PHẦN
V
THƯ
MỤC CHÚ THÍCH
A.
ĐẠI TẠNG KINH
Đời
Nguyên biên tập. Nhật Bản, Đại chánh nhất thiết kinh san
hành hội. Ảnh ấn, Trung Hoa Phật giáo văn hóa quán ảnh ấn
Đại tạng kinh ủy viên hội. Các tác phẩm được sử dụng
từ ấn bản này được ký hiệu theo số hiệu của mỗi tác
phẩm. Viết tắt: ĐTK.
Trường
a hàm kinh, 22 quyển, đời Hậu Tần, Phật Đà Da Xá, Trúc
Phật Niệm cùng dịch. ĐKT 1. Tập I, tr. 1f.
Khởi
thế nhân bản kinh, 10 quyển, đời Tùy, Đạt Mạ Cấp Đa,
dịch. ĐTK 25. Tập I tr. 365f.
Bi
hoa kinh, 60 quyển, đời Bắc Lương, Đàm Vô Sấm dịch. ĐTK
157. Tập III tr.167f.
Phật
bản hạnh tập kinh, 60 quyển, đời Tùy, Xà Na Quật Đa dịch.
ĐTK 190. Tập III tr. 655f.
Bách
dụ kinh, 4 quyển, Tăng Già Tư Na soạn; đời Tiêu Tề, Cầu
Na Tỳ Địa dịch. ĐTK 209. Tập IV, tr. 543f.
Kim
cang bát nhã ba la mật kinh, 1 quyển, đời Diêu Tần, Cưu Ma
La Thập dịch. ĐTK 235. Tập VIII, tr.748f.
Phật
thuyết nhân vương bát nhã ba la mật kinh, 2 quyển, đời Diêu
Tần, Cưu Ma La Thập dịch. ĐTK 245 Tập VIII, tr.825. Tham
chiếu, ĐTK 246.
Nhân
vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh, 2 quyển, Bất Không
dịch. ĐTK 246. Tập VIII, tr. 834f. Tham chiếu, ĐTK. 246.
Diệu
pháp liên hoa kinh, 7 quyển, đời Diêu Tần, Cưu Ma La Thập
dịch. ĐTK. 262. Tập IX, tr.1f.
Đại
thừa phương quảng tổng trì kinh, 1 quyển, đời Tùy, Tỳ
Ni Đa Lưu Chi dịch. ĐTK. 275. Tập IX, tr. 379f.
Đại
phương quảng Phật hoa nghiêm kinh, 80 quyển, đời Đường,
Thật Xoa Nan Đà dịch. ĐTK. 279. Tập X, tr.1f.
Phật
thuyết quán vô lượng thọ Phật kinh, đời Lưu Tống, Cương
Lương Da Xá dịch. ĐTK. 365. Tập XII, tr 340f.
Phật
thuyết Tượng đầu tinh xá kinh, 1 quyển đời Tùy, Tỳ Ni
Đa Lưu Chi dịch. ĐTK 466. Tập XIV, tr. 487
Duy
Ma Cật sở thuyết kinh, 3 quyển, đời Diêu Tần, Cưu Ma La
Thập dịch. ĐTK. 475. Tập XIV, tr. 537f.
Bồ
tát niệm Phật tam muội kinh, 5 quyển, đời Lưu Tống, Công
Đức Trực dịch. ĐTK. 414. Tập XIII, tr. 793f.
Kim
Quang Minh kinh, 4 quyển, đời Bắc Lương, Đàm Vô Sấm dịch.
ĐTK.663. Tập XVI, tr.335f.
Lăng
già a bạt đà la bảo kinh, 4 quyển, đời Lưu Tống, Cầu Na
Bạt Đa La dịch. ĐTK. 670. Tập XVI, tr. 480f.
Đại
phương quảng viên giác tu đa la liễu nghĩa kinh, 1 quyển, đời
Đường, Phật Đa La dịch. ĐTK. 842. Tập XVIII, tr. 913f.
Hoa
nghiêm kinh tâm đà la ni, 1 quyển, không rõ dịch giả (phỏng
đời Đường). ĐTK. 1021. Tập XIX, tr. 709f.
