CHƯƠNG
V
VĪTHIMUTTA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
Phần
không có tiến trình
I.
Bhūmi-catukka
Tóm
Lược Về Diễn Tiến Tái Sanh
1.
Vīthicittavasen'
evaṁ pavattiyam udīrito
Pavattisaṅgaho
nāma sandhiyaṁ' dāni vuccati.
2.
Catasso
bhūmiyo, Catubbidhā paṭisandhi, Cattāri kammāni, Catuddhā maraṇuppatti
c'āti vīthimutta- saṅgahe cattāri catukkāni veditabbāni.
Tattha
apāyabhūmi, kāmasugatibhūmi, rūpāvacara- bhūmi, arūpāvacarabhūmi
c'āti catasso bhūmiyo nāma.
Tāsu
Nirayo, Tiracchānayoni, Pettivisayo, Asurakāyo c'āti apāyabhūmi catubbidhā
hoti.
Manussā,
Cātummahārājikā, Tāvatimsā, Yāmā, Tusitā, Nimmāṇarati, Paranimmitavasavattī
c'āti Kāmasugati bhūmi sattavidhā hoti.
Sā
pan'āyam ekādasavidhā' pi kāmāvacara-bhūmicc' eva saṅkhaṁ gacchati.
Brahmapārisajjā,
Brahmapurohitā, Mahābrahmā c'āti paṭhamajjhānabhūmi.
Parittābhā,
Appamāṇābhā, Ābhassarā c'āti dutiyajjhānabhūmi.
Parittasubhā,
Appamāṇasubhā, Subhakiṇṇā c'āti tatiyajjhānabhūmi.
Vehapphalā,
Asaññasattā, Suddhāvāsā c'āti catutthajjhānabhūmī'ti Rūpāvacarabhūmi
soḷasa- vidhā hoti.
Avihā,
Atappā, Suddassī, Suddassā Akanitthā c'āti Suddhāvāsabhūmi pañcavidhā
hoti.
Ākāsānañcāyatanabhūmi,
Viññāṇañcāyatanabhūmi, Ākiñcaññāyatanabhūmi, N'evasaññā
Nāsaññā- yatanabhūmi c'āti Arūpabhūmi catubbidhā hoti.
3.
Puthujjanā
na labbhanti suddhāvāsesu sabbathā
Sotāpannā
ca sakadāgāmino c'āpi puggalā.
Ariyā
n'opalabbhanti asaññāpāyabhūmisu
Sesaṭṭhānesu
labbhanti Ariyā'nariyā pi ca.
Idam'
ettha Bhūmi-Catukkaṁ.
§1.
Như vậy, theo những tiến trình tâm, diễn tiến của đời
sống (từ sanh đến tử) đã được giải thích. Giờ đây
tóm tắt đề cập đến diễn tiến lúc tái sanh.
§2.
Trong tóm lược của tâm ngoài tiến trình có bốn nhóm, phải
được hiểu như sau:
i.
Bốn cảnh giới sinh tồn (1);
ii.
Bốn phương cách tái sanh;
iii.
Bốn loại nghiệp;
iv.
Bốn diễn tiến của hiện tượng chết.
Bốn
cảnh giới sinh tồn là:
1.
Cảnh bất hạnh (2);
2.
Cảnh hữu phúc của Dục Giới (3);
3.
Cảnh Sắc Giới (4);
4.
Cảnh Vô Sắc Giới (5).
Trong
bốn cảnh giới sinh tồn nầy,
Cảnh
bất hạnh có bốn là: cảnh khổ (địa ngục) (6), cảnh thú
(7), cảnh ngạ quỷ (8), và cảnh a-tu-la (9).
Cảnh
hữu phúc của Dục Giới có bảy là: cảnh người (10), cảnh
Tứ Ðại Thiên (11), cảnh Tam Thập Tam Thiên (12), cảnh Dạ
Ma Thiên (13), cảnh Ðấu Xuất Ðà Thiên (14), cảnh Hoá Lạc
Thiên (15), cảnh Tha Hóa Tự Tại Thiên (16).
Mười
một cảnh sinh tồn nầy hợp thành Dục Giới.
Cảnh
Sắc Giới có mười sáu là:
i.
Cảnh Sơ Thiền, tức Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, và
Ðại Phạm Thiên (17);
ii.
Cảnh Nhị Thiền, tức Thiều Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên,
và Quang Âm Thiên;
iii.
Cảnh Tam Thiền, tức Thiền Tịnh Thiên, Vô Lượng Tịnh Thiên,
Biến Tịnh Thiên;
iv.
Cảnh Tứ Thiền, tức Quảng Quả Thiên, Vô Tưởng Thiên (18),
và Phước Sanh Thiên (19).
Cảnh
Phước Sanh Thiên chia làm năm phần là: Vô Phiền Thiên, Vô
Nhiệt Thiên, Thiện Hiện Thiên, Thiện Kiến Thiên, Sắc Cứu
Cánh Thiên.
Cảnh
Vô Sắc Giới (20) có bốn là:
i.
Không Vô Biên Xứ Thiên;
ii.
Thức Vô Biên Xứ Thiên;
iii.
Vô Sở Hữu Xứ Thiên;
iv.
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên.
§3.
Trong mọi trường hợp, các bậc Nhất Lai [1], Dự Lưu và hạng
phàm nhân không tái sanh vào cảnh Phước Sanh Thiên (Suddhāsā),
cũng gọi là Ngũ Tịnh Cư.
Trên
đây là bốn cảnh giới sinh tồn.
Ghi
chú:
[1]
Xem chương I.
Chú
Giải
1.
Bhūmi, Cảnh Giới.
Xuất
nguyên từ căn "bhū", theo nghĩa đen là một nơi có chúng sanh
sinh sống.
Theo
Phật Giáo, quả địa cầu chỉ là một điểm nhỏ không đáng
kể trong vũ trụ bao la, không phải là thế gian duy nhất có
sanh linh. Con người cũng không phải là chúng sanh duy nhất.
Hệ thống tinh tú vô cùng tận, mà số chúng sanh cũng vô cùng
tận. "Thai bào cũng không phải là con đường tái sanh duy nhất".
"Bằng cách đi xuyên qua, chúng ta không thể vượt đến mức
tận cùng của thế gian", Ðức Phật dạy như vậy.
2.
Apāya, Cảnh Bất Hạnh.
"apa"
+ "aya", cái gì không có hạnh phúc là apāya. Danh từ nầy hàm
xúc một trạng thái tinh thần, mà cũng là một cảnh giới,
một nơi sinh sống.
3.
Kāmasugatibhūmi, Cảnh Giới Có Nhiều Dục Lạc
Xem
chương I, chú giải 5.
4,
5.
Xem
chương I, chú giải 5.
6.
Niraya, Khổ Cảnh, hay Ðịa Ngục.
Theo
Phật Giáo, có nhiều cảnh đau khổ gọi là địa ngục, nơi
đó chúng sanh phải trả những nghiệp bất thiện đã tạo
trong quá khứ. Những khổ cảnh nầy không phải là địa ngục
trường cửu mà ở trong đó chúng sanh phải chịu khổ đau
vô cùng tận. Ðến lúc trả xong nghiệp xấu, chúng sanh bất
hạnh cũng có thể tái sanh vào một cảnh giới khác, an vui
hạnh phúc, nhờ các nghiệp thiện đã tạo.
7.
Tiracchāna, Cảnh Thú.
"Tiro"
là xuyên qua; "acchāna" là đi.
Loài
thú được gọi như vậy vì thông thường những con thú bốn
chân, khi đi thì thân mình nằm ngang mặt đất. Người Phật
tử tin rằng chúng sanh bị sanh vào cảnh thú vì tạo nghiệp
bất thiện. Tuy nhiên, nếu đã có tích trữ thiện nghiệp
thích nghi, từ cảnh thú chết đi, cũng có thể tái sanh trở
lại vào cảnh người.
Một
cách chính xác, phải nói rằng cái nghiệp đã biểu hiện
dưới hình thức thú có thể biểu hiện trở lại dưới hình
thức người, hay ngược lại. Cũng như luồng điện có thể
biểu hiện kế tiếp dưới nhiều hình thức như ánh sáng,
hơi nóng, động lực v.v... Như vậy, không phải động lực
phát sanh do hơi nóng, cũng không phải do ánh sáng. Cùng thế
ấy, không phải người trở thành thú, hay thú trở thành người.
Một con thú có thể sanh trưởng trong trạng thái nhàn nhã
nhờ nghiệp lành đã tích trữ từ quá khứ. Lắm khi có những
con thú, nhất là chó hay mèo, tuy vẫn mang hình thức thú, nhưng
có một kiếp sống đầy đủ tiện nghi hơn nhiều người.
Ðó cũng là do nghiệp đã tạo.
Chính
nghiệp tạo nên tính chất của sắc tướng. Hình thể như
thế nào là do hành động thiện hay bất thiện trong quá khứ.
Và một lần nữa, điều nầy hoàn toàn tùy thuộc nơi sự
hiểu biết của ta về thực tại phát triển đến mức độ
nào.
8.
Peta, Ngạ Quỷ.
"Pa"
+ "ita", theo ngữ nguyên, là những chúng sanh đã quá vãng, hay
(những chúng sanh) tuyệt đối không có hạnh phúc. Peta, ngạ
quỷ không phải ma quỷ vô hình tướng. Mặc dầu mắt thường
của con người không thể thấy những chúng sanh nầy nhưng
họ cũng có hình thể vật chất (sắc). Ngạ quỷ không có
một cảnh giới riêng biệt cho mình mà sống trong rừng bụi,
ở những nơi nhơ bẩn v.v...
9.
Asura, A-Tu-La
Ðúng
theo nghĩa đen của danh từ, là hạng chúng sanh không vui tươi
và không có những cuộc tiêu khiển giải trí.
Hạng
chúng sanh nầy phải được phân biệt với một hạng asura
khác, sống trên cung Trời Tāvatiṁsa (Tam Thập Tam Thiên) và
đối đầu với chư Thiên. (Xem chú giải 12)
10.
