chúng tôi coi như
diễn tự và loại bỏ không dịch, cứ vào lời chiếu tìm
con tôn thất vào nuôi dưỡng trong cung của Lý Nhân Tông trong
Đại Việt sử ký toàn thư B3 tờ 18a8-b3: “Hội Tường
Đại Khánh thứ 8 mùa đông tháng 10... xuống chiếu nói rằng:
‘Trẫm trị muôn dân, đã lâu không có con nối dõi, ngôi
thứ của thiên hạ, thì có thể truyền lại cho ai. Vậy phải
nên nuôi dưỡng con của Sùng Hiền, Khánh Thành, Thành Quảng,
Thành Chiêu và Thành Hưng Hầu, rồi chọn đứa tốt nhất
trong chúng mà lập lên’. Bấy giờ con của Sùng Hiền Hầu
là Dương Hoán, tuổi mới lên hai mà đã thông minh lanh lợi,
vua rất thương yêu, bèn lập làm Hoàng thái tử”.
(23)Lĩnh
nam chích quái tờ 28-31 chép truyện của Từ Đạo Hạnh hoàn
toàn đồng nhất với truyện đây, trừ một sai khác đáng
chú ý là việc Đạo Hạnh thi trúng khoa Bạch liên, mà Thiền
uyển tập anh không nói rõ. Còn Từ Đạo Hạnh đại thánh
sự tích thật lục do “Đạo nhân tam quán Tam Thanh” chép
phụ vào Việt điện u linh tập tờ 221-225, tuy cốt truyện
vẫn giống, nhưng có một số chi tiết khá lôi cuốn đáng
ghi, nên đề nghị dịch lại sau:
“Xưa
Từ Đạo Hạnh, họ Từ tên Lộ cha là Vinh, dùng đạo Thích
làm giáo tôn, làm quan triều Lý đến chức Tăng quan đô sát,
trước thường (qua chơi) làng Yên Lãng, cưới con gái họ
Tăng tên Loan, làm nhà ở xóm Láng nam, làng Yên Lãng, gặp
được chốn đất làm nhà là quí địa, nên bẩm sinh Đạo
Hạnh có tiên phong đạo cốt.
Hạnh
lúc nhỏ ham hơi, tính tình hào hiệp, có chí lớn, hành động
cử chỉ, người ta không thể lường. Thường cùng nhà nho
Phí Sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người hề Phan Ất làm
bạn. Ban đêm, Hạnh siêng năng chịu khó đọc sách, nhưng
ban ngày thì đánh cầu, thổi sáo, đánh bạc làm vui. Cha Hạnh
thường quở trách Hạnh hoang chơi biếng nhác. Một hôm, ông
lén nhìn vào phòng Hạnh, thấy ngọn đèn leo lét như hạt
đậu, sách vở chất đống, Đạo Hạnh tựa vào bàn ngủ,
mà tay vẫn chưa buông sách. Ông do thế không còn lo lắng nữa.
Sau Hạnh ứng thí khoa Bạch liên, đỗ đầu, nhưng không thích
ra làm quan, ngày đêm chỉ nghĩ tới việc báo thù cho cha.
Cha
Hạnh nguyên ngày trước dùng diệu thuật xúc phạm đến Diên
Thành Hầu. Nhà Hầu có pháp sư Đại Điên dùng bùa yếm giết
chết, quăng thây xuống sông Tô Lịch. Trôi đến cầu Tây
Dương, chỗ nhà Diên Thành Hầu, thây dừng lại đó, suốt
ngày không chịu trôi đi. Hầu sợ, chạy báo cho Điên. Điên
đến, nói kệ rằng: ‘Tăng giận không đầy đêm sao? Vả,
sống là trường du hý, chết mới thành đạo Bồ đề’.
Thây đáp lại lời nói mà trôi đi, đến chỗ Hàm rồng làng
Nhân Mục cựu thì dừng lại. Người ta thấy nó có linh dị,
xã đó xây lăng miếu, đúc tượng phụng thờ, mỗi năm kỵ
vào ngày 10 tháng giêng. Bấy giờ mẹ Hạnh táng tại chùa
Ba Lăng, xã Thượng Yên. Nay chùa Hoa Lăng phụng thờ cả hai
vị Thánh cha và Thánh mẹ.
Đạo
Hạnh chí nhằm phục thù, mà không tìm ra kế. Một hôm, rình
lúc Đại Điên đi ra sắp làm pháp thuật, bèn lấy gậy sắp
đánh Đại Điên, bỗng nghe trên không có tiếng mắng bảo
thôi. Đạo Hạnh bèn quăng gậy, trở về nhà, buồn rầu tức
giận, muốn đi Tây thiên, tìm học phép lạ, để chống Đại
Điên. Bèn liền cùng Minh Không và Giác Hải ra đi, đến nước
Răng Vàng đường đi hiểm trở, muốn trở về thì thấy một
ông già cưỡi một thuyền con, thảnh thơi đi trên sông. Họ
cùng đến hỏi: “Tới Tây thiên còn bao xa”. Ông già trả
lời: “Đường núi hiểm cao, đi bộ không được. Lão có
chiếc thuyền nhỏ này, xin giúp chở đi, lại có cây gậy
nhỏ đây, nhắm thẳng Tây quốc mà tới thì chẳng xa, lão
xin bằng lòng ngay”. Lại nói bài kệ:
Cùng
đi đường đạo lẽ đương nhiên
Nhiều ông xa học quyết nên danh
Mênh
mông muôn ngả sao nhọc trải
Chỉ nhắm Hoàng Giang thấy thánh sanh.
Nói
kệ xong, trong khoảng nháy mắt, bỗng chốc đã đến trên
bờ sông Tây thiên có nhiều thần thông phép thiêng. Đạo
Hạnh giữ thuyền. Giác Hải và Minh Không lên bờ, học được
phép thiêng, liền tự trở về trước. Đạo Hạnh giữ thuyền
ba ngày, không thấy tin tức hai người bạn, tự nhiên gặp
một bà lão đến bên bờ sông, bèn chèo đên hỏi: “Bảo
bà lão có từng thấy hai người đến cầu đạo không?”.