Thiên
thủ thiên nhãn Quán Thế Âm bồ tát quảng đại viên mãn
vô ngại đại bi tâm đà la ni kinh, 1 quyển, đời Đường,
Già Phạm Đạt Mạ dịch. ĐTK.1060. Tập XX, tr. 106f.
Di
sa tắc bộ hòa hê ngũ phần luật, 30 quyển, đời Lưu Tống,
Phật Đà Thập và Trúc Đạo Sinh cùng dịch, ĐTK.1421.
Tập XXII, tr.1f.
Tứ
phần luật, 60 quyển, đời Diêu Tần, Phật Đà Da Xá và Trúc
Phật Niệm cùng dịch. ĐTK.1428. Tập XXII, tr.567f.
Thập
tụng luật, 61 quyển, đời Hậu Tần, Phất Nhã Đa La và La
Thập cùng dịch. ĐTK.1435. Tập XXIII, tr.1f.
Phạm
võng kinh, 2 quyển, đời Hậu Tần, Cưu Ma La Thập dịch. ĐTK.1484.
Tập XXIV, tr. 997f.
Đại
trí độ luận, 100 quyển, Long Thọ Bồ Tát viết, đời Hậu
Tần, Cưu Ma La Thập dịch. ĐTK.1509. Tập XXV, tr.57f.
A tỳ
đạt mạ câu xá luận, 30 quyển, tôn giả Thế Thân viết,
đời Đường, Huyền Tráng dịch. ĐTK.1558. Tập XXIX, tr.
1f.
Bách
luận, 2 quyển, Đề Bà bồ tát viết, Bà Tẩu Khai Sĩ thích,
đời Diêu Tần, Cưu Ma La Thập dịch. ĐTK.1569. Tập XXX,
tr. 159f.
Du
gìà sư địa luận, 100 quyển, Di Lặc Bồ Tát thuyết, đời
Đường, Huyền Trang dịch. ĐTK.1579. Tập XXXI, tr.883f.
Đại
thừa nghĩa chương, 26 quyển, đời Tùy, Huệ Viễn soạn. ĐTK.1851.
Tập XLIV, tr.465f.
Vũ
châu Tào Sơn Nguyên Chứng thiền sư ngữ lục, 1 quyển, Nhật
Bản, Huệ Ấn hiệu đính. ĐTK.1987A. Tập XLVII, tr. 526f.
Vũ
châu Tào Sơn Bản Tịch thiền sư ngữ lục, Nhật Bản, Huyền
Khế biên. ĐTK.1987B. Tập XLVII, tr. 535f.
Viên
châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch thiền sư ngữ lục, 1 quyển, đời
Minh, Ngữ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chi biên. ĐTK.1990. Tập
XLVII, tr. 582f.
Minh
Giác thiền sư ngữ lục, 6 quyển, đời Tống, Duy Cái Trúc
biên. ĐTK.1996. Tập XLVII, tr. 669f.
Phật
Quả Viên Ngộ thiền sư bích nham lục, 10 quyển, đời Tống,
Trùng Hiển tụng cổ, Khắc Cần bình xướng. ĐTK.2003. Tập
LVIII, tr. 139f.
Vô
môn quan, đời Tống, Tông Thiệu biên. ĐTK.2005. Tập XLVIII,
tr. 292f.
Nhân
thiên nhãn mục, 6 quyển, đời Tống, Trí Chiêu tập. ĐTK.2006.
Tập XLVIII, tr. 300f.
Nam
tông đốn giáo tối thượng đại thừa ma ha bát nhã ba la
mật kinh Lục Tổ Huệ Năng đại sư Thiều châu Đại phạm
tự thi pháp bảo đàn kinh, 1 quyển đời Đường, Pháp Hải
tập. ĐTK.2007. Tập XLVIII, tr. 337f. Gọi tắt là Nam tông đàn
kinh.
Lục
Tổ đại sư pháp bảo đàn kinh, 1 quyển, đơiẵ Nguyên, Tông
Bảo biên. ĐTK.2008. Tập XLVIII, tr. 345f.
Tín
tâm minh, 1 quyển đời Tùy, Tăng Xán viết. ĐTK.2001. Tập
LVIII, tr. 376f.
Vĩnh
gia chứng đạo ca, 1 quyển, đời Đường, Huyền Giác soạn.
ĐTK.2014. Tập XLVIII, tr. 395f.