Manussa, Người
Ðúng
theo nghĩa đen, là hạng chúng sanh đã có nâng cao, hay phát
triển, tâm trí (mano ussannaṁ etesaṁ). Danh từ Bắc Phạn (Saṁskrt)
là Manushya, có nghĩa là con của Manu. Ðược gọi như vậy
vì con người đã trở thành văn minh tiến bộ nhờ Manu, bậc
thấy xa hiểu rộng.
Cảnh
người là một cảnh giới trong đó hạnh phúc và đau khổ
lẫn lộn. Chư vị Bồ Tát thường chọn tái sanh vào cảnh
nầy vì ở đây có nhiều hoàn cảnh thuận lợi để hành
những pháp cần thiết nhằm thành tựu Ðạo Quả Phật. Kiếp
sống cuối cùng của Bồ Tát luôn luôn ở cảnh người.
11.
Cātummahārājika, Tứ Ðại Thiên Vương.
Ðây
là cảnh Trời thấp nhất, cảnh giới của bốn vị Trời
gọi là Tứ Ðại Thiên Vương cùng với tùy tùng.
12.
Tāvatiṁsa, Ðạo Lợi, hay Tam Thập Tam Thiên.
Theo
nghĩa trắng là ba mươi ba. Sakka, vua Trời Ðế Thích, ngự
tại cảnh giới nầy. Ðược gọi như vậy vì theo một tích
chuyện, có ba mươi ba người kia do Magha lãnh đạo, tình nguyện
thực hiện nhiều công tác từ thiện. Cả ba mươi ba vị đều
tái sanh vào cảnh nầy.
13.
Yāma, Dạ Ma.
Do
căn "yam" có nghĩa là tiêu diệt. Yāma là cái gì tiêu diệt
đau khổ.
14.
Tusita, Ðấu Xuất Ðà,
là
dân cư có hạnh phúc. Những vị Bồ Tát đã thực hành tròn
đủ các pháp cần thiết để chứng đắc Ðạo Quả Phật
đều cư ngụ ở cảnh giới nầy, chờ cơ hội thích nghi để
tái sanh vào cảnh người lần cuối cùng.
15.
Nimmāṇarati, Hoá Lạc Thiên.
Cảnh
giới của những vị Trời ở trong cung điện to lớn đẹp
đẽ.
16.
Paranimmitavasavatti, Tha Hóa Tự Tại.
Danh
từ có nghĩa là những vị đem những vật mà người khác
tạo nên đặt dưới quyền điều khiển của mình.
Trên
đây là sáu cảnh Trời thuộc Dục Giới -- tất cả đều
là những cảnh giới hữu phúc nhất thời. Chúng sanh trong
cảnh nầy được mô tả là có cuộc sống hạnh phúc và hưởng
nhiều lạc thú tạm bợ. Trên những cảnh Trời Dục Giới
nầy có cảnh giới chư Phạm Thiên, những vị Trời đã từ
bỏ tham dục và đang thọ hưởng hạnh phúc của Thiền.
17.
Ðó
là ba cảnh Phạm Thiên, nơi mà những vị đã đắc Sơ Thiền
tái sanh vào. Tầng thấp nhất trong ba cảnh nầy là Phạm Chúng
Thiên, Brahma Pārisajja, có nghĩa là "những người sanh ra giữa
nhóm hầu cận của chư Ðại Phạm Thiên, Mahā Brahmas". Tầng
kế đó là Phạm Phụ Thiên, Brahma Purohita, có nghĩa là tay
chân thân cận của chư Ðại Phạm Thiên. Và cùng tột, là
cảnh Ðại Phạm Thiên, Mahā Brahma, cảnh giới của những
vị Phạm Thiên có nhiều hạnh phúc, đẹp đẽ, và tuổi thọ
nhiều hơn các vị Phạm Thiên khác, nhờ phước báu đã tạo
do pháp hành thiền.
Những
người đã phát triển Sơ Thiền ở mức độ vừa đủ, sau
khi chết tái sanh vào cảnh Phạm Thiên đầu tiên. Những vị
đã phát triển Sơ Thiền đến mức độ trung bình sẽ tái
sanh vào cảnh thứ nhì, và những vị đã hoàn toàn vững vàng
trong Sơ Thiền sẽ được tái sanh vào cảnh giới Ðại Phạm
Thiên, tầng thứ ba.
Những
cảnh giới tương ứng với Nhị Thiền và Tam Thiền cũng phải
được hiểu cùng một thế ấy.
18.
Asaññasatta, Vô Tưởng Thiên.
Cảnh
giới của những chúng sanh sanh ra không có tâm. Nơi đây chỉ
có sự biến chuyển liên tục của sắc. Thông thường thì
danh và sắc luôn luôn dính liền nhau, không thể tách rời.
Nhưng đôi khi, như trường hợp nầy, do năng lực của Thiền,
cũng có thể tách rời danh và sắc. Khi một vị A-La-Hán nhập
Diệt Thọ Tưởng Ðịnh (Nirodha Samāpatti) cũng vậy, tâm của
Ngài chấm dứt. Ðối với chúng ta, khó quan niệm được một
trạng thái tương tợ. Tuy nhiên, có rất nhiều việc không
thể quan niệm mà thật sự có.
19.
Suddhāvāsa, Phước Sanh Thiên.
Cũng
được gọi Tịnh Cư Thiên,là cảnh giới riêng biệt của
các vị A-Na-Hàm (Anāgami). Chúng sanh ở cảnh khác mà đắc
Quả Bất Lai thì tái sanh vào cảnh nầy. Về sau các vị nầy
đắc Quả A-La-Hán, sống trong "cảnh hoàn toàn tinh khiết"
ấy cho đến khi hết tuổi thọ và nhập Ðại-Niết-Bàn.
20.
Arūpabhūmi, Cảnh Vô Sắc Giới.
Xem
chương I, chú giải số 6.
Tất
cả bốn cảnh nầy đều vô sắc, không có cơ thể vật chất.
Nên
ghi nhận rằng Ðức Phật không nhằm mục đích truyền bá
một lý thuyết về vũ trụ. Dầu những cảnh trên có hiện
hữu hay không, điều ấy không ảnh hưởng gì đến giáo lý
của Ngài. Không ai bị bắt buộc phải tin một điều nào,
nếu điều ấy không thích hợp với sự suy luận của mình.
Nhưng nếu bác bỏ tất cả những gì mà lý trí hữu hạn
của chúng ta không thể quan niệm được thì điều ấy cũng
không phải hoàn toàn chánh đáng.
-ooOoo-
II.
Paṭisandhicatukkaṁ
Bốn
phương cách tái sanh
4.
Apāyapaṭisandhi,
Kāmasugatipaṭisandhi, Rūpā- vacarapaṭisandhi, Arūpāvacarapaṭisandhi
c'āti catubbidhā hoti paṭisandhi nāma.
Tattha
akusalavipāk'opekkāsahagata-santīraṇaṁ apāyabhūmiyaṁ okkantikkhaṇe
paṭisandhi hutvā tato paraṁ bhavaṅgaṁ pariyosāne cavanaṁ hutvā
vocchijjati. Ayam ekā' v' āpāyapaṭisandhi nāma.
Kusalavipāk'opekkhāsahagatasantīraṇaṁ
pana- kāmasugatiyaṁ manussānaṁ jaccandhādi hīnasattā naṁ c'eva
bhummanissitānañ ca vinipātikāsurā-nañ ca paṭisandhi bhavaṅgacutivasena
pavattati.
Mahāvipākāni
pan'attha sabbatthā' pi kāmasugati- yaṁ paṭisandhi bhavaṅgacutivasena
pavattatti.
Imā
nava kāmasugatipaṭisandhiyo nāma.
Sā
pan'āyaṁ dasavidhā' pi kāmāvacarapaṭisandhic- c'eva saṅkhaṁ
gacchati.
Tesu
catunnaṁ apāyānaṁ manussānaṁ vinipātikā- surānañ ca āyuppamāṇagaṇanāya
niyamo natthi.
Catummahārājikānaṁ
pana devānaṁ dibbāni pañcavassasatāni āyuppamāṇaṁ. Manussagaṇa-nāya
navutivassasatasahassappamāṇaṁ hoti.
Tato
catugguṇaṁ tāvatiṁsānaṁ, tato catugguṇaṁ Yāmānaṁ, tato
catugguṇaṁ Tusitānaṁ, tato catugguṇam Nimmāṇaratīnaṁ, tato
catugguṇaṁ Paranimmitavasavattīnaṁ devānaṁ āyuppamāṇaṁ.
Nava
satañ c'ekavīsa vassānaṁ koṭiyo tathā
Vassasatasahassāni
saṭṭhi ca vasavattisu.
5.
Pathamajjhānavipākaṁ
paṭhamajjhānabhūmiyaṁ paṭisandhibhavaṅgacutivasena pavattati.
Tathā
dutiyajjhānavipākaṁ tatiyajjhānavipākañ ca dutiyajjhānabhūmiyaṁ.
Catutthajjhānavipākaṁ tatiyajjhānabhūmiyaṁ. Pañcamajjhānavipākañ
ca catutthajjhānabhūmiyaṁ. Asaññasattānaṁ pana rūpam eva paṭisandhi
hoti. Tathā tato paraṁ pavattiyaṁ cavanakāle ca rūpam eva pavattitvā
nirujjhati. Imā cha rūpāvacarapaṭisandhiyo nāma.
Tesu
brahmapārisajjānaṁ devānaṁ kappassa tatiyo bhāgo āyuppamāṇaṁ.
Brahmapurohitānaṁ
upaḍḍhakappo, Mahābrahmā- naṁ eko kappo, Parittābhānaṁ dve
kappāni. Appamāṇābhānaṁ cattāri kappāni. Ābhassarāṇaṁ aṭṭha
kappāni. Parittasubhāṇaṁ soḷasa kappāni. Appamāṇasubhānaṁ
dvattiṁsa kappāni. Subha- kiṇhānaṁ catusaṭṭhi kappāni. Vehapphalānaṁ
asaññasattānañ ca pañcakappasatāni. Avihānaṁ kappasahassāni.