Bà lão trả lời: “Hai đứa đó đã nhận phép thiêng do ta
dạy, đắc đạo trở về rồi”. Đạo Hạnh liền vái, vừa
kể lại chuyện ba người cùng đi, bây giờ bỏ nhau, rất
lấy làm buồn. Bà lão nghe nói, tức sai Đạo Hạnh gánh hai
thùng nước về nhà, ta sẽ dạy cho ngươi vài phép thiêng
cùng phép cho rút đất chân truyền và đà la ni.
Đạo
Hạnh tự hiềm hai người bạn đã thất ước, bèn tụng chú.
Giác Hải và Minh Không đi đến nửa đường thì bị chú làm
đau tim, khó di động được. Hai người bạn nhìn nhau kinh
hãi. Bên ngoài tuy họ bị quấy rầy, nhưng bên trong nhờ đã
học được linh thuật, nên đang hoàn toàn tỉnh táo, biện
biệt được hư thật, biết rằng nó quả là do Đạo Hạnh
tạo ra. Họ nhìn nhau nói: “Ngươi muốn biết hậu thân của
thân này, thì hãy nhắm ta mà nói”. Đạo Hạnh nhân thế
đáp: “Ta cùng học đạo Thế Tôn, đạo quả đã thành,
hậu thân sẽ sinh lại thế gian làm bậc nhân chủ, lại sinh
mắc bệnh, quyết không thể tránh, các ngươi có duyên với
ta, xin đến cứu nhau”.
Từ
đó, hận xưa hết sạch, cùng nhau truyền bá Phật pháp. Đi
mặt nước, bay trên không, hàng rồng phục cọp, lên trời
rút đất, muôn quái nghìn kỳ, xuất quỷ nhập thần, chẳng
lường được mầu nhiệm. Họ bèn nhượng Đạo Hạnh làm
anh cả, Minh Không làm anh thứ và Giác Hải làm em. Chỗ đó
nay gọi là cầu Beo ấy vậy. Minh Không và Giác Hải giã từ
trở về chùa Giao Thủy. Đạo Hạnh ở lại tu luyện tại
chùa Thiên Phúc núi Thạch Thất. Trước chùa có đôi cây tùng
già, người ta gọi là long thụ. Đạo Hạnh thường ngày chuyên
trì chú Đại bi tâm đà la ni đủ ức vạn ngàn biến thì
một nhánh cây rơi xuống. Khi đọc chú xong thì cả đôi cây
đều trụi. Hạnh tưởng được đức Quan Thế Âm đã đến
ứng giúp, sức chú gia trì đã thấu tới thiên đường. Một
hôm, thấy thần nhân hiện đến trước mặt, chân không đạp
đất, Hạnh hỏi: “Thần nào đó?” Vị thần trả lời:
“Đệ tử là Tứ trấn thiên vương, cảm động đức trì
kinh của Sư, nên đến hầu hạ, để tiện việc sai sử”.
Đạo Hạnh biết lục trí của mình đã viên thành, thù cha
có thể trả. Bèn trở về ở tại Yên Lãng làng xưa, thân
hành đến cầu An quyết sông Tô Lịch, quăng một cây gậy
xuống sông. Cây bỗng trên mặt nước, trôi ngược lên như
bay, đến cầu Tây dương mới dừng lại. Đạo Hạnh vui mừng
nói: “Phép ta thắng Đại Điên rồi vậy”. Bèn đi thẳng
đến chỗ Điên. Điên thấy, nói: “Mày không nhớ chuyện
ngày trước sao?”. Đạo Hạnh ngửa mặt ngó lên trời, vắng
vẻ không thấy gì cả, nhân thế đánh mạnh. Điên chết,
lại quăng xác vào sông Tô Lịch để trả thù xưa.
Thù
xưa rửa sạch, niềm tục lắng trong, Hạnh lại đi khắp tòng
lâm, cầu xin ấn quyết. Nghe Cao Trí Huyền hóa đạo ở Thái
Bình, Hạnh lễ phép đến tham yết, tỏ hết chân tâm, có
bài kệ rằng:
Lâu mắc bụi đời chưa biết vàng
Chẳng may đâu đó ấy lòng chân
Nguyện xin chỉ dạy bày phương tiện
Nương thấy Bồ đề khỏi nhọc tìm.
Trí
Huyền đáp lại bài kệ:
Bí
quyết chân truyền giá vạn kim
Rõ
ràng cái đó ấy thiền tâm
Hà
sa thế giới nên thôi nói
Chẳng
phải Bồ đề cách vạn tầm
Từ
Đạo Hạnh mang nhiên không hiểu, bèn đến pháp hội của
Sùng Phạm tại chùa Pháp Vân, thong dong hỏi rằng: “Thế
nào mới là chân tâm?”. Phạm đáp: “Chỗ nào lại không
là chân tâm”. Đạo Hạnh bỗng nhiên tự ngộ, bèn lại trở
về chùa Thiên Phúc núi Thạch Thất tu đạo luyện pháp xưa.
Từ đó pháp lực càng thêm, lòng thiền càng thục, có thể
sai sử chim rừng thú nội đều bay đến nép phục xung quanh.
Hễ dân các phương có ai bị tật dịch, phù bay giát chạy,
phép Hạnh lập tức có nghiệm. Đem cứu người, người đều
thấm ơn.