Lịch
đại tam bảo kỷ, 15 quyển, đời Tùy, Phí Trường Phòng soạn.
ĐTK.2034. Tập XLIX, tr.22f.
Phật
tổ lịch đại thông tải, 22 quyển, đời Nguyên, Niệm Thường
soạn. ĐTK.2036. Tập XLIX, tr. 477f.
Thích
thị kê cổ lược, 4 quyển, đời Nguyên Giác Ngạn biên. ĐTK.2037.
Tập XLI X, tr.737f.
Phú
pháp tạng nhân duyên truyện, 6 quyển, đời Nguyên Ngụy, Cắt
Ca Dạ và Đàm Diệu dịch. ĐTK. 2058. Tập L, tr. 297f.
Cao
tăng truyện, 14 quyển, đời Lương, Huệ Hạo soạn. ĐTK.2059.
Tập L, tr. 322f.
Tục
cao tăng truyện, 30 quyển, đời Đường, Đạo Tuyên soạn.
ĐTK.2060. Tập L, tr. 425f.
Lịch
đại pháp bảo ký, 1 quyển, không rõ tác giả. ĐTK. 2075. Tập
LI, tr. 1797.
Cảnh
đức Truyền đăng lục, 30 quyển, đời Tống, Đạo Nguyên
soạn. ĐTK. 2076. Tập LI, tr. 196f.
Tục
Truyền đăng lục, 36 quyển, khuyết danh. ĐTK. 2077. Tập
LI, tr. 496f
Hoằng
minh tập, 14 quyển, đời Lương, Tăng Hựu soạn. ĐTK. 2102.
Tập LII, tr.1f.
Quảng
hoằng minh tập 30 quyển, đời Đường, Đạo Tuyên soạn.
ĐTK. 2103. Tập LII, tr. 97f.
Đại
Tống tăng sử lược, 3 quyển, đời Tống Tán Ninh soạn. ĐTK.
2126. Tập LIV, tr. 234f.
Thích
thị yếu lãm, 3 quyển, đời Tống, Đạo Thành tập. ĐTK.
2127. Tập LIV, tr. 257f.
Xuất
tam tạng ký tập, 15 quyển, đời Lương, Tăng Hựu soạn. ĐTK.
2145. Tập LV, tr.1f.
Đại
đường nội điển lục, 10 quyển đời Đường Đạo Tuyên
soạn. ĐTK. 2149. Tập LV, tr. 219f.
Khai
nguyên Thích giáo lục, 20 quyển, đời Đường, Trí Thăng soạn.
ĐTK. 2154. Tập LV, tr. 477f.
B.
TỤC TẠNG KINH
Bản
chữ Vạn. Trung Quốc Phật giáo hội ảnh ấn Vạn tục tạng
kinh ủy viên hội. Viết tắt là TcT đánh số theo số tập,
ký hiệu là Vạn.
Pháp
hoa thông nghĩa, 7 quyển, đời Minh, Đức Thanh thuật. TcT 509
Vạn 49
Ma
ha chỉ quán nghĩa lệ toản yếu, 6 quyển, đời Tống, Tùng
Nghĩa soạn. TcT 915 Vạn 99.
Tứ
giáo nghi tập giải, 3 quyển, đời Tống, Tùng Nghĩa soạn.
TcT 970. Vạn 102.
Tổ
đình sự uyển, 8 quyển, đời Tống, Thiện Khanh biên chính.
TcT 1246. Vạn 113.
Liêu
đăng hội yếu, 30 quyển, đời Tống, Ngộ Minh tập. TcT 1528.
Vạn 136.
Đại
Quang Minh tạng, 3 quyển, đời Tống, Bảo Đàm thuật. TcT 1534.
Vạn 137.
Ngũ
đăng hội nguyên, 20 quyển, đời Tống, Phổ Tế tập. TcT
1536. Vạn 138.
Ngũ
đăng nghiêm thống, 25 quyển, đời Minh, Thông Dung tập. TcT
1538. Vạn 139.
Chỉ
nguyệt lục, 32 quyển, đời Minh, Cù Nhữ Tắc tập. TcT 1550.
Vạn 143.
C.
TỨ BỘ BỊ YẾU
Trân
phỏng Tống bản, Trung Hoa thư cục ấn hành. Đài Loan, 1965.