Atappānaṁ dve kappasahassāni. Sudassānaṁ cattāri kappasahassāni.
Sudassīnaṁ aṭṭhakappasahassāni. Akaṇiṭṭhānaṁ soḷasa
kappa sahassāni āyuppamāṇaṁ.
Paṭham'
āruppādi vipākāni paṭhamāruppādi bhūmīsu yathākkamaṁ paṭisandhi
bhavaṅgacuti- vasena pavattanti.
Imā
catasso āruppapaṭisandhiyo nāma.
Tesu
pana Ākāsānañcāyatanūpagānaṁ devānaṁ vīsati kappasahassāni
āyuppamāṇaṁ. Viññāṇañ- cayatanūpagānaṁ devānaṁ cattāḷisakappasahassā-ni,
Ākiñcaññāyatanūpaganaṁ devānaṁ saṭṭhi-kappasahassasāni.
N'eva saññā Nāsaññāyatan-ūpagānaṁ devānaṁ caturāsītikappasahassāni
āyuppamāṇam.
6.
Paṭisandhi
bhavaṅgañ ca tathā cavanamānasaṁ
Ekam
eva tathā v'eka visayaṁ c'ekajātiyaṁ.
Idam'
ettha paṭisandhi-catukkaṁ.
§4
Tái
sanh có bốn cách là:
a.
Tái sanh vào khổ cảnh;
b.
Tái sanh vào nhàn cảnh;
c.
Tái sanh vào một cảnh Sắc Giới;
d.
Tái sanh vào một cảnh Vô Sắc Giới.
Nơi
đây, tâm quả suy đạc bất thiện liên hợp với thọ xả
(21) trở thành (thức) nối liền trong khi tái sanh vào khổ
cảnh. Sau đó trôi vào hộ kiếp (bhavaṅga), cuối cùng trở
thành tử tâm (cuti), và chấm dứt. Ðó là tái sanh vào khổ
cảnh.
Tâm
quả suy đạc thiện liên hợp với thọ xả dính liền với
thức nối liền (paṭisandhi), hộ kiếp (bhavaṅga), và tử
tâm (cuti) của hạng thấp kém trong cảnh hữu phúc thuộc Dục
Giới như sanh ra là người mù, câm, điếc (22) v.v... và trong
hạng a-tu-la sa đọa trên quả địa cầu (23) cũng vậy.
Tám
tâm đại quả (24) tác hành nhiệm vụ nối liền, hộ kiếp
và tử tâm, bất luận nơi nào trong cảnh Dục Giới hữu phúc.
Chín
loại nầy là trường hợp tái sanh vào cảnh Dục Giới hữu
phúc.
Mười
phương cách (kể trên) được xem là tái sanh vào cảnh Dục
Giới.
Không
có một giới hạn nhất định về tuổi thọ của chúng sanh
trong khổ cảnh, cảnh người và cảnh a-tu-la sa đọa (25).
Tuổi
thọ của chư Thiên trong cảnh Tứ Ðại Thiên Vương là 500
năm của cảnh Trời (26), tức là 9.000.000 (chín triệu) năm
tính theo cảnh người. Tuổi thọ ở cảnh Trời Ðạo Lợi
(hay Tam Thập Tam Thiên) 4 lần dài hơn. Tuổi thọ của cảnh
Trời Dạ Ma 4 lần dài hơn ở cảnh Ðạo Lợi. Tuổi thọ
ở cảnh Trời Ðấu Xuất 4 lần dài hơn ở cung Trời Ðạo
Lợi. Ở cảnh Trời Hóa Lạc Thiên tuổi thọ 4 lần dài hơn
cảnh Trời Ðấu Xuất. Tuổi thọ ở cảnh Tha Hóa Tự Tại
4 lần dài hơn ở cảnh Hoá Lạc Thiên. Trong cảnh Trời Tha
Hóa Tự Tại, nếu tính theo cảnh người, tuổi thọ là chín
trăm hai mươi triệu sáu chục ngàn năm.
§5
Tâm
quả Sơ Thiền phát sanh trong cảnh Sơ Thiền là nối liền,
hộ kiếp và tử tâm; cùng thế ấy, tâm quả Nhị Thiền và
tâm quả Tam Thiền trong cảnh Nhị Thiền; tâm quả Tứ Thiền
trong cảnh giới Tam Thiền; tâm quả Ngũ Thiền trong cảnh Tứ
Thiền. Nhưng đối với chúng sanh vô tưởng, chính hình tướng
vật chất (sắc) khởi phát như tái sanh. Cùng thế ấy, sau
đó trong suốt kiếp sống và lúc lâm chung, chỉ có hình tướng
vật chất (sắc) tồn tại và hoại diệt.
Sáu
cách trên là những phương cách tái sanh vào cảnh Sắc Giới.
Trong
những cảnh nầy, tuổi thọ của các vị Phạm Chúng Thiên
là một phần ba a-tăng-kỳ (27); của các vị Phạm Phụ Thiên
là nửa a-tăng-kỳ; và của vị Ðại Phạm Thiên là một a-tăng-kỳ.
Tuổi thọ của vị Thiều Quang Thiên là hai a-tăng-kỳ (28);
của vị Vô Lượng Quang Thiên là bốn a-tăng-kỳ; và của
vị Quang Âm Thiên là tám a-tăng-kỳ. Tuổi thọ của những
vị Thiều Tịnh Thiên là mười sáu a-tăng-kỳ, của vị Vô
Lượng Tịnh Thiên là ba mươi hai a-tăng-kỳ, và của các vị
Biến Tịnh Thiên là sáu mươi bốn a-tăng-kỳ. Tuổi thọ của
những vị Quảng Quả Thiên và Vô Tưởng Thiên là 500 a-tăng-kỳ,
của những vị ở cảnh giới Trường Cửu (Vô Phiền Thiên)
là một ngàn a-tăng-kỳ; cảnh giới Thanh Tịnh (Vô Nhiệt Thiên),
hai ngàn; cảnh giới Ðẹp Ðẽ, bốn ngàn (Thiện Hiện Thiên);
cảnh giới Quang Ðãng (Thiện Kiến Thiên) tám ngàn; và cảnh
giới Tối Thượng (Sắc Cứu Cánh Thiên) là mười sáu ngàn
a- tăng- kỳ.
Tâm
quả Sơ Thiền Vô Sắc Giới đầu tiên và những tâm quả
của các tầng Thiền Vô Sắc khác trổ sanh tuần tự, trong
cảnh giới Sơ Thiền và trong các cảnh giới tương ứng dưới
hình thức nối liền, hộ kiếp và tử tâm.
Ðây
là bốn phương cách tái sanh trong cảnh Vô Sắc Giới.
Trong
các cảnh giới nầy tuổi thọ của những vị Không Vô Biên
Xứ Thiên là hai mươi ngàn a-tăng-kỳ; của những vị Thức
Vô Biên Xứ Thiên là bốn mươi ngàn a-tăng- kỳ; của những
vị Vô Sở Hữu Xứ Thiên là sáu mươi ngàn a- tăng-kỳ; và
của những vị Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên là tám mươi
bốn ngàn a-tăng-kỳ.
§
6
Tâm
nối liền, hộ kiếp, và tử tâm trong một kiếp sống đều
giống nhau và có một đối tượng in như nhau.
Ðây
là bốn phương cách tái sanh.
Chú
Giải
21.
Akusala-vipāka,
Tâm Quả Bất Thiện.
22.
Mặc
dầu từ lúc sanh ra đã bị tàn tật như mắt mù, tai điếc
v.v... nhưng sự kiện được sanh làm người là quả của nghiệp
lành đã tạo trong quá khứ.
23.
Tức
là rơi xuống từ cảnh hữu phúc.
24.
Ðó
là tám tâm quả đẹp (sobhana vipāka cittas). Xem chương I.
25.
Chúng
sanh chịu đau khổ trong khổ cảnh tùy hợp theo nghiệp của
mình. Tuổi thọ của mỗi chúng sanh khác nhau tùy theo tánh
cách nặng hay nhẹ của hành động bất thiện của mình đã
tạo. Có người mạng yểu, người khác thọ. Thí dụ như
Hoàng Hậu Mallikā của Vua Kosala chịu bảy ngày trong khổ cảnh.
Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða) đàng khác, phải chịu đau khổ
trong suốt một a-tăng-kỳ.
Ðôi
khi có những vị Trời trên quả địa cầu chỉ sống trong
bảy ngày.
26.
Kinh
sách ghi rằng 50 năm trong cảnh nguời bằng một ngày trên
cảnh Trời. Ba mươi ngày như vậy thành một tháng, và mười
hai tháng là một năm.
27.
Kappa, A-Tăng-Kỳ.
Là
khoảng thời gian mà chúng ta có thể quan niệm được xuyên
qua hình ảnh của những hột cải và tảng đá (kappīyati sāsapapabbatopamāhi'
ti kappo).
Có
ba loại kappa (a-tăng-kỳ) là: antara kappa, asaṅkheyya kappa, và
mahā kappa.
Khoảng
thời gian mà tuổi thọ của chúng sanh trong cảnh người khởi
phát từ mười đến vô số lần rồi rơi xuống mười trở
lại, được xem là một antara kappa. Hai mươi antaras như vậy
bằng một asaṅkheyya kappa -- đúng theo nghĩa đen là "vô số
chu kỳ". Bốn asaṅkheyya kappas bằng một mahā kappa.
Nếu
có một cái thùng bề cao một do tuần (yojana), bề ngang một
do tuần, và bề dài một do tuần, đựng đầy hột cải. Mỗi
một trăm năm lấy bỏ đi một hột. Thời gian một mahā kappa
dài hơn là thời gian mà người ta bỏ hết hột cải trong
thùng.
28.
Ở
đây và trong những trường hợp tiếp theo, danh từ kappa (a-tăng-kỳ)
được hiểu là mahā kappa (đại a-tăng-kỳ).
-ooOoo-
III.
Kammacatuka
Bốn
loại nghiệp (29)
7.
i.
Janakam' uppatthambakam' upapīlakam' upaghātakañc'āti kiccavasena,
ii.