Bấy
giờ vua Lý Nhân Tông không có con nối dõi, cầu đảo không
nghiệm. Em vua là Sùng Hiền Hầu mời Đạo Hạnh về nhà cùng
nói chuyện cầu tự. Từ Công nguyện thác thai, để tạ ân
đức của Hầu. Lúc đó, phu nhân đang tắm ở nhà sau, bỗng
thấy Đạo Hạnh hiện ở trong thau nước. Phu nhân sợ, đem
nói với Hầu. Hầu rõ biết ý Hạnh, lén gọi phu nhân nói:
“Bóng hiện trong thau nước, ấy là chân nhân đã nhập vào
trong tử cung rồi, cẩn thận chớ sợ hãi nghi ngờ. Phu nhân
trong lòng cảm thấy mình có thai. Từ Công bèn từ tạ ra về,
dặn rằng: “Lúc lâm bồn thì nên đi báo cho ta”. Đến khi
thai đủ tháng, phu nhân cảm thấy chuyển bụng muốn đẻ,
nhưng rất khó. Hầu bảo: “Nên mau đi báo cao tăng”. Từ
Công thấy người đi báo đến, bèn gọi đồ đệ đến nói:
“Nhân xưa chưa hết, ta tạm phải ra đời làm con cõi người
để làm vua, thọ hết lại làm (chủ) cõi trời Tam thập tam.
Nếu thấy chân thân ta hoại diệt thì ta mới vào Niết bàn
, không còn ở trong sinh diệt nữa. Môn nhân nghe nói, không
ai là không cảm động đến rơi nước mắt. Bèn lải rải
nói kệ rằng:
Thu qua không báo nhạn về đây
Dễ khiến người đời xót thương thay
Tỏ dấu người đời không ý tiếc
Thầy xưa bao thuở vẫn thầy nay
Nói
xong, đi lên Động Tiên, va đầu vào vách đá, dẫm chân lên
bàn đá nghiễm nhiên thi giải mà mất. Ấy là năm Bính Thân
Hội Tường Đại Khánh thứ 3 mùa xuân tháng 3 ngày mồng 7.
Đạo Hạnh Niết bàn, ra đời làm con của Sùng Hiền Hầu,
không phiền nuôi nấng mà mau lớn, không nhọc dạy dỗ mà
thông minh, nhan sắc đẹp đẽ, tài năng hết sánh. Vua xuống
chiếu đem vào nuôi dưỡng ở trong cung, sau phong làm Hoàng
thái tử. Nhân Tông băng, vua lên ngôi, ấy là Thần Tông..”.
Từ
Đạo Hạnh đại thánh sự tích thật lục này, Đại nam nhất
thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Tục biên chép với một vài
sai khác không đáng kể cho lắm. Trừ việc nó thiếu bài thơ
thị tịch của Hạnh và thêm bài thơ báo mộng cho Lý Nhân
Tông cùng chuyện nhờ Minh Không sau này chữa bệnh hộ mình.
An
nam chí lược 15 tờ 147-148 viết: “Từ Đạo Hạnh là Nho
sinh, ưa thổi sáo ngày cùng bạn leo núi du ngoạn, đêm đọc
sách đến sáng. Một hôm, Hạnh vào núi Phật Tích, thấy trên
đá có dấu bàn chân bên phải, bèn lấy bàn chân mình án
lên trên thì giống như một. Bèn trở về nhà, giã từ mẹ
mình, vào núi dựng am tu hành. Vua Lý vô tự, sai danh tăng cầu
đảo. Có một vị tăng không dự, dùng thuật yểm đi. Vua
nghe được sai bắt các vị tăng trong nước. Sư cũng bị hạ
ngục. Vị Hoàng tử đem sức ra cứu, nên Sư khỏi được.
Vị hoàng tử nói: “Tôi cũng không có con nối dòng, xin Sư
cầu đảo giùm tôi”. Sư bèn nói với vị Hoàng tử nên sai
phu nhân vào trong nhà tắm. Sư đi qua ngoài nhà. Phu nhân cảm
được mà có thai. Đến khi sinh, vị Hoàng tử cho mời Sư,
nhưng Sư đã ngồi mà hóa. Phu nhân bèn sanh một người con
trai kỳ vĩ. Vua Lý lấy làm người nối dõi. Nhục thân Sư
nay vẫn còn”.
Việt
sử tiêu án 1 tờ 101a1-16 chép: “Xét phu nhân Sùng Hiền Hầu
có thai gặp Sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến nhà
cùng bàn việc cầu tự. Sư hẹn khi sắp đẻ, nên trước
báo cho Sư biết. Đến lúc ấy phu nhân đẻ khó, Hầu nhớ
lại lời Sư, sai người đi báo. Sư liền thay áo, tắm rửa,
vào trong hang thi giải mà chết. Phu nhân liền sanh một người
con trai, tức Dương Hoán. Núi Thạch Thất ở tại làng Lật
Sài, huyện Yên Sơn, cao vút xanh đẹp, mọc lên giữa một
đám đất bằng. Động đá có in dấu đầu và dấu chân,
hình như rồng lân, tục truyền là nơi thi giải. Người làng
cho đó là điềm lạ, bỏ thây vào trong khám mà thờ. Mỗi
năm đến ngày 7 tháng 3 là thắng hội của một địa phương.
Sau trong khoảng Vĩnh Lạc, người Minh đốt thây đó. Dân làng
mới đắp tượng cùng thờ với Thần Tông. Trong khoảng Lê
Quang Thuận, sai Nguyễn Đức Trinh đến cầu tự ở trong động
thì điềm lạ là có một mảnh đá bay tới. Bèn cung kỉnh
rước về dâng lên. Khi đã vậy, Thái hậu Trường Lạc mộng
thấy rồng vàng vào hông bên phải của mình, bèn sinh ra Hiến
Tông. Từ đó dấu thiêng càng hiện rõ”.
Rồi
nó nhận xét thế này: “Xét Dã sử thì Đạo Hạnh là con
của Từ Vinh, dòng dõi nổi tiếng về pháp thuật, chẳng phải
là một cao tăng. Việc thi giải đầu thai của ông quái đản
không thường. Cao tăng minh tâm kiến tánh, tất không dùng
phép thuật mê hoặc mọi người. Sách sử nên bỏ chuyện
lạ lùng, chỉ ghi lại việc thường, thì không nên đem chuyện
thần quái mà mê hoặc đời”. Dẫu vậy, với dẫn chứng
vừa đọc, ta cũng thấy Việt sử tiêu án đã không quên bước
chân theo Đại Việt sử ký toàn thư và Đại Việt sử lược
để ghi lại những việc làm có vẻ quái đản của Đạo
Hạnh. Chỉ Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính
biên là đã làm theo lời giáo huấn của Ngô Thời Sĩ, và
từ đó đã tự làm giảm giá trị của chính mình thôi.