Toàn bộ 610 quyển, không ghi số mục. Dẫn chứng theo danh
mục riêng của mỗi tác phẩm. Liệt kê dưới đây ghi theo
bộ loại.
Chu
dịch, 10 quyển, đời Ngụy, Vương Bật, đời Tấn, Hàn Bá
chú. Kinh bộ: Thập tam kinh cổ chú.
Luận
ngữ hà thị tập giản, 20 quyển, đời Ngụy, Hà Yển tập
giải. Kinh bộ: Thập tam kinh cổ chú.
Sử
ký, 130 quyển, đời Hán, Tư Mã Thiên soạn. Sử bộ: Nhị
thập tứ sử.
Hán
thư, 120 quyển, Hậu Hán, Ban Cố soạn. Sử bộ: Nhị thập
tứ sử.
Hậu
Hán thư, 120 quyển, đời Lưu Tống, Phạm Việp soạn. Sử
bộ: Nhị thập tứ sử.
Tam
quốc chí, 65 quyển, đời Tấn, Trần Thọ soạn. Sử bộ:
Nhị thập tứ sử.
Tấn
thư, 130 quyển, đời Đường, Phòng Huyền Linh phụng sắc
soạn. Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Lương
thư, 56 quyển, đời Đường, Dao Tư Liêm phụng sắc soạn.
Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Tùy
thư, 85 quyển, đời Đường Ngụy Trung phụng sắc soạn. Sử
bộ: Nhị thập tứ sử.
Cựu
đường thư, 200 quyển, Hậu Tấn, Lưu Hú phụng sắc soạn.
Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Tân
đường thư, 225 quyển, đời Tống, Âu Dương Tu phụng sắc
soạn. Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Tống
sử, 496 quyển, Thác Khắc soạn. Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Nguyên
sử, 210 quyển, Tống Liêm soạn. Sử bộ: Nhị thập tứ sử.
Chiến
quốc sách, 33 quyển, Hậu Hán, Cao Dụ chú. Sử bộ: Cổ sử.
Hàn
phi tử, 20 quyển, đời Chiến quốc, Hàn Phi soạn. Tử bộ:
Chu Tần chư tử.
Lã
thị xuân thu, 26 quyển, đời Chiến Quốc, Lã Bất Vi, tân
khách soạn. Tử bộ: Chu Tần chư tử.
Lão
Tử Đạo đức kinh, 29 quyển, đời Ngụy, Vương Bật chú.
Tử bộ: Chu Tần chư tử.
Trang
Tử nam hoa kinh, 10 quyển, đời Tấn, Quách Tượng chú. Tử
bộ: Chu Tần chư tử.
Bạch
Thạch đạo nhân thi tập ca khúc, thi tập, 2 quyển, tập ngoại
thi 1 quyển, ca khúc 4 quyển, biệt tập 1 quyển, đời Tống,
Khương Quỳ soạn tập. Tập bộ: Tống biệt tập.
Tuyệt
diệu hảo từ tiêm, 7 quyển, đời Tống, Chu Mật biên tập;
đời Thanh, Tra Vi Nhân tiên chú. Tập bộ: Tổng tập.
Từ
tổng, 38 quyển, đời Thanh, Chu Di Tôn biên tập. Tập bộ:
Tổng tập.
Tống
lục thập danh gia từ, 89 quyển, đời Minh, Mao Tấn biên tập.
Tập bộ: Tổng tập.
Từ
luật, 20 quyển, đời Thanh, Vạn Thọ biên tập. Tập bộ:
Thi văn bình.
D.
NHỮNG TẬP TRUNG QUỐC KHÁC
Bảo
phác tử, 8 quyển, đời Tấn, Cát Hồng soạn. Bản in đời
Thanh.
Độc
sử phương dư kỷ yếu, 130 quyển, đời Thanh, Cố Tổ Vũ
soạn. Bản in đời Thanh.
Lâm
gian lục, 3 quyển, đời Tống, Thích Đức Hồng, bản in đời
Minh, 1584.
Lĩnh
ngoại đại đáp, 15 quyển, đời Tống, Chu Khứ Phi soạn.
Bản in Tri bất túc trai tòng thư; Nghiêm Nhất Bình ảnh ấn,
Bách bộ tòng thư tập thành, Đài bắc, từ 1960.