Garukam' āsannam' āciṇṇaṁ kaṭattākammañc'āti pākadānapariyāyena,
iii.
Diṭṭhadhammavedanīyaṁ upapajjavedanīyaṁ aparāpariyavedanīyaṁ
ahosikammañc'āti pākakālavasena ca cattāri kammāni nāma.
iv.
Tathā akusalaṁ, Kāmāvacarakusalaṁ, Rūpāvacarakusalaṁ, Arūpāvacarakusalaṁ
c'āti pākaṭṭhānavasena.
Taṭṭha
akusalaṁ kāyakammaṁ, vacīkammaṁ, mano-kammaṁ c'āti kammadvāravasena
tividhaṁ hoti.
Kathaṁ?
Pāṇātipāto,
adinnādānaṁ, kamesu micchācāro ca kāyaviññātti saṅkhāte kāyadvāre
bāhullavuttito kāyakammaṁ nāma.
Musāvādo,
pisuṇavācā, pharusavācā, samphappalāpo c'āti vacīviññatti saṅkhāte
vacīdvare bāhullavuttito vacīkammaṁ nāma.
Abhijjhā,
vyāpādo, micchādiṭṭhi c'āti aññatrā pi viññattiyā manasmiṁ
y'eva bāhullavuttito mano-kammaṁ nāma.
Tesu
pāṇātipāto pharusavācā vyāpādo ca dosamūlena jāyanti. Kāmesu
micchācāro abhijjhā micchādiṭṭhi lobhamūlena. Sesānī cattāri
dvīhi mūlehi sambhavanti. Cittuppādavasena pan'etaṁ akusalaṁ sabbathā'pi
dvādasasavidhaṁ hoti.
Kāmāvacarakusalam
pi ca kāyadvāre pavattaṁ kāyakammaṁ, vacīdvāre pavattaṁ vacīkammaṁ,
manodvāre pavattaṁ manokammaṁ c'āti kamma- dvāravasena tividhaṁ
hoti.
Tathā
dāna-sīla-bhāvanā-vasena cittuppādavasena pan' etaṁ aṭṭhavidhaṁ
pi.
Dāna
- sīla - bhāvanā - pacāyana - veyyāvacca -pattidāna - pattānumodana
- dhammasavana-dhamma-desanā - diṭṭhijjukammavasena dasavidhaṁ hoti.
Taṁ
pan' etaṁ vīsatividham pi kāmāvacara- kammam' icc' eva saṅkhaṁ
gacchati.
Rūpāvacarakusalaṁ
pana manokammam' eva. Tañ ca bhāvanāmayaṁ appanāppattaṁ jhānaṅgabhedena
pañcavidhaṁ hoti.
Tathā
Arūpāvacarakusalañ ca manokammaṁ. Tam' pi bhāvanāmayaṁ appanāppattaṁ
ālambanabhedena catubbidhaṁ hoti.
Ettha
akusalakammaṁ uddhaccarahitaṁ apāya- bhūmiyaṁ paṭisandhiṁ janeti.
Pavattiyaṁ pana sabbam pi dvādasavidhaṁ. Sattākusalapākāni sabbatthā'pi
kāmaloke rūpaloke ca yathārahaṁ vipaccanti.
Kāmāvacarakusalam
pi ca kāmasugatiyam' eva paṭisandhiṁ janeti. Tathā pavattiyañ ca
mahā- vipākāni. Ahetukavipākāni pana aṭṭha' pi sabbatthā' pi
kāmaloke rūpaloke ca yathārahaṁ vipaccanti.
Tatth'
āpi tihetukam ukkaṭṭhaṁ kusalaṁ tihetukaṁ paṭisandhiṁ datvā
pavatte soḷasavipākāni vipaccati.
Tihetukam'omakaṁ
dvihetukam ukkaṭṭhañ ca kusalaṁ dvihetukaṁpaṭisandhiṁ datvā
pavatte tihetukarahitāni dvādasa vipākāni vipaccati. Dvihetukam' omakaṁ
pana kusalam' ahetukam eva paṭisandhiṁ deti. Pavatte ca ahetukavipākān'eva
vipaccati.
8.
Asaṅkhāraṁ
sasaṅkhāra-vipākāni na paccati
Sasaṅkhāram
asaṅkhāra-vipākāni' ti kecana.
Tesaṁ
dvādasapākāni dasaṭṭha ca yathākkamaṁ,
Yathā
vutānusārena yathāsambhavam'uddise.
9.
Rūpāvacarakusalaṁ
pana paṭhamajjhānaṁ parittaṁ bhāvetvā Brahmapārisajjesu uppajjanti.
Tad' eva majjhimaṁ bhāvetvā Brahmapurohitesu, paṇītaṁ bhāvetvā
Mahā Brahmesu.
Tathā
dutiyajjhānaṁtatiyajjhānañca parittaṁ bhāvetvā Parittābhesu.
Majjhimaṁ bhāvetvā Appamāṇābhesu; paṇītaṁ bhāvetvā Ābhassaresu.
Catutthajjhānaṁ parittaṁ bhāvetvā Paritasubhesu;majjhimaṁ bhāvetvā
Appamāṇasubhesu; paṇītaṁ bhāvetvā Subhakiṇhesu. Pañcamajjhānaṁ
bhāvetvā Vehapphalesu.
Tam'
eva saññāvirāgaṁ bhāvetvā Asaññāsattesu.
Anāgāmino
pana Suddhāvāsesu uppajjanti. Arūpāvacarakusalañ ca yathākkamaṁ
bhāvetvā
arūppesu
uppajjanti.
10.
Itthaṁ
mahaggataṁ puññaṁ yathābhūmi vavatthitaṁ
Janeti
sadisaṁ pākaṁ paṭisandhippavattiyaṁ.
Idam'
ettha Kammacatukkaṁ.
§7
i.
Theo phương thức tác dụng, có bốn loại nghiệp là:
a.
Nghiệp Tái Tạo (30),
b.
Nghiệp Trợ Duyên (31),
c.
Nghiệp Bổ Ðồng (32),
d.
Nghiệp Tiêu Diệt (33).
ii.
Theo thứ tự trổ quả, có bốn loại nghiệp là:
a.
Trọng Nghiệp (34),
b.
Cận Tử Nghiệp (35),
b.
Thường Nghiệp (36),
c.
Nghiệp Tích Tụ (37).
iii.
Theo thời gian trổ quả, có bốn loại nghiệp là:
a.
Hiện Nghiệp (38),
b.
Hậu Nghiệp,
c.
Nghiệp Vô Hạn Ðịnh,
d.Nghiệp
Vô Hiệu Lực.
iv.
Theo nơi chốn trổ quả, có bốn loại nghiệp là:
a.
Nghiệp Bất Thiện,
b.
Nghiệp Thiện Thuộc Dục Giới,
c.
Nghiệp Thiện Thuộc Sắc Giới,
d.
Nghiệp Thiện Thuộc Vô Sắc Giới.
Trong
các loại nghiệp nầy, Nghiệp Bất Thiện có ba, tùy hợp những
căn môn xuyên qua đó nghiệp đã được tạo -- đó là hành
động bằng thân, hành động bằng khẩu, và hành động bằng
ý.
Thế
nào?
Sát
sanh, trộm cắp, tà dâm, là những hành động thường được
thực hiện bằng thân (39), gọi là thân nghiệp.
Nói
dối, nói đâm thọc, nói thô lỗ, và nói nhảm, là những
hành động thường được thực hiện xuyên qua lời nói, được
gọi là khẩu nghiệp (41).
Tham
ái, sân hận, và tà kiến (42) là hành động tinh thần thường
được thực hiện xuyên qua chính cái tâm, không có thân hay
khẩu nghiệp.
Trong
các nghiệp nầy, sát sanh, nói thô lỗ, và sân hận bắt nguồn
từ căn Sân. Tà dâm, tham ái bắt nguồn từ căn Tham. Bốn
nghiệp còn lại bắt nguồn từ cả hai căn.
Tùy
hợp theo những loại tâm, Nghiệp Bất Thiện có mười hai.
Thiện
Nghiệp Thuộc Dục Giới có ba, tùy hợp theo những căn môn
xuyên qua đó hành động được thực hiện là: hành động
có liên quan đến thân môn, hành động có liên quan đến khẩu
môn, và hành động có liên quan đến ý môn.
Cùng
thế ấy, có ba như bố thí, trì giới và hành thiền. Có tám
tùy hợp theo những loại tâm.
Nghiệp
Thiện cũng có mười [1], tùy hợp theo: 1. bố thí, 2. trì giới,
3. hành thiền, 4. lễ bái (bậc trưởng thượng), 5. phục vụ,
6. hồi hướng phước báu, 7. thọ hưởng phước báu (của
người khác), 8. nghe Giáo Pháp, 9. giảng dạy Giáo Pháp, 10.
củng cố Chánh Kiến. (43).
Tất
cả hai mươi loại nầy -- Bất Thiện Nghiệp và Thiện Nghiệp
-- được xem là Nghiệp Thuộc Dục Giới.
Nghiệp
Thiện của cảnh Sắc Giới thuần túy tinh thần và được
tạo nên do công trình hành thiền. Tùy hợp theo các yếu tố
của Thiền (Jhāna) có năm chi Thiền.
Cùng
thế ấy, Nghiệp Thiện của cảnh Vô Sắc là sinh hoạt tinh
thần, và cũng bắt nguồn từ công trình hành thiền. Tùy hợp
theo các đề mục của Thiền, thiền Vô Sắc Giới có bốn
bậc [2] .
Nơi
đây, Nghiệp Bất Thiện, ngoại trừ phóng dật [3], đưa đến
tái sanh trong Khổ Cảnh. Nhưng trong kiếp sống, tất cả mười
hai nghiệp (Bất Thiện) đều có trổ quả (44). Bất luận
nơi đâu trong Dục Giới và trong Sắc Giới, tùy trường hợp,
đều có bảy tâm quả bất thiện.