52.
THIỀN SƯ TRÌ BÁT
(1)
Việt sử tiêu án 1 tờ 101b2 nói Từ Đạo Hạnh là “nhà
Sư núi Thạch Thất”. Nhưng cứ truyện Đạo Hạnh tờ 53b2
ở trên thì Hạnh sống ở Phật Tích đời Lý phải chăng
là núi Thạch Thất đời Ngô Thời Sĩ, tác giả Việt sử
tiêu án. Đây là một có thể vì dù Đại nam nhất thống
chí, mục Sơn xuyên có bản núi Phật Tích ở huyện Yên Sơn
chăng nữa thì ở mục Kiến trí diên cách, nó lại dẫn Đại
thanh nhất thống chí nói rằng núi Câu lậu ở huyện Thạch
Thất , núi Phật Tích cũng ở huyện Thạch Thất. Rồi nó
bình luận: nay núi Phật Tích ở huyện Yên Sơn là một huyện
đời nào mới phân ra chưa rõ. Như thế ta có chứng cứ mà
nghĩ rằng núi Phật Tích và núi Thạch Thất một.
Tuy
nhiên, theo Đại Việt sử lược 3 tờ 31 b4 thì núi Phật Tích
ở Ngoại Trại, trong khi cứ truyện Trì Bát đây thì núi Thạch
Thất lại ở Tân Trại. Tân Trại đương nhiên không phải
là Ngoại Trại được. Từ đó núi Thạch Thất không thể
là núi Phật Tích, Vấn đề này Đại nam nhất thống chí,
tỉnh Sơn Tây, mục Sơn xuyên, đã cung cấp sẵn một giải
đáp. Nó dẫn Lê chí đời Minh nói rằng: “Núi Phật Tích
là một danh sơn trong 21 núi ở An Nam, năm Hồng Vũ thứ 3 (1371)
sai sứ sang tế, lại vẽ hình nó đem về. Phía đông bắc
núi độ một dặm có sông Hát chạy vòng quanh. Phía tây nam
độ hai dặm có một khe nhỏ chảy khuất khúc hơn 10 dặm
đổ vào sông Tích. Núi chuyển hướng đông thuộc thôn Thiên
Phúc làm núi Long Đẩu, thuộc xã Sài khê thì làm núi Hoa Phát,
làm núi Lộc, làm núi Long, đến xã Khánh Tân thì làm núi
Hương, núi Mộng, núi Phụng Hoàng và thôn Ô Cách, xã Cù Sơn
thì làm núi Lân, núi Tượng, lại chuyển hướng nam làm núi
Ma Yên, thuộc thôn Trung, xã Cù Sơn làm núi Dương. Xã Quảng
Động có núi Âm. Hai núi ấy đối ngọn nhau. Núi Dương không
có cỏ cây. Núi Âm có cây rất tốt, nên có tên đó”.
Cứ
vào những mẩu tin vừa dẫn của Lê chí thì núi Phật Tích
“chuyển hướng đông đến thôn Ô Cách, xã Cù Sơn thì làm
núi Lân, núi Tượng, lại chuyển nam thuộc thôn Trung, xã Cù
Sơn là núi Dương”. Xã Cù Sơn nói đây chúng tôi nghĩ rằng
nó là phần đất làng Đại Cù, mà truyện Trì Bát nói tới.
Từ đó, núi Thạch Thất nơi có ngôi chùa Tổ Phong của Trì
Bát phải là núi Lân, núi Tượng ở thôn Ô Cách, xã Cù Sơn.
Chúng tôi không kể đến ngọn Dương Sơn của xã này, bởi
vì nó là một ngọn núi: “không cây cỏ” thì khó lòng là
nơi làm cảnh dựng chùa được. Về núi Lân và núi Tượng
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Sơn Tây, mục Sơn xuyên, có
nói về núi Phục Tượng như sau: “Núi Phục Tượng tại
huyện Yên Sơn, nó từ Sài Sơn mà đến, một chi phía nách
trái có núi Phụng Hoàng và núi Quy Tích”. Nó không nói gì
đến núi Lân hết, thế cũng có nghĩa núi Lân chắc không
có gì đặc sắc cho lắm. Núi Tượng như vậy cũng là núi
Phục Tượng. Và giống Phục Tượng là đến từ Sài Sơn,
thì núi Thạch Thất, tức núi Phục Tượng, cùng là núi Phật
Tích, hay đúng hơn từ Phật Tích “mà tới”.
Đất
Tân Trại do đó phần lớn gồm trong huyện Quốc Oai, tỉnh
Sơn Tây ngày nay. Điều này ta ngày nay không có gì phải nghi
ngờ, bởi vì một bệ đá thờ Phật Di Đà tìm thấy tại
chùa Hoàng Kim của xã Hoàng Ngô tỉnh Quốc Oai đã có ghi tên
Trì Bát, ghi nhận Trì Bát đã dựng tượng đức A Di Đà đó
vào năm 1099.
(2)
Tức phần đất làng Khương Tự và Đại Tự huyện Thuận
Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay. Đại Việt sử ký toàn thư B4
tờ 19b1-20a1 viết: “Năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 3 (1188) mùa
hạ tháng 5 hạn. Vua thân hành đến chùa Pháp Vân của Luy
Lâu (nguyên văn có Luy Bà, nhưng Bà chắc chắn là một viết
sai của Lâu) cầu mưa, nhân đó rước tượng Phật Pháp Vân
về chùa Báo Thiên”. Khâm định Việt sử thông giám cương
mục chính biên 5 tờ 23b3 cũng ghi việc đấy, nhưng không ghi
tên đất nơi có chùa Pháp Vân. Mà chùa Pháp Vân, ta đã biết
là ở hai xã Khương Tự và Đại Tự ngày nay. Thì Luy
Lâu tất cũng phải vậy.