Mộng
khê bút đàm, 26 quyển, đời Tống, Thẩm Quát soạn. Bản
in Học tân thảo nguyên tòng thư; Nghiêm Nhất Bình ảnh ấn,
Bách bộ tùng thư tập thành, Đài Bắc, từ 1960.
Nguyên
hòa quận huyện đồ chí, 40 quyển, đời Đường, Lý Cật
Phủ. Bản in Vũ anh điện tụ trân bản tòng thư, Nghiêm Nhất
Bình, ảnh ấn, Bách bộ Đại Việt sử ký toàn thư tập thành,
Đài bắc, từ 1960.
Thái
Bình hoàn vũ ký, 193 quyển, đời Tống, Nhạc Sử soạn. Bản
in đời Thanh.
Thái
Bình quảng ký, 500 quyển, đời Tống, Lý Phưởng. Bản in
đời Thanh.
Thông
điển, 200 quyển, đời Đường, Đỗ Hựu soạn. Hồng bản
thư cục thạch ấn, Quang Tự 26 (1900).
Toàn
đường thi, 900 quyển, đời Thanh Khang Hy sắc biên, Bành Định
Cầu chủ biên, Vương Toàn hiệu điểm. Trung hoa thư cục xuất
bản, Bắc kinh, 1960.
Toàn
đường văn, 1000 quyển, Thanh Gia Khánh sắc biên, Đỗng Cật
chủ biên. Bản chép tay, ảnh ấn, Đài bắc, 1960- 1963.
Tống
hội yếu (chấp cảo), 460 quyển, đời Thanh, Từ Tùng
biên tập. Bắc Bình đồ thư quán, ảnh ấn, 1935.
Tục
tư trị thông giám trường biên, 520 quyển, đời Tống, Lý
Đào biên. Bản in Đàm Chung Lân năm 1881, Dương Gia Lạc ảnh
ấn, Thế giới thư cục xuất bản, Đài bắc, 1962.
Văn
uyển anh hoa, 1000 quyển, đời Tống, Lý Phưởng phụng sắc
biên. Bản in đời Minh (1566) Trung Hoa thư cục ảnh ấn. Bắc
Kinh, 1966.
E
. SỬ LIỆU VIỆT NAM
An
nam chí lược, 19 quyển, Lê Thực soạn. Hiệu bản, Viện Đại
học Huế, Huế, 1961.
An
nam chí nguyên, 3 quyển, Hiệu bản của Gaspardone, Trường Viễn
đông bác cổ, Hà Nội, 1934.
Bắc
thành dư điạ chí lục, 4 quyển, Nguyễn Đông Khê. Bản chép
tay của Trường Viễn đông bác cổ. Ảnh ấn, Sài gòn, 1969.
Đại
nam nhất thống chí, 1. Phần Trung bộ, 17 quyển; bản in của
Cao Xuân Dục, Duy Tân 3 (1909). 2. Phần Bắc bộ, 14 quyển; bản
chép tay của Đông dương văn khố. Ảnh ấn, Sài Gòn, 1966-1970.
Đại
việt lịch triều đăng khoa lục, 3 quyển, Nguyễn Hoàn và
nhiều người. Bản chép tay, không ghi năm.
Đại
Việt sử ký toàn thư, 19 quyển, Ngô Sĩ Liên. Bản in Quốc
tử giám đời Nguyễn. Vi phim của Trường Viễn đông bác
cổ. A.54.
Đại
Việt sử lược, 3 quyển, Bản in Thủ sơn các tùng thư, 1848.
Đại
Việt thông sử, 3 quyển, Lê Quý Đôn. Bản chép tay, Trường
Viễn đông bác cổ. Ảnh ấn, Sài Gòn, 1973.
Đạo
giáo nguyên lưu, 3 quyển, An Thiền soạn. bản in năm 1847.
Hồng
đức bản đồ, bản in Sài Gòn, 1962.
Khâm
định Việt sử thông giám cương mục, 50 quyển, Bản in Quốc
tử giám đời Nguyễn, Hoàng Quí Lục ảnh ấn, Quốc ttập
Trung Anh đồ thư quán xuất bản, Đài bắc, 1969.
Kiến
văn tiểu lục, 12 quyển (thiếu quyển ba), Lê Quí Đôn soạn.
Bản chép tay, vi phim Trường Viễn đông bác cổ, A.312.