Nghiệp
Thiện (45) trong cảnh Dục Giới đưa đến tái sanh trong trạng
thái hữu phúc của Dục Giới. Cùng thế ấy, tám tâm Ðại
Quả (được chứng nghiệm hạnh phúc trong kiếp sống). Tám
tâm quả vô nhân (thiện) được chứng nghiệm bất luận ở
đâu trong Dục Giới và Sắc Giới, tùy trường hợp.
Nơi
đây, nghiệp Thiện Cao Thượng nhất (46) đồng phát sanh cùng
ba nhân đưa đến tái sanh, cùng thế ấy, liên hợp với ba
nhân. Trong kiếp sống, nghiệp nầy tạo điều kiện cho mười
sáu loại tâm quả.
Nghiệp
thiện đồng phát sanh cùng ba nhân của hạng thấp (47) và
cùng hai nhân của hạng cao, đưa đến tái sanh với hai nhân
và tạo duyên cho mười hai tâm quả, ngoại trừ những tâm
có ba nhân, trong kiếp sống.
Nhưng
nghiệp thiện đồng phát sanh cùng hai nhân của hạng thấp,
đưa đến tái sanh không nhân nào và tạo duyên cho những tâm
quả vô nhân trong kiếp sống.
Tâm
thiện không có sự xúi giục, không tạo một (tâm) quả có
sự xúi giục. Vài người nói một tâm thiện có sự xúi giục
không tạo một tâm quả không có sự xúi giục.
§8
Vài
vị pháp sư (48) nói rằng những tư tưởng không có sự xúi
giục không tạo quả có sự xúi giục. và
những
tư tưởng có sự xúi giục không tạo tâm quả không có sự
xúi giục.
Theo
các Ngài, như đã nói trên, sự phát sanh của những tâm quả,
theo thứ tự, có mười hai, mười, và tám (49) phải được
trình bày đầy đủ.
§9
Về
nghiệp thiện của cảnh Sắc Giới, những vị đã phát triển
Sơ Thiền ở mức độ thấp thì sanh vào cảnh Phạm Chúng
Thiên. Những vị cùng phát triển tầng Thiền nầy ở mức
độ trung bình, sanh vào cảnh Phạm Phụ Thiên. Phát triển
đến mức độ cao, sanh vào cảnh Ðại Phạm Thiên.
Cùng
thế ấy, phát triển Nhị Thiền và Tam Thiền ở mức độ
thấp các Ngài sanh vào cảnh Thiểu Quang Thiên. Phát triển
ở mức độ trung bình các Ngài sanh vào cảnh Vô Lượng Quang
Thiên. Phát triển đến mức cao độ thì các Ngài sanh vào
cảnh Quang Âm Thiên.
Phát
triển Tứ Thiền ở mức độ thấp thì các Ngài sanh vào cảnh
Thiền Tịnh Thiên. Phát triển đến mức trung bình, các Ngài
sanh vào Vô Lượng Tịnh Thiên. Phát triển đến mức độ
cao thì các Ngài sanh vào cảnh Biến Tịnh Thiên.
Phát
triển Ngũ Thiền, các Ngài sanh vào cảnh giới của những
vị Quảng Quả Thiên. Phát triển Thiền mà không đeo níu theo
tâm nào thì các Ngài sanh vào cảnh Vô Tưởng Thiên, những
chúng sanh không có tâm.
Các
vị Bất Lai sanh vào những cảnh Phước Sanh Thiên (50).
Khi
phát triển tâm thiện thuộc Vô Sắc Giới các Ngài sanh vào
những cảnh giới Vô Sắc theo thứ tự tương ứng.
§10
Như
vậy, phước lành cao thượng được xác định trùng hợp
theo cảnh giới, tạo những quả tương đương, cả hai, lúc
tái sanh và trong kiếp sống.
Ðây
là bốn loại nghiệp.
Ghi
chú:
[1]
Trong mười loại tâm nầy, loại thứ 6 và thứ 7 được bao
hàm trong tâm bố thí (dāna), số 4 và số 5 trong trì giới
(sīla) và số 10 trong hành thiền (bhāvanā).
[2]
Xem chương I.
[3]
Uddhacca, phóng dật, quá yếu để có thể tạo nên hiện tượng
tái sanh.
Chú
Giải
29.
Kamma, Nghiệp.
Saṁskrt
là Karma, theo đúng căn nguyên là hành động, hay việc làm.
Một
cách chính xác, kamma (nghiệp) là tất cả "ý muốn làm" (cetanā,
tác ý) thiện hay bất thiện. Nghiệp bao gồm tất cả những
gì biểu hiện bằng thân, khẩu, hay ý. Nghiệp là định luật
nhân quả trong lãnh vực đạo đức. Nói cách khác, nghiệp
là hành động và phản ứng của hành động trong phạm vi
luân lý hay, như người Phương Tây nói, là "ảnh hưởng của
hành động". Nghiệp không phải là số mạng hay tiền định.
Nghiệp là phản ứng của chính hành động mình trở lại
mình.
Mọi
hành động cố ý, ngoại trừ hành động của một vị Phật
hay một vị A La Hán, đều được gọi là Nghiệp. Chư Phật
và chư vị A La Hán không còn tích trữ nghiệp mới, bởi vì
các Ngài đã tận diệt vô minh và ái dục, hai nguồn gốc
của nghiệp.
Kamma
(Nghiệp) là hành động, và Vipāka (Quả, hay hậu quả) là
phản ứng. Ðây là nguyên nhân và hậu quả. Kamma như hột
giống. Vipāka như trái cây. Khi đã gieo giống, ta sẽ gặt
hái quả ở một nơi nào, vào một lúc nào, trong kiếp hiện
tại hay trong một kiếp sống tương lai. Cái gì chúng ta gặt
hái ngày hôm nay là hậu quả của những gì chúng ta đã gieo,
hoặc trong hiện tại hoặc ở quá khứ. Kamma tự nó là một
định luật, định luật nghiệp báo, và tự động tác hành
trong phạm vi của nó, không có sự can thiệp nào từ bên ngoài,
Ðây là định luật tác động một cách độc lập.
Khả
năng tạo quả tương ứng, cố hữu dính liền và tiềm tàng
trong nghiệp. Nhân tạo quả. Quả giải thích nhân. Hột giống
sanh ra trái. Thấy trái biết được hột giống nào đã được
gieo. Ðó là mối tương quan giữa nhân và quả. Mối tương
quan giữa Nghiệp và Quả cũng dường thế ấy. Quả đã bắt
đầu trổ sanh trong nhân.
Theo
Abhidhamma (Vi Diệu Pháp), nghiệp báo bao gồm mười hai loại
tâm bất thiện, tám loại tâm thiện, năm loại tâm thiện
thuộc Sắc Giới và bốn loại tâm thiện thuộc Vô Sắc Giới.
Tám
loại tâm Siêu Thế không được xem là Kamma (Nghiệp) và Vipāka
(Quả), bởi vì các loại tâm nầy có khuynh hướng tận diệt
căn cội của Nghiệp, và chính căn cội nầy mới tạo duyên
(điều kiện) để tái sanh. Trong tám loại tâm Siêu Thế paññā
(trí tuệ) chiếm phần lớn quan trọng. Trong những loại tâm
tại thế cetanā (tác ý, hay ý muốn làm) là yếu tố chánh.
Hai
mươi chín loại tâm nầy được gọi là Nghiệp bởi vì trong
đó cố hữu tiềm tàng khả năng tái tạo. Giống như mỗi
vật đều có cái bóng của nó, cùng thế ấy, mỗi hành động
cố ý đồng phát sanh cùng với hậu quả phải có của nó.
Các
loại tâm mà ta chứng nghiệm như hậu quả không thể tránh
của những tư tưởng thiện hay bất thiện, được gọi là
tâm Quả (Vipāka). Hai mươi ba (7 + 8 + 8) tâm Quả thuộc Dục
Giới, năm loại tâm Quả thuộc Sắc Giới và bốn loại tâm
Quả thuộc Vô Sắc Giới được gọi là Vipāka, Quả, hay hậu
quả của Nghiệp.
(Xem
quyển "Ðức Phật Và Phật Pháp", chương 18-21)
30.
Janaka Kamma, Nghiệp Tái Tạo.
Cái
sanh được tạo duyên (điều kiện) do nghiệp thiện hay bất
thiện trong quá khứ mà nổi bật, trội hơn, và mạnh hơn
hết vào lúc lâm chung. Nghiệp tạo duyên cho tái sanh ấy được
gọi là Janaka Kamma, Nghiệp Tái Tạo.
Cái
chết của một người chỉ là sự "chấm dứt tạm thời của
một hiện tượng tạm thời". Mặc dầu hình thể hiện tại
hư hoại, một hình thể khác -- không hoàn toàn giống hệt,
mà cũng không tuyệt đối khác hẳn hình thể trước -- phát
sanh, trùng hợp theo năng lực của những rung động tâm linh
phát huy vào lúc lâm chung, như nghiệp lực chuyển động, thúc
đẩy dòng đời trong kiếp sống mới. Chính tư tưởng cuối
cùng ấy, được gọi là Nghiệp Tái Tạo, xác định trạng
thái của một người trong kiếp sống kế đó. Nghiệp nầy
có thể tốt hay xấu, thiện hay bất thiện.
Theo
bản chú giải, Nghiệp Tái Tạo là cái gì tạo nên sắc uẩn
và danh uẩn, hay những yếu tố tâm linh và vật chất, vào
lúc được mẹ thọ thai. Chặp tư tưởng sơ khởi, gọi là
paṭisandhi viññāṇa (thức nối liền, hay thức tái sanh),
được tạo duyên do Nghiệp Tái Tạo (Janaka Kamma) nầy.
Cùng
một lúc với thức tái sanh, paṭisandhi viññāṇa, cũng phát
sanh "mười thành phần thân", "mười thành phần tính" nam hay
nữ, và "mười thành phần căn"(kāya-bhāva-vatthu dassaka). "Mười
thành phần thân" bao gồm bốn nguyên tố chánh yếu là nguyên
tố có đặc tính duỗi ra (paṭhavi, thường được gọi là
đất), nguyên tố có đặc tính làm dính liền (āpo, thường
được gọi là nước), nguyên tố có đặc tính nóng, hay lạnh
(tejo, thường được gọi là lửa), và nguyên tố có đặc
tính di động (vāyo, thường được gọi là gió); bốn chuyển
hóa của các nguyên tố nầy (uppādārūpa) là: màu sắc (vaṇṇa),
mùi (gandha), vị (rasa), tinh chất dinh dưỡng (ojā), mạng căn
(jīvitindriya), và thân (kāya).