(3)
Tức Lý Thường Kiệt (1019-1105). Kiệt được phong chức Thái
úy năm 1075.
(4)
Thiền sư Viên Quang, có người hỏi: “Nếu không dính dáng
đến chuyện đàn tràng nữa thì Sư có tiếp chăng?”. Sư
trả lời: “Tô rô tô rô”. Tô rô tô rô hay nói cho đủ,
án tô rô tô rô tất rị là một phiên câu chữ Phạn: Om surà-suràsrì
nghĩa là: Om loài người trời và loài chẳng phải trời quang
vinh.
53.
THIỀN SƯ THUẦN CHÂN
(1)
Tây Kết là một địa danh lịch sử nổi tiếng. Bọn xâm
lược Tống thời Lê Hoàn đã đến đóng quân ở đó. Bọn
xâm lược Nguyên Mông dưới quyền chỉ huy của tên tướng
khét tiếng tàn ác Ô Mã Nhi cũng đến đóng quân ở đó. Tuy
thế, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chính biên
1 tờ 18a1 đã phải chú là “Tây Kết thất tường”. Dẫu
vậy, bây giờ cứ vào mô tả của Đại Việt sử ký toàn
thư 5 tờ 48a2-49b8 về những chiến thắng Hàm Tử, Chương
Dương và Tây Kết, ta thấy đầu tháng 3 năm 1285 Toa Đô đem
50 vạn quân đến đóng ở Tây Kết. Tháng 4 “vua sai Chiêu
Thành Vương, Hoài văn hầu Quốc Toản và tướng quân Nguyễn
Khoái đem tiệp binh đón đánh giặc ở đầu bến Tây Kết.
Quan quân cùng với người Nguyên đánh nhau ở cửa Hàm Tử,
các quân đều ở đó. Chỉ quân của Chiêu Văn Vương Nhật
Duật là có người Tống mặc áo người Tống cầm cung nỏ
chiến đấu... Người Nguyên thấy vậy, đều thất kinh nói:
“Có người Tống đến giúp”, nhân đó thua chạy về Bắc.
Ngày 10 có tiệp báo. Thượng tướng Quang Khải, Hoài văn hầu
Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em Nguyễn
Phó đem dân binh các lộ đánh bại giặc ở các nơi Kinh thành
và Chương Dương. Ngày 17 Toa Đô cùng với Ô Mã Nhi từ biển
mơi vào đến đánh sông Thiên Mạc. Ngày 22 vua tiến lên đóng
ở bến Đại Mang, Tổng quản Trương Hiển của quân Nguyên
đến hàng. Ngày đó, đánh bại giặc ở Tây Kết, giết chết
và làm bị thương rất nhiều, chém đầu tên Nguyên soái Toa
Đô. Nửa đêm Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa. Hai vua
đuổi theo không kịp, bắt dư đảng của y hơn 5 vạn mà trở
về”.
Cứ
vào những diễn tiến của chiến dịch Tây Kết đây và cứ
vào những chú thích của Khâm định Việt sử thông giám cương
mục chính biên 7 tờ 39b6 và 41b4 và vị trí của cửa Hàm
Tử và Bến Chương Dương cùng việc thoát thân của Ô Mã
Nhi, thì Tây Kết phải là một tên làng nằm trên bờ
sông Hồng tại huyện Đông Anh, tỉnh Hưng Yên, tức huyện
Khoái Châu, tỉnh Hải Hưng ngày nay. Bắc thành địa dư chí
lục 3 có ghi một tổng và xã tên Đông Kết thuộc huyện
Đông Yên của trấn Sơn Nam hạ. Tây Kết chắc nằm phía tây
của tổng xã đó, nhưng nó không ghi một tổng xã nào tên
Tây Kết hết.
Chúng
tôi nghi Tây Kết có thể nằm về hữu ngạn sông Hồng trên
địa phận của huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông trước
đây, bởi vì cứ truyện Thuần Chân ở đây thì làng Tây
Kết thuộc về Thượng Nghi. Thượng Nghi này, chúng tôi nghi
là tên thời Lý của châu Thượng Phúc thời Trần, tức huyện
Thượng Phúc đời Lê cho tới ngày nay. Huyện này ở đúng
về tây huyện Đông Yên. Mà huyện Đông Yên, theo Đại nam
nhất thống chí, tỉnh Hưng Yên, mục Kiến trí diên cách,
là huyện Đông Kết đời trần và thuộc Minh. Đến đời
Lê Quang Thuận mới đổi ra Đông Yên. Khảo những tên tổng
xã của huyện Thượng Phúc trong Bắc thành địa dư chí lục
3 không thấy có một tên nào có thể điểm chỉ cho biết
có một làng tên Tây Kết ở huyện đó. Vấn đề này cần
được nghiên cứu thêm, đặc biệt bằng nghiên cứu hiện
địa.
(2)
Tức huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Huyện Văn Giang
thời Nguyễn là thuộc tỉnh Bắc Ninh. Viết về lai lịch nó,
Đại nam nhất thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục Kiến trí
diên cách nói: “Huyện Văn Giang đời Trần về trước gọi
là Tế Giang. Sử ký chép Lữ Đường chiếm cứ Tế Giang,
tức huyện đây đời thuộc Minh do châu Gia Lâm thống lĩnh
thuộc phủ Bắc Giang. Đời Lê Quang Thuận đổi thuộc phủ
Thuận An. Sau đổi tên Văn Giang. Năm Minh Mạng 13 (1832) triều
ta đặt riêng phân phủ kiêm lý huyện”.
Đại
Việt sử lược 3 tờ 29a1 nói: “Tự Khánh dẫn quân đồn
Cứu Liên, chia tướng sĩ đồn Cửu Cao và Cứu Ông để ngăn
Nộn”. Cứu Ông ở đây tức Cửu Ông, quê của Thuần Chân.