Lịch
triều hiến chương loại chí, 49 quyển, Phan Huy Chú soạn.
Phần “dư địa chí”, (quyển 1-5) dùng theo bản chép tay
của Chi nhánh Văn khố Đà lạt, số 3064-3065 MC; ảnh ấn Sài
Gòn, 1971. Phần “Văn tịch chí” (quyển 42-45), bản chép
tay của Trần Trọng Tuy, Thủ bản Trường Viễn đông bác
cổ.
Lĩnh
nam chích quái truyện, 3 quyển, Trần Thế Pháp. Bản in của
Viễn đông học viện Pháp, do Học sinh thư cục của Đài
loan ấn hành, 1992.
Nam
ông mộng lục, 1 quyển, Lê Trừng soạn. Bản in, Hàm Phần
Lâu tùng thư, Thượng hải, 1930.
Phương
đình dư địa chí, 5 quyển, Nguyễn Siêu. Bản chép tay, không
ghi năm.
Tả
ao địa lý chân truyền, Tả Ao soạn. bản chép tay, không ghi
năm.
Tam
tổ thực lục, Tính Quảng và Hải Lượng biên tập. Việt
Nam Phật Điển Tùng San, Hà Nội, 1943.
Tang
thương ngẫu lục, 2 quyển, Phạm Đình Hổ . Bản chép tay,
không ghi năm.
Tây
hồ chí, không rõ tác giả (soạn khoảng thời Tự Đức).
Bản chép tay, không ghi năm.
Thánh
đăng lục, không rõ tác giả. Bản in không ghi năm (nghi là
đời Mạc).
Thích
song tổ ấn, Thích Tịnh Hạnh viết. Bản in chùa Thiền lâm,
Phan Thiết, 1924.
Thiền
uyển kế đăng lục, Như Sơn soạn. An Thiền tăng bổ. Việt
Nam Phật điển tùng san. Hà Nội, 1943.
Thượng
sĩ ngữ lục, Tuệ Trung thượng sĩ. Việt Nam Phật điển tùng
san. Hà Nội, 1943.
Ức
trai di tập, 10 quyển, Nguyễn Trãi. Bản in Ngô Thế Vinh năm
1868. Ảnh ấn, Sài Gòn, 1972.
Việt
điện u linh tập, 1 quyển, Lý Tế Xuyên. Bản in của Viễn
đông học viện Pháp, do Học sinh thư cục của Đài loan ấn
hành, 1992
Việt
sử tiêu án, 2 quyển, Ngô Thì Sĩ. Thủ bản, vi phim của Trường
Viễn Đông Bác Cổ, A.265.
Ải,
283, 555
Ái
Châu, 94, 286, 313, 500, 545, 563, 649
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam dès origines jusqu’au Xllle
siècle, BEFEO XXXII (1932) 191-286.
[2]
Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm II, Hà Nội: NXB Khoa
học xã hội, 1990, tr. 217.
[3]
E. Gaspardone, Bibliographie Annamite, BEFEO XXXIV (1934) 1-173.
[4]
Viện nghiên cứu Hán Nôm, Di sản Hán Nôm Việt Nam, Hà Nội:
NXB Khoa học xã hội, 1993, tr. 242-243.
[5][5]
Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam dès origines jusqu’au
XIIIe siècle, BEFEO XXXII (1932) 191-268
[6]
Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam, Tu viện Chân Không xuất bản,
Sài Gòn: 1973, tr. 11-195 phỏng dịch đủ thiền sư cả hai phái
Pháp Vân và Kiến Sơ; Khánh Vân Nguyễn Thụy Hòa, Tiểu truyện
các thiền sư Việt Nam (phái Vô Ngôn Thông), Sài Gòn: 1974,
chỉ dịch lướt phần đầu của phái Vô Ngôn Thông. Ông Nguyễn
Đổng Chi có cho tôi hay vào khoảng 1938 Nguyễn Trọng Thuật
có dịch Thiền uyển tập anh đăng trong báo Đuốc Tuệ, nhưng
cũng chỉ dịch lướt. Tôi chưa có dịp thấy bản dịch ấy.
[7]
E. Gaspardone, Bibliographie annamite, BEFEO XXXIV (1934) 1-173.
[8]
Trần Văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam dès origines jusqu’au XIIIe
siècle, BEFEO XXXII (1932) 191-268.