"Mười
thành phần tính nam hay nữ" bao gồm chín yếu tố đầu và
yếu tố thứ mười là tính (bhāva) nam hay nữ.
"Mười
thành phần căn" bao gồm chín yếu tố đầu và căn trú (vatthu)
của tâm thức tương ứng.
Do
đó ta thấy hiển nhiên là tính nam hay tính nữ của một người
được xác định ngay vào lúc chúng sanh ấy được thọ thai,
và tính nầy do nghiệp tạo điều kiện chớ không phải là
sự kết hợp ngẫu nhiên của tinh trùng và minh châu của cha
và mẹ. Ðau khổ và hạnh phúc mà ta thọ cảm trong kiếp sống
là hậu quả dĩ nhiên của Nghiệp Tái Tạo.
31.
Upatthambhaka, Trợ Duyên.
Là
cái gì đến gần và nâng đỡ Nghiệp Tái Tạo. Sự trợ duyên
nầy không có tánh cách thiện hay bất thiện mà chỉ hỗ trợ
và bảo trì hành động của Nghiệp Tái Tạo trong đời sống.
Tức
khắc sau khi được thọ thai đến lúc chết Nghiệp Trợ Duyên
lướt tới trước để yểm trợ Nghiệp Tái Tạo. Một Nghiệp
Trợ Duyên thiện giúp cho sức khoẻ, tài sản, hạnh phúc v.v...
Nghiệp Trợ Duyên bất thiện, trái lại, đưa đến phiền
não, âu sầu v.v... cho người sanh ra với Nghiệp Tái Tạo bất
thiện, thí dụ như loài thú, phải làm công việc nặng nhọc.
32.
Upapīḍaka, Ngăn Trở, hay Nghịch Chiều,
Thường
được gọi là Nghiệp Bổ Ðồng, có chiều hướng làm giảm
suy năng lực, ngăn chận, và làm chậm trể sự trổ quả của
Nghiệp Tái Tạo. Thí dụ như người kia sanh ra với Nghiệp
Tái Tạo tốt, nhưng ương yếu bệnh hoạn v.v... không thể
trọn hưởng những hậu quả hạnh phúc của hành động thiện
quá khứ. Trái lại, trường hợp một con thú sanh ra với Nghiệp
Tái Tạo bất thiện, nhưng có thể thọ hưởng một kiếp
sống thoải mái, tiện nghi như được chủ tâng tiu, cho ăn
sung sướng v.v... nhờ hậu quả của Nghiệp Bổ Ðồng tốt
cản ngăn, không để Nghiệp Tái Tạo xấu trổ quả.
33.
Upaghātaka, Tiêu Diệt, hay Nghịch Duyên.
Theo
định luật Nghiệp Báo, tiềm năng của Nghiệp Tái Tạo có
thể bị tiêu diệt do một năng lực nghịch chiều hùng mạnh
hơn, được tạo nên trong quá khứ, tìm cơ hội để bộc
phát và có thể bộc phát một cách bất ngờ. Có thể ví
nghiệp nầy như một năng lực phản động cản ngăn một
mũi tên bay, làm cho mũi tên dừng lại và rơi xuống đất.
Nghiệp nầy được gọi là Nghiệp Tiêu Diệt, có hiệu lực
mạnh mẽ hơn loại nghiệp trước vì không những cản trở
mà còn tiêu diệt toàn thể năng lực của Nghiệp Tái Tạo.
Nghiệp
nầy cũng không có tánh cách thiện hay bất thiện.
Trường
hợp của Tỳ Khưu Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða), người âm mưu
sát hại Ðức Phật và chia rẽ Tăng Già, là một thí dụ
bao gồm cả bốn loại nghiệp kể trên. Nghiệp Tái Tạo thiện
của ông trong quá khứ đưa ông tái sanh vào hoàng tộc. Nghiệp
Trợ Duyên giúp ông tiếp tục cuộc đời vương giả trong
đền đài cung điện. Nghiệp Bổ Ðồng trổ sanh khi ông phải
chịu nhục nhã vì bị trục xuất ra khỏi Giáo Hội. Cuối
cùng là Nghiệp Tiêu Diệt chấm dứt kiếp sống của ông một
cách vô cùng bi đát.
34.
Garuka, Trọng Nghiệp.
Có
nghĩa là nghiệp nặng, hay nghiêm trọng, có thể thiện hay
bất thiện. Nghiệp nầy chắc chắn trổ sanh quả ngay trong
kiếp sống hiện tiền, hoặc trong kiếp kế liền kiếp hiện
tại. Nếu là thiện, thì đây là loại nghiệp có tánh cách
thuần túy tinh thần như trường hợp các tầng Thiền (Jhāna),
ngoài ra là khẩu hoặc thân nghiệp. Theo thứ tự nặng nhẹ,
có năm loại trọng nghiệp là: 1. Chia rẽ Tăng-Già, 2. Gây
thương tích cho một vị Phật, 3. Sát hại một vị A La Hán,
4. Giết mẹ, và 5. Giết cha.
Nghiệp
nầy cũng được gọi là Ānantariya Kamma bởi vì nhất định
phải trổ quả trong kiếp sống tới, kế liền kiếp sống
hiện tại. Tà Kiến Thường Xuyên (niyata micchādiṭṭhi) cũng
được xem là Trọng Nghiệp.
Thí
dụ như người kia đã đắc Thiền và sau đó phạm nhằm một
trong các Trọng Tội thì nghiệp thiện đã tạo trước đó
sẽ bị nghiệp bất thiện có năng lực hùng mạnh nầy ngăn
trở. Kiếp sống kế đó sẽ do nghiệp xấu tạo duyên.
Mặc
dầu đã có phát triển các tầng Thiền, Devadatta (Ðề Bà
Ðạt Ða) phải mất cả thần thông và tái sanh vào khổ cảnh
vì đã gây thương tích cho Ðức Phật và chia rẽ Tăng- Già.
Vua
Ajātasattu (A Xà Thế) có thể đã chứng đắc Quả Tu Ðà Huờn
nếu không phạm trọng tội giết cha. Trong trường hợp nầy,
nghiệp xấu cản trở, không để ông thành tựu Ðạo Quả.
35.
Āsanna, Cận Tử Nghiệp.
Là
điều gì mà ta làm hay nghĩ đến liền trước khi chết. Trong
hầu hết các quốc gia Phật Giáo, cái nghiệp được tạo
nên vào lúc lâm chung nầy được xem là tối quan trọng, bởi
vì chính nó tạo duyên cho sự tái sanh sắp đến. Vì lẽ ấy,
trong các xứ Phật Giáo người ta có phong tục nhắc nhở người
sắp chết những hành động lành mà người ấy đã làm trong
đời, và tạo cơ hội cho người ấy tạo nghiệp thiện trước
khi nhắm mắt lìa đời.
Ðôi
khi người xấu có thể chết an lành và tái sanh tốt đẹp
nhờ may mắn nhớ lại, hoặc được làm, một hành động
thiện, ngay vào lúc lâm chung. Có tích chuyện kể rằng một
người đao phủ nọ thỉnh thoảng được cơ hội để bát
Ðức Sāriputta (Xá Lợi Phất). Vào lúc sắp lâm chung người
nầy may mắn nhớ lại hành động thiện ấy, và nhờ đó
tái sanh vào nhàn cảnh. Ðiều nầy không có nghĩa là khi hưởng
được cuộc tái sanh tốt đẹp, người kia sẽ khỏi phải
trả những quả xấu do hành động bất thiện trong quá khứ.
Những nghiệp bất thiện tích trữ trong quá khứ sẽ trổ
quả tương xứng khi có cơ hội.
Người
tốt có khi cũng chết một cách bất hạnh vì bất ngờ nhớ
đến một hành động bất thiện của mình, hoặc trong một
hoàn cảnh bất thuận lợi thình lình có những tư tưởng
không lành. Mallikā, một bà thứ phi của Vua Kosala, có kiếp
sống trong sạch, nhưng vào lúc lâm chung bà chợt nhớ đến
một lời nói dối, do đó phải chịu trạng thái đau khổ
trong bảy ngày. Ðó là những trường hợp đặc biệt và ngoại
lệ.
Những
biến đổi bất ngờ như thế ấy giải thích vì sao có những
trẻ con hư hỏng trong gia đình đạo đức, và những em hiền
lành đạo đức trong gia đình hư hỏng buông lung. Thông thường
tiến trình tư tưởng cuối cùng được tạo duyên do phẩm
hạnh thường có của một người.
36.
Āciṇṇa Kamma, Thường Nghiệp.
Là
điều gì mà ta thường làm và thường nhớ đến, và những
điều mà ta thường ưa thích nhiều.
Những
thói quen, dầu tốt hay xấu, lâu ngày trở thành bản chất
thứ nhì, và có khuynh hướng tạo nên tâm tánh của một người.
Trong những lúc nhàn rỗi ta thường nghĩ đến những đặc
điểm quen thuộc của mình. Cùng thế ấy, vào lúc lâm chung,
ngoại trừ khi bị hoàn cảnh xen vào, thông thường ta hồi
nhớ lại những hành động quen thuộc đã làm trong quá khứ.
Cunda
tên đồ tể, sống ở một nơi gần tịnh thất của Ðức
Phật, trước khi chết kêu la như loài thú bị giết bởi vì
anh ta sinh sống bằng cách giết heo làm thịt.
Vua
Duṭṭhagāmani xứ Sri Lanka (Tích Lan) có thói quen để bát
chư Tăng trước khi dùng bửa. Chính loại Thường Nghiệp nầy
trổ sanh vào lúc vua sắp băng hà, làm cho vua thỏa thích và
tái sanh vào cung Trời Ðấu-Xuất-Ðà (Tusita).
37.