(3)
Pháp Bảo chùa Tịnh Quang này có thể là Pháp Bảo chùa Phúc
Diên Tư Thánh có hiệu là Hải Chiếu đại sư, tác giả bài
bia chùa Linh Xứng viết năm 1126 nổi tiếng hiện đã phát
hiện được, và cũng là tác giả một bài bia khác cho chùa
Sùng Nghiêm Diên Thánh viết năm 1118, mà Lê Quý Đôn đã phát
hiện và ghi lại trong Kiến văn tiểu lục 4 tờ 2a8, nhưng
đã không chép lại toàn văn bản bia.
(4)
Nguyên văn: Long Phù nguyên niên Ất Dậu. Nhưng cứ Đại Việt
sử lược 2 tờ 19b1 và 20a5 và Đại Việt sử ký toàn thư
B3tờ 13b6-14b5 thì không có năm nào Long Phù nguyên niên mà
lại Ất Dậu hết. Long Phù nguyên niên thì phải là Tân Tỵ,
còn Ất Dậu thì phải là Long Phù nguyên niên. Chúng tôi nghĩ,
chữ Nguyên trong Long Phù nguyên niên ở đây là một chép sai
của chữ ngũ, bởi chữ ngũ và chữ nguyên dễ viết lộn
nhau lắm, và bởi Long Phù ngũ niên thì quả đúng năm Ất
Dậu. Như vậy, năm mất của Thuần Chân chính là năm Long
Phù thứ năm Ất Dậu.
54.
TĂNG THỐNG HUỆ SINH
(1)
Bắc thành địa dư chí lục 3 có ghi một xã của tổng Nam
Phù Liệt, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam thượng tên Đông
Phù Liệt. Làng Đông Phù Liệt như vậy ở vào huyện Thanh
Trì, tỉnh Hà Đông ngày nay.
(2)
Vũ An là tên một châu huyện thời Đường. Tân đường thư
43 thượng tờ 11a11 nói châu Vũ An có hai huyện là Vũ An và
Lâm Giang. Đến thời Ngô Quyền, tên ấy vẫn dùng, bởi vì
truyện của Phạm Cự Lượng trong Việt điện u linh tập tờ
20 nói ông nội của Lượng là Phạm Chiêm từng giữ chức
Châu mục châu Vũ An. Đến thời Lý, tên Vũ An đang lưu hành.
Nhưng Vũ An nằm ở địa phận nào thì đấy là cả một vấn
đề. Cứ truyện Huệ Sinh đây thì tại Vũ An có Trà Sơn.
Trà Sơn nay chắc chắn là tên làng, chứ không phải là tên
ngọn núi, như sẽ thấy dưới chú thích (4) sau đây. Khảo
Bắc thành địa dư chí lục 2 có ghi một xã thuộc tổng Dưỡng
Chân, huyện Thủy Đường, trấn Hải Dương tên Trà Sơn. Chúng
tôi nghi Trà Sơn quê của Huệ Sinh tức làng Trà Sơn này. Nếu
vậy, đất châu Vũ An đời Lý tất phải bao gồm đất huyện
Thủy Đường đời Nguyễn, tức huyện Thủy Nguyên, tỉnh
Kiến An ngày nay.
(3)
Chùa Hạc Lâm này nghi là đền Hạc Lâm truyện Vạn Hạnh
tờ 53a7 nói tới trong bài thơ ghi giới hạn ngôi mộ
của Hiển Khánh đại vương:
Đông hữu Vũ long hạng
Nam hữu Vũ long pha
Tây hữu Hạc Lâm quán
Bắc hữu Trấn hải trì
Nếu
vậy, chùa này ở phía tây ngôi mộ tại làng Đình Bảng ?
(4)
Tức núi Nguyệt thường hay núi Bạch Sắc ở huyện Tiên Du
tỉnh Bắc Ninh. Đại nam nhất thống chí, tỉnh Bắc Ninh, mục
Sơn xuyên nói: “Núi Nguyệt thường, tại Phía tây nam huyện
Tiên Du ba dặm, một tên là núi Bạch Sắc, cũng gọi là núi
Trà. Tương truyền Lý Thánh Tông đến chơi núi đó và cho
tên Nguyệt Thường. Núi hơi cao, đá đất lẫn lộn. Trên
núi có liễu, dưới núi có đền Cao sơn. Năm Tự Đức thứ
3 (1850) triều ta liệt vào hạng danh sơn, chép vào sách cúng”.
Núi
này hiện có đỉnh Bồ Đề Không, chưa thể biết được.
(5)
Đại sĩ là một tên gọi khác các vị Bồ tát. Xem Đại trí
độ luận. Nó đôi khi cũng để gọi Phật, như trong Kim quang
minh kinh tứ nghi tập giải quyển thượng nói: “Đại sĩ,
đại là không phải nhỏ, sĩ là việc, vì vận dụng được
lòng rộng lớn làm nên việc Phật nên gọi đại sĩ, cũng
gọi thượng sĩ”. Du già sư địa luận xác định rõ hơn
nội dung của từ thượng sĩ thế này: “Người làm không
lợi mình mà lợi người, ấy là hạ sĩ, làm lợi mình không
lợi người, gọi là trung sĩ, làm cả lợi mình lẫn lợi
người, gọi là thượng sĩ”. Nội dung của từ tại sĩ cũng
thế.
Đại
sĩ nhục thân như vậy, có nghĩa vị Bồ tát hay Phật bằng
xương thịt.
(6)
Trang Tử, “Liệt ngự khấu”: Hoặc sinh ư Trang Tử. Trang
Tử ứng kỳ sử viết: “Tử kiến phù hy ngưu hồ? Y dĩ văn
tú, thực dĩ sồ thúc, cập kỳ khiên nhi nhập thái miếu,
tuy dục vi cô độc, kỳ khả đắc hồ”. Xem Trang tử 10 tờ
12a12b1.