[9]
Đặng Minh Khiêm, Việt giám vịnh sử thi tập (VHv.1506), có
lời tựa viết năm Quang Thiệu thứ 5 (1520) nói rằng: “Trong
khoảng năm Hồng Thuận (1516), tôi vào làm việc tại sử quán,
thường trộm có ý muốn thuật việc xưa, chỉ hiềm sách
vở chứa ở bí thư các, lắm lần trãi qua binh hỏa, nên đã
bị khuyết mất nhiều. Tôi chỉ thấy những tập còn nguyên
của Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên, Đại Việt
sử ký do Phan Phù Tiên, Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên,
Lĩnh nam chích quái lục do Trần Thế Pháp mà thôi”.
[10]
Ngan-Nan Tche Yuan, E. Gaspardone in, Hà Nội: Imprimerie d’Etrême-Orient,
1932.
1 Lê
Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận
Hóa, 1999, tr. 155-156.
[11]
Lê Mạnh Thát, Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Tp. Hồ Chí Minh:
NXB Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr. 120-121.
[12]
Trần văn Giáp, Le Boudhisme en Annam dès origines aux XIIIè siècle,
BEFEO XXXII (1932), 7
([13])
E. Gaspardone, Bibliographie annamite, BEFEO XXXIV (1934), no. 144
([14])
Số tờ của hai bản Lê I và Lê II đều giống nhau.
[15]
Các trấn tổng xã danh bị lãm, A.570, ½.
[16]
Chẳng hạn, về truyền thừa Khương Tăng Hội, bản chép tay
này thêm thắt mấy chữ “Khương Tăng Hội chi nhân”, khiến
hầu hết những người dịch và viết về Thiền uyển tập
anh dựa trên bản này, đều tin là Khương Tăng Hội có dòng
thiền truyền đến đời Lý. Xem Thích Thanh Từ, Thiền sư
Việt nam, Tu viện Chơn không, 1973, tr. 98; Nhất Hạnh, Thiền
sư Tăng Hội, NXB Lá Bối, tr. 11; Ngô Đức Thọ, Thiền uyển
tập anh, Hà Nội, NXB Văn học, 1990, tr. 90.
([17])
Hoàng Xuân Hãn, Đại Nam quốc sử diễn ca. Saigon: Trường
thi, 1957.
[18]
E. Gaspardone, Bibligraphie Annamite, BEFFO XXXIV (1934) 144
[19]
Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Sài Gòn: Tu thư Đại học
Vạn Hạnh, 1966, tr. 422 và 432.
* Truyền
đăng gọi Bất Ngữ Thông
* Nay
là chùa Kiến Sơ ở Phù Đổng
[20]
Một tên nữa là Chủ Phong
[21]
Trước tên là Chân Lưu
[22]
Có nơi nói thọ 79 tuổi
[23]
Thái hậu đã từng có bài kệ ngộ đạo rằng:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc không đều không bận
Mới hiểu được chân tông
[24]
Vị sư này không có niên đại có thể tra cứu, nay dựa theo
thứ tự truyền pháp trong Nam tông đồ mà mô tả ra đây.
[25]
Trước tên Thiền Trí
[26]
Có chỗ chép chùa Quốc Thanh phủ Ngệ An
[27]
Truyện này đại khái cùng với Quốc sử và Bia văn không
giống, nay xin khảo chính lại.
[28]
Truyện này với truyện của Huệ Tư trong Truyền đăng đại
khái giống nhau. Nay căn cứ vào những gì do Liệt tổ yếu
nghĩa của Huệ Nhật chép lại.
[29]
Ẩn Không trước ở tại huyện Na Ngạn của Lạng Châu, nên
thời bấy giờ gọi là Na Nạn đại sư.
[30]
Một tên là Tĩnh Lự
[31]
Lại tự ngu tập nói Sư mất không biết ở đâu.
[32]
Việc này nói rõ trong truyện của thiền sư Thông Biện
[33]
Tên cũ là Diên Uẩn
[34]
Sau Cao Biền của nhà Đường đến trấn yểm. Quả đúng.
[35]
Tên cũ là Ma Ha Ma Gia
[36]
Xưa gọi là Đà phan
[37]
Nam tông đồ nói pháp tự của Nam Dương, ấy làm lầm
[38]
Về chuyện mộ Đại vương Hiển Khánh thì ban đêm thường
vào lúc Sư thiền định, bốn phía mộ đều có tiếng.