Kaṭattā Kamma, Nghiệp Tích Tụ, hay Dự Trữ.
Ðúng
theo nghĩa từng chữ thì danh từ nầy có nghĩa "vì đã làm".
Tất cả những hành động không bao gồm trong ba loại kể
trên và những hành động nào vừa thực hiện rồi sớm quên,
thuộc về loại nghiệp nầy.
Kaṭattā
cũng giống như ngân quỷ dự trữ riêng của một người.
38.
Diṭṭhadhammavedanīya Kamma, Hiện Nghiệp.
Là
điều gì thọ cảm trong kiếp sống hiện tiền. Diṭṭhadhamma
có nghĩa là kiếp sống hiện tiền.
Theo
Vi Diệu Pháp, nghiệp thiện hay bất thiện đều được tạo
nên trong tiến trình javana. Và tiến trình nầy thường tồn
tại trong bảy chặp tư tưởng, hay bảy sát-na tâm. Quả của
chặp tư tưởng đầu tiên yếu nhất, có thể trổ sanh trong
kiếp hiện tại, và được gọi là Hiện Nghiệp, hay nghiệp
trổ quả tức khắc. Nếu chặp tư tưởng nầy không trổ
quả được trong kiếp hiện tại thì được gọi là Vô Hiệu
Lực (Ahosi). Chặp tư tưởng yếu kế đó trong bảy chặp của
tiến trình javana là chặp thứ bảy, sẽ trổ quả trong kiếp
kế liền kiếp hiện tại, và được gọi là Upapajjavedanīya
Kamma (Hậu Nghiệp). Nghiệp nầy cũng trở thành vô hiệu lực
nếu không trổ sanh được trong kiếp kế liền kiếp hiện
tại. Quả của năm chặp còn lại trong tiến trình javana có
thể trổ sanh bất cứ lúc nào, cho đến khi chứng ngộ Niết
Bàn. Loại nghiệp nầy được gọi là Aparāpariyavedanīya, Nghiệp
Vô Hạn Ðịnh.
Không
có ai, chí đến Ðức Phật cũng vậy, có thể tránh khỏi
hậu quả của nghiệp nầy mà ta có thể nhận lãnh bất luận
lúc nào trong cuộc thênh thang dài dẳng của vòng luân hồi.
Không có một loại nghiệp riêng biệt gọi là ahosi, vô hiệu
lực. Nhưng khi hành động phải trổ quả trong kiếp hiện
tại mà không trổ được thì gọi là ahosi.
39.
Bāhullavuttito, Thông thường.
Danh
từ nầy được dùng vì những hành động ấy cũng có thể
được thực hiện qua những căn môn khác.
40.
Kāyaviññatti
Diễn
đạt ý mình bằng những cử động của thân. Có nơi gọi
là thân tiêu biểu.
41.
Vacīviññatti
Diễn
đạt ý mình bằng lời nói. Có nơi gọi là khẩu tiêu biểu.
42.
Tà Kiến
Tà
Kiến là ba quan kiến sai lầm sau đây:
a.
Tin rằng mọi sự vật phát sanh mà không có nguyên nhân (ahetuka
diṭṭhi);
b.
Tin rằng hành động dầu tốt hay xấu đều cũng không tạo
quả (akiriya diṭṭhi); và
c.
Tin rằng không có kiếp sống nào sau kiếp nầy (natthika diṭṭhi).
43.
Tức
là quan niệm chân chánh, như nghĩ rằng để bát chư Tăng đem
lại lợi ích v.v...
44.
Quả
dữ của mười hai loại tâm bất thiện là bảy loại tâm
quả vô nhân, có thể trổ ngay trong kiếp hiện tại.
45.
Quả
lành của những hành động thiện là tám loại tâm quả vô
nhân và tám loại tâm quả đẹp. Quả của tám loại tâm thiện
không những có thể trổ sanh như thức tái sanh mà còn làm
nhân cho những loại tâm quả khác phát sanh trong kiếp sống
hiện tiền.
46.
Ukkaṭṭha,
Do
chữ "u" có nghĩa là hướng lên, và căn "kas" có nghĩa kéo.
Kéo lên.
Một
loại tâm thiện cao thượng nhất là khi nào được thực hiện
với nhân thiện, trước và sau khi thực hiện hành động.
Thí
dụ như để bát đến những vị tu sĩ phẩm hạnh trong sạch
với những vật thực mà mình tạo nên một cách chân chánh,
và sau đó không có hối tiếc, là hành động được xem là
tạo nghiệp thiện "Cao Thượng".
47.
Omaka, Thấp Kém.
Trong
lúc để bát chư Tăng một cách trong sạch ta có thể có loại
tâm thiện cùng với ba nhân. Tuy nhiên, nếu ta để bát đến
những vị không có giới đức, với những vật đã được
tạo nên bằng những phương tiện bất chánh, và sau đó lại
ăn năn hối tiếc thì hành động đó được xem là "thấp
kém" (omaka).
48.
Ðó
là những pháp sư của trường Mahādhammarakkhita Thera, Tu Viện
Moravapi, tại Sri Lanka (Tích Lan).
49.
Mười
hai -- tám quả vô nhân (ahetuka vipāka) và, hoặc bốn tâm quả
có sự xúi giục, hoặc bốn tâm quả không có sự xúi giục.
Mười
-- tám quả vô nhân (ahetuka vipāka) và hai tâm có sự xúi giục,
hoặc hai loại tâm không có sự xúi giục, liên hợp với tri
kiến.
Tám
-- tám quả vô nhân (ahetuka vipāka).
50.
Chư
vị Tu-Ðà-Huờn và Tư-Ðà-Hàm đã có đắc Ngũ Thiền sanh
vào cảnh Quảng Quả Thiên (Vehapphala). Nhưng chư vị Tu-Ðà-Huờn
và Tư-Ðà-Hàm nào mà trau giồi tâm dứt bỏ đối với mọi
kiếp sinh tồn vật chất, nghĩa là không luyến ái bất luận
hình thức sinh tồn vật chất nào, thì tái sanh vào cảnh Vô
Sắc Giới.
Những
vị A-Na-Hàm đã có chứng đắc Ngũ Thiền và đã thành đạt
Ngũ Căn tức: Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Ðịnh Căn, và
Tuệ Căn, một cách đồng đều thì tái sanh vào cảnh Vehapphala
(Quảng Quả Thiên). Những vị có đức tin (sadhā) trội hơn
sanh vào cảnh Aviha (cảnh giới Vô Phiền Thiên). Những vị
có Tinh Tấn (viriya) trội hơn thì sanh vào cảnh Atappa (cảnh
giới vắng lặng, thanh tịnh, có nơi gọi là Vô Nhiệt Thiên).
Những vị có Niệm (sati) trội hơn sanh vào cảnh Sudassa, (cảnh
giới đẹp đẽ, có nơi gọi là Thiện Kiến Thiên). Những
vị có Ðịnh (samādhi) trội hơn sanh vào cảnh Suddassi (Thiện
Kiến Thiên). Và những vị có Trí Tuệ trội hơn thì sanh vào
cảnh Akaṇiṭṭha (cảnh giới tối thượng, có nơi gọi là
Sắc Cứu Cánh Thiên). Không có một định luật nhất định
nào cho rằng chư vị A-Na-Hàm không tái sanh vào những cảnh
giới thích hợp khác.
(Te
pana aññattha na nibbattantīti niyamo natthi. -- Bản chú giải).
Những
vị A-Na-Hàm sukha-vipassaka, tức những vị chứng đắc Ðạo
Quả A-Na-Hàm "với tuệ minh sát khô" [1], đã đắc Thiền trước
khi tịch diệt và sau đó tái sanh vào cảnh giới Thanh Tịnh,
hay Phước Sanh Thiên.
Ghi
chú:
[1]
"Với tuệ minh sát khô", tức là những vị chứng đắc Thánh
Ðạo và Thánh Quả chỉ bằng Tuệ Minh Sát mà không có đắc
tầng Thiền (Jhāna) nào.
-ooOoo-
IV.
Cutipaṭisandhikkamo
Hiện
tượng chết và tái sanh
11.
Āyukkhayena,
kammakkhayena, ubhayakkhayena upacchedakakammunā c'āti catudhā maraṇuppatti
nāma. Tathā ca marantānaṁ pana maraṇakāle yathārahaṁ abhimukhībhūtaṁ
bhavantare paṭisandhijanakaṁ kammaṁ vā taṁ kamma- karaṇakālerūpādikamupaladdhapubbamupakaraṇa-bhūtañ
ca kammanimittaṁ vā anantaram uppajjamānabhave upalabhitabbaṁ upabhoga-
bhūtañ ca gatinimittaṁ vā kammabalena channaṁ dvārānaṁ aññatarasmiṁ
paccupaṭṭhāti. Tato paraṁ tameva tatho'paṭṭhitaṁ ālambanaṁ
ārabbha vipaccamānakakammānurūpaṁ parisuddham upakkiliṭṭhaṁ
vā upalabhitabbabhavānurūpaṁ tatth' onataṁ vā cittasantānaṁ
abhiṇhaṁ pavattati bāhullena. Tam' eva vā pana janakabhūtaṁ kammam
abhinavakaraṇavasena dvārappataṁ hoti.
12.
Paccāsannamaraṇassa
tassa vīthicittāvasāne bhavaṅgakkhaye vā cavanavasena paccuppanna-
bhavapariyosānabhūtaṁ cuticittam uppajjitvā nirujjhati. Tasmiṁ niruddhāvasāne
tass' ānantaram eva tathā gahitaṁ ālambanam ārabbha savatthukaṁ
avatthukam' eva vā yathārahaṁ avijjānusayaparikkhittena taṇhānusayamūlakena
saṅkhārena janīyamānaṁ sampayuttehi parig-gayhamānaṁ sahajātānaṁ
adhiṭṭhānabhāvena pubbaṅgamabhūtaṁbhavantarapaṭisandhānavasenapaṭisandhisaṅkhātaṁ
mānasaṁ uppajjamānam eva patiṭṭhāti bhavantare.
13.
Maraṇāsannavīthiyaṁ
pan' ettha mandappavattāni pañc' eva javanāni pāṭikaṅkhitabbāni.