(7)
Đại tống tăng sử lược quyển hạ tờ 250a4-10: “Nội cung
phụng là chức quan trao cho thầy tu. Từ khi Đường Túc Tôn
nhóm binh ở Linh Vũ vào năm Chí Đức thứ nhất (756), rồi
trở về Phú Phong, sư Nguyên Hạo nhận được khấu sắc,
đặt đạo tràng Dược Sư, vua sai những người đi theo xa
giá đến để cầu công nghiệm. Tới chùa Khai Nguyên, phủ
Phụng Dương, đạo tràng Dược Sư có ba nhóm, mỗi nhóm bảy
người, sáu thời hành đạo Bấy giờ trong đạo tràng bỗng
mọc lên một cây mận. Sư phụng mệnh kiểm xem hư thực thời
cây mận có 49 cành. Nguyên Hạo dâng biểu mừng. Vua phê đáp:
“Cây mận lành sum xuê, đó là điềm nước thịnh, mà nó
lại mọc trong già lam thì biết mặt trời Phật pháp
đang nổi lên trở lại. Cảm được cái điềm lành đặc
biệt này, trẫm xin vui với Sư. Lý Nhượng Quốc lại đọc
sắc nói: “Sắc sư Nguyên Hạo làm Nội cung phụng”. Đặt
ra chức Nội cung phụng đây, như vậy là bắt đầu với Nguyên
Hạo. Sau Hạo có Tử Lân là người Tuyền châu kế tiếp.
Đến thời Hiến Tông thì Đoan Phổ, Hạo Nguyên và Hoàn Bạch
nối nhau giữ chức. Qua tới thời Chu, Lương, Hậu Đường,
Tấn, Hán, Chu và Đại Tống ta thì chức đấy không còn nghe
tới nữa”.
Đấy
là lai lịch chức Nội cung phụng tăng ở Trung Quốc. Ở nước
ta, chức này được phong cho một Pháp sư tên Định sống
vào những năm 800, mà Dương Cự Nguyên đã làm bài thơ tặng
nhan đề “Cung phụng Định pháp sư quy An Nam”. Xem Toàn đường
thi 333 tờ 3722. Đến đời Lê Đại Hành có Nguyễn Kha làm
Nội cung phụng đô úy như Thiền uyển tập anh đã có.
(8)
Tức Phụng Càn Vương, tước do Lý Thái Tông phong cho con mình
là Lý Nhật Trưng vào năm 1035. Xem Đại Việt sử lược 2
tờ 6a8 và Đại Việt sử ký toàn thư B2 tờ 23a5.
(9)
Có lẽ là Vũ Uy. Năm 1009, khi mới lên ngôi, Lý Công Uẩn phong
cho anh mình là Vũ Uy Vương. Xem Đại Việt sử lược 2 tờ
2b3 và Đại Việt sử ký toàn thư B1 tờ 34b5. Nhưng Vũ Uy đây
không phải là Vũ Uy Vương, mà là Vũ Uy Hầu, con của Lý Thái
Tông và em của Phụng Càn Vương. Đại Việt sử lược 2 tờ
8a4 có ghi một Vũ Uy Hầu đã cùng với Quách Thịnh Dật đi
đánh Nùng Trí Cao vào năm 1048, mà những sử khác không ghi.
Vũ Uy Hầu này là Vũ Uy của chúng ta ở đây.
Về
tước Thái tử, thì các sử ta đều nói trừ con trưởng ra,
các con khác của các vua đời Lý đều phong Hầu. Nhưng cứ
Lĩnh ngoại đại đáp, thì các con vua đời Lý đều được
phong Thái tử hết. Những Thái tử Vũ Uy, Hỷ Từ. v.v...chắc
đều là con của Lý Thái Tông.
(10)
Có lẽ là Vương Hành, người giữ chức hữu thanh đạo do
Lý Thánh Tông phong lúc mới lên ngôi vào năm 1054, mà Đại
Việt sử lược 2 tờ 10a5 nói tới, còn các sử khác không
thấy có. Chữ Hành rất dễ viết lên thành chữ Cường.
(11)
Lúc mới lên ngôi vào năm 1028, Lý Thái Tông “lấy Lương
Nhiệm Văn làm Thái sư (...) Đào Xử Trung làm Thái bảo....Kiều
Bỗng làm Hữu tham tri chính sự. Xem Đại Việt sử lược
2 tờ 5a3-5 và Đại Việt sử ký toàn thư B2 tờ 16a7-9.
(12)
Về sự liên hệ giữa Huệ Sinh và Lý Thánh Tông, Báo cực
truyện do Việt điện u linh tập tờ 30-31 dẫn lại trong truyện
Ứng thiện hóa dục nguyên trung hậu thổ địa kỳ nguyên
quân có viết rằng:
“Xưa
Lý Thánh Tông nam chinh Chiêm Thành, đến cửa Hoàn bỗng bị
gió lớn mưa to, sóng nước cuộn lên, thuyền vua tròng trành
muốn lật, nguy cấp xảy ra không thể lường được. Vua rất
lo sợ. Trong lúc bàng hoàng, vua bỗng thấy một người con
gái, tuổi ước trên dưới hai mươi, mặt tựa hoa đào, mày
đượm dương liễu, mắt sáng như sao, cười như hoa nở, mình
mặc áo trắng quần lục, nai nịt gọn gàng, đi thẳng đến
trước Vua, nói rằng: “Thiếp là tinh của đại địa Nam
quốc, sống nhờ ở làng Thủy Vân đã lâu, xem thời mà ra,
may gặp dịp tốt, hân hạnh thấy được long nhan, thì sở
nguyện bình sinh của thiếp thật đã thỏa. Chỉ mong bệ hạ
chuyến đi này thông suốt, hoàn toàn thu hoạch thắng lợi.
Thiếp tuy bồ liễu mong manh, cũng xin đem sức mọn, lặng lẽ
phò tá. Đến ngày khải hoàn, thiếp xin đợi ở đấy để
bái yết”. Nói xong thì không thấy nữa.