Tiếng
phía đông nói:
Khánh vạn trường nham với Quế phong
Ruột dê, rồng thế, phụ nhau vờn
Triều
tông, Đông Liệt ba trăm thế
Khuyển tuất tới đây nhắm Thiên bồng (16).
Tiếng
phía nam nói:
Nam hướng Phù Ninh thần giữ nhà
Đời tươi trai gái lắm người ra
Thiên Đức giàu sang đầy nhà cửa
Bát vạn gặp Nữ thường xuất vua (17).
Tiếng
phía tây nói:
Trông tây xa ngóng ngó Thiên Trụ
Trai gái đời cao thượng tướng thủ
Thiên
Đức giàu sang cùng thế mãi
Thọ mạng quân vương chín chín đủ (18).
Tiếng
phía bắc nói:
Chính bắc Phù Cầm đối Bạch hổ
Yên vui trai gái thường không khổ
Sống lâu Thiên Đức sướng đời đời
Thế thế quân vương cầu Lục Tổ (19).
Sư
sai người chép lấy rồi ghi lại mốc giới của ngôi mộ
để Sư đến xem. Bèn nói bài kệ rằng:
Đông có Vũ long xóm
Nam có Vũ long bờ
Tây có quán Rừng hạc
Bắc có Trấn hải hồ (20)
Chặng
lâu Sư lại nói:
Chỉ
trong ba tháng thôi
Thân vệ lên đỡ xã tắc
Lạc trà ấn có chữ Quốc
Mười khẩu xuống nước đất (21)
Gặp thánh gọi Thiên Đức.
Sau
vua cải Cổ Pháp làm Thiên Đức (22) ấy bởi đúng lời Sư
vậy. Còn những chuyện xảy ra ở các chùa thì đều lấy
ra từ Quốc sử, nên đây không chép chúng.
[39]
Cứ Nam Tông tự pháp đồ thì nói là tự của Vạn Hạnh.
Sợ e sai. Nay y theo bản truyện.
[40]
Xét Quốc sử thì năm Hội Tường Đại Khánh thứ 8 (1117),
con của các hầu Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành
Chiến, Thành Hưng được đón vào cung nuôi dạy. Con của Sùng
Hiền hầu tuổi mới lên 2, vua rất thương yêu, bèn lập làm
Thái tử. Tháng 12 mùa đông năm Thiên Phù Khánh Thọ thứ nhất
(1127) vua băng, Thái tử lên ngôi, xuân thu 21 tuổi, ở ngôi
thêm 11 năm, thụy là Thần Tông, tức là Sư vậy. Giác Hoàng
có người nói là Đại Điên vậy. (22) (23)
[41]
Trước tên là Pháp Mật.
[42]
Sử ký nói Thiên Chương Bảo Tự thứ 5 (1135) thị tịch. Nay
hai thuyết vẫn còn.
[43]
Một tên là Tĩnh Lự
[44]
Tuyền tông phái của Tuyết Đậu Minh Giác
[45]
Ba vị trên đều kế thừa thiền sư Thảo Đường
[46]
Thừa kế Hoàng đế Thánh Tông.
[47]
Kế thừa thiền sư Bát Nhã.
[48]
Tức Giác Hải, hai vị trên đều kế thừa Ngộ Xá,bản truyện
của họ dựa theo Nam tông đồ, đều đặt vào phái Kiến
Sơ
[49]
Kế thừa Tham Chánh hoặc có nơi nói kế thừa Định Giác.
[50]
Kế thừa Thiệu Minh
[51]
Hai vị trên thừa kế Không Lộ hoặc có nơi nói kế thừa
Định Giác.
[52]
Thừa kế Phạm Âm có nơi nói thừa kế Không Lộ, hoặc có
nơi nói thừa kế Định Giác.
[53]
Ba vị trên đều thừa kế Đỗ Đô hoặc có nơi nói thừa
kế thiền sư Tịnh Giới, phái Kiến Sơ. (2)
[54]
Ba vị trên đều thừa kế Trương Tam Tạng.
[55]
Thừa kế Chân Huyền, hoặc lại nói thừa kế Đỗ thái phó.