Vua
tỉnh dậy kinh hãi nhưng vui, cho mời tả hữu, kể hết những
gì đã thấy trong mộng. Tăng thống Lâm Huệ Sinh nói: “Thần
nói thác sinh vào một cây ở tại làng Thủy Vân. Nay nên tìm
thần ở cây đó, có thể có linh nghiệm”. Vua đồng ý, sai
tùy tùng đi tìm ở bãi và bờ sông thì được một cây gỗ,
đầu rất giống hình người qua dạng người đã thấy trong
mộng. Vua bèn đặt hiệu là Hậu Thổ phu nhân. Sai đặt hương
án ở trong ngự thuyền. Giây lát, sóng gió lặng im, cây cối
hết động. Tới khi qua đến Chiêm Thành xáp trận thì giống
như có sức thần giúp. Trận đó quả đại thắng.
Đến
ngày khải hoàn, thuyền vua đến đậu lại chỗ cũ, ra lệnh
xây miếu, thì mưa gió lại nổi lên lại như xưa. Lâm Huệ
(Sinh) tâu rằng: “Để xin một keo có phải muốn về kinh
sư chăng”. Thì quả được. Mưa gió lại im lặng. Đến khi
tới kinh sư, vua chọn đất dựng miếu tại làng Yên Lãng,
rất nổi tiếng linh dị. Có kẻ bài báng chú trở thì liền
bị tai họa ...
Đấy
là chuyện Lâm Huệ sinh tùng chinh Chiêm Thành với Lý Thánh
Tông nguyên bản chép tay viết Huệ Lâm Sinh hay Huệ Lâm, nhưng
đó rõ rằng là chép ngược và thiếu cái tên của Huệ Sinh
họ Lâm. Suốt đời mình Lý Thánh Tông chỉ đi đánh Chiêm
Thành có một lần, ấy là vào năm 1069. Nhưng như sẽ thấy,
Huệ Sinh theo Thiền uyển tập anh thì mất vào năm 1063 hay1064.
Vậy làm sao lại có thể tùng chinh? Xem chú thích tiếp
theo .
(13)
Nguyên văn: Gia Khánh ngũ niên Giáp Thìn. Nhưng cứ Đại Việt
sử lược 2 và Đại Việt sử ký toàn thư B3 thì Chương Thánh
Gia Khánh ngũ niên phải là Quý Mão, chứ không phải Giáp Thìn.
Nếu Giáp thìn thì phải là Chương Thánh Gia Khánh lục niên
(1064). Chữ ngũ và chữ lục cũng rất dễ lẫn. Vậy Huệ
Sinh mất năm 1064? Nhưng như thế làm sao Huệ Sinh có thể tùng
chinh Chiêm Thành với Lý Thánh Tông, khi cuộc chinh phạt xảy
ra vào năm 1069. Phải chăng Huệ Sinh đã tùng chinh với Lý
Thái Tông trong cuộc chinh phạt năm 1044, mà Việt điện u linh
tập viết lộn thành Lý Thánh Tông? Chúng tôi nghĩ đấy là
một có thể, nhất là khi vấn đề truyền bản của Việt
điện u linh tập đưa nhiều điểm khá nghi ngờ, mà những
cái tên Huệ Lâm Sinh và Huệ Lâm là những thí dụ. Tuy nhiên
không nhất thiết loại bỏ những sai lầm niên đại có thể
do sự truyền bản của Thuyền uyển tập anh tạo ra, mà trường
hợp Khánh Hỷ và Pháp Dung là những thí dụ.
(14)
Công án thiền. Thiền sư Vô Trước nói chuyện với Văn Thù
trên Ngũ Đài Sơn. Vô Trước hỏi về sinh hoạt của các nhà
sư ở đấy và con số của nó. Văn Thù trả lời: “Trước
ba ba, sau ba ba” (Tiền tam tam, hậu tam tam). Xem Bích nham lục
4 tờ 173b29-174a7.
(15)
Điển Thiện Tài đi học đạo, được Văn Thù chỉ đi hướng
nam tham học với 53 vị thiện tri thức, mà từ Phật học
Trung Quốc thường gọi “Thiện Tài đồng tử ngũ thập tam
tham”, trong kinh Hoa nghiêm. Xem Đại phương quảng phật hoa
nghiêm kinh 62-48.
(16)
Đại Việt sử lược 2 tờ 11a1 và Đại Việt sử ký toàn
thư B3 tờ 2a3-4 nói: “Năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057)
mùa đông tháng 12 dựng chùa Thiên Phúc và chùa Thiên Thọ,
dùng vàng ròng đúc tượng Phạm Vương, Đế Thích hai pho để
thờ”. Đại Việt sử ký toàn thư còn chua thêm: “Đó là
nói đời Trần làm lễ yết chùa”.
(17)
Đại Việt sử lược 2 tờ 11a8 nói: “Năm Long Thụy Thái
Bình thứ sáu (1059) dựng chùa Sùng Nghiêm Báo Đức ở châu
Vũ Ninh”. Vậy thì, chùa Diệu nghiêm Báo Đức ở truyện
Huệ Sinh đây tức chùa Sùng Nghiêm Báo Đức. Chữ Diệu có
thể là viết sai của chữ Sùng, hay ngược lại. Chúng ta ngày
nay chưa có nghiên cứu hiện địa để xác định đâu là
đúng. Chùa Sùng Nghiêm Báo Đức này cũng gọi tắt là chùa
Báo Đức và là nơi tu hành của Đại Xả. Xem truyện Đại
Xả ở trước.
(18)
Nghệ văn chí và Văn tịch chí đều ghi: “Pháp sự trai nghi
một quyển, Sư Huệ Sinh soạn, người Đông phù liệt, huyện
Thanh Trì”. Còn Chư đạo tràng khánh tán văn không thấy sách
nào ghi tới cả. Ta không hiểu Lê Quý Đôn đã dựa vào tiêu
chuẩn gì để ghi hay không ghi một cuốn sách.