Tasmā yadi paccuppannālambanesu āpāthamāgatesu dharan-tesv' eva maraṇam
hoti. Tadā paṭisandhi-bhavaṅgānaṁ' pi paccuppannālambanatā labbhatī'
ti katvā kāmāvacarapaṭisandhiyā chadvāragahitaṁ kammanimittaṁ
gatinimittañ ca paccuppannam atītamālambanaṁ vā upalabbhati. Kammaṁ
pana atītam' eva. Tañ ca manodvāragahitaṁ. Tāni pana sabbāni pi
parittadhammabhūtā n'evālambanānī' ti veditabbaṁ.
Rūpāvacarapaṭisandhiyā
pana paññattibhūtaṁ kammanimittaṁ evālambanaṁ hoti. Tathā āruppapaṭisandhiyā
ca mahaggatabhūtaṁ paññatti- bhūtañ ca kammanimittam eva yathārahaṁ
ālambanaṁ hoti.
Asaññasattānaṁ
pana jīvitanavakam eva paṭisandhibhāvena patiṭṭhāti. Tasmā te
rūpa-paṭisandhikā nāma. Āruppā āruppapaṭisandhikā. Sesā rūpārūpapaṭisandhikā.
14.
Āruppacutiyā
honti heṭṭhimāruppavajjitā
Paramāruppasandhi
ca tathā kāme tihetukā.
Rūpāvacaracutiyā
aheturahitā siyuṁ
Sabbā
kāmatihetumhā kāmes'v'eva pan'etarā.
Ayam'ettha
cutipaṭisandhikkamo.
§11
Diễn
biến chết (51) có bốn là:
i.
Chết do sự chấm dứt tuổi thọ (52);
ii.
Do sự chấm dứt nghiệp lực (nghiệp tái tạo) (53);
iii.
Do sự chấm dứt (cùng lúc) cả hai (54);
iv.
Do sự chen vào của Nghiệp Tiêu Diệt (55).
Bây
giờ, xuyên qua một trong sáu căn môn, một trong những điều
sau đây phát hiện đến người sắp lâm chung ngay vào lúc
chết, do năng lực của nghiệp:
1.
Một nghiệp tạo tái sanh trong kiếp kế nhập vào (ý môn)
tùy trường hợp (56);
2.
Một đối tượng (57) chẳng hạn như một hình thể trước
kia đã có thấy hay cái gì tương tợ, hoặc một vật đã
làm phương tiện để tạo nghiệp;
3.
Một dấu hiệu tượng trưng cho kiếp sống tương lai (58) mà
người chết sắp tái sanh vào, và thọ cảm trong cảnh giới
tái sanh sắp đến.
Sau
đó, duyên theo đối tượng phát hiện ấy (59), luồng tâm
liên tục trôi chảy, tương ứng với cái nghiệp phải trổ
sanh, hoặc tinh khiết hoặc ô nhiễm, và thích nghi với cảnh
giới mà ta tái sanh vào, phần lớn thiên về trạng thái nầy.
Hoặc cái Nghiệp Tái Tạo kiếp sống mới nầy phát hiện
trước một căn môn theo phương cách tạo mới trở lại.
§12
Với
người sắp chết, hoặc vào lúc một tiến trình tư tưởng
chấm dứt, hoặc vào lúc một chặp bhavaṅga phân tán, tử
tâm, sự chấm dứt của kiếp sống hiện tại, phát sanh và
hoại diệt, theo phương cách của sự chết.
Tức
khắc sau khi chặp tử tâm chấm dứt chặp thức tái sanh khởi
phát và được thiết lập trong kiếp sống kế đó, dựa trên
đối tượng phát hiện xuyên qua, hoặc không xuyên qua, ý căn
(60) tùy trường hợp, bắt nguồn từ Nghiệp, Kamma (saṅkhāra),
vốn bị bao trùm trong vô minh ngấm ngầm tiềm ẩn và khởi
sanh từ ái dục sâu kín ẩn tàng.
Thức
tái sanh (hay thức nối liền) nầy được gọi như vậy vì
nó nối liền hai kiếp sống kế tiếp, phát sanh cùng lúc với
những tâm sở đồng khởi phát, và hành động như tiền phong
của những trạng thái đồng khởi như nền tảng (adhiṭṭhānabhāvena).
§13
Nơi
đây, trong tiến trình tư tưởng của người lâm chung, chỉ
có năm chặp javana yếu ớt (thay vì thông thường là bảy
chặp).
Như
vậy, khi cái chết xảy diễn trong lúc đối tượng hiện tại
phát hiện xuyên qua một căn môn (tức hiện tượng của nghiệp
xuyên qua ngũ quan môn, hoặc biểu tượng lâm chung xuyên qua
ý môn) chừng ấy thức tái sanh và chặp bhavaṅga duyên theo
đối tượng hiện tại ấy.
Vậy,
trong sự tái sanh vào cảnh Dục Giới, hiện tượng của nghiệp
-- phát hiện xuyên qua một trong sáu căn môn -- hoặc biểu
tượng lâm chung, có thể thuộc về quá khứ hay hiện tại.
Nhưng
Nghiệp (Kamma) chỉ được thâu nhận xuyên qua ý môn như đối
tượng quá khứ.
Tất
cả những nghiệp nầy phải được xem là đối tượng nhỏ
(tức thuộc Dục Giới).
Trong
sự tái sanh vào cảnh Sắc Giới, biểu tượng của nghiệp
-- chỉ là một khái niệm (như kasiṇa đất v.v...) -- trở
thành đối tượng.
Cùng
thế ấy, trong sự tái sanh vào cảnh Vô Sắc Giới, chỉ là
một biểu tượng của nghiệp, vốn là một khái niệm đã
được cao thượng hóa (như hình dung "không gian"), trở thành
đối tượng, tùy theo trường hợp.
Ðối
với hạng chúng sanh vô tưởng, chỉ có "chín thành phần mạng
căn" [1] được tái tạo theo phương cách tái sanh. Do đó những
thành phần nầy được gọi là "sắc tái sanh". Các vị sanh
vào những cảnh Vô Sắc Giới được gọi là "danh tái sanh".
Ngoài ra là "danh và sắc tái sanh".
§14
Sau
khi chấm dứt kiếp sống ở cảnh giới Vô Sắc chúng sanh
được sanh vào cùng thế ấy, trong một cảnh giới Vô Sắc,
nhưng không ở trong một tầng Vô Sắc thấp kém hơn, và cũng
có thể tái sanh vào cảnh Dục Giới với ba nhân.
Sau
khi chấm dứt kiếp sống ở cảnh Sắc Giới thì không sanh
ra mà không có ba nhân (tức luôn luôn sanh ra với ba nhân).
Sau một sự tái sanh với ba nhân ta tìm tái sanh trong mọi cảnh
giới. Hạng còn lại (tức những vị có hai nhân hoặc không
có nhân nào), tái sanh vào Dục Giới.
Nơi
đây là phương thức chết và tái sanh.
Ghi
chú:
[1]
Tức là bốn đại chánh yếu -- hay bốn nguyên tố có đặc
tính duỗi ra, làm dính liền, nóng, và di động (paṭhavi, āpo,
tejo, vāyo) -- cùng với bốn chuyển hóa là màu sắc, mùi, vị,
và chất dinh dưỡng (vaṇṇa, gandha, rasa, ojā). Thành phần
thứ chín là sắc mạng căn (jivitindriya, sức sống của sắc
pháp, phần vật chất).
Chú
Giải
51.
"Chết
là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời".
Chết có nghĩa là sự chấm dứt mạng căn (jīvitindriya), sức
sống của phần vật chất, nhiệt độ (usma = tejodhātu), và
thức (viññāṇa) của một chúng sanh trong một kiếp sống
cá biệt.
Chết
không phải là tuyệt diệt, trở thành hư vô. Chết ở một
nơi có nghĩa là sanh ở một nơi khác, cũng giống như một
cách quy ước ta nói rằng mặt trời lặn ở một nơi là mọc
ở một nơi khác.
52.
Cái
mà thường được hiểu là chết tự nhiên do tuổi già có
thể được liệt vào hạng nầy. Tuổi thọ ở mỗi cảnh
giới khác nhau mà không liên quan đến năng lực tiềm tàng
trong Nghiệp Tái Tạo. Tuy nhiên, khi đến mức cuối cùng của
tuổi thọ thì phải chết. Cũng có thể, khi năng lực của
Nghiệp Tái Tạo quả thật cực kỳ hùng mạnh, nghiệp lực
nầy tự tạo trở lại để tiếp tục sống trong cảnh giới
ấy, hoặc trong một cảnh giới cao hơn, như trường hợp chư
Thiên.
53.
Thông
thường tư tưởng, ý muốn làm, hay ước vọng nào mà thật
mạnh trong kiếp, trở lại nổi bật lên trội hơn vào lúc
lâm chung, và tạo điều kiện cho sự tái sanh sắp đến. Trong
chặp tư tưởng cuối cùng ấy có một năng lực đặc biệt.
Khi năng lực của Nghiệp Tái Tạo ấy chấm dứt, những hoạt
động cố hữu của hình thể vật chất mà sức sống thể
hiện trong đó cũng chấm dứt, dầu chưa đến tuổi già.
54.
Nếu
người kia sanh vào thời kỳ mà tuổi thọ của con người
là 80, và người ấy chết lúc 80 tuổi vì năng lực của Nghiệp
Tái Tạo chấm dứt, thì cái chết của người ấy do nơi sự
chấm dứt đồng thời của cả hai, tuổi thọ và nghiệp lực.
55.
Những
hành động mạnh mẽ có thể đột ngột cắt đứt ngang năng
lực của Nghiệp Tái Tạo, dầu tuổi thọ chưa dứt. Thí dụ
như mũi tên bắn ra thì phải đi đến tận cùng con đường
của nó. Tuy nhiên, một năng lực mạnh hơn có thể làm lệch
đường của mũi tên, hay chận ngang, làm rơi tên xuống đất.
Cùng thế ấy, một nghiệp lực thật mạnh trong quá khứ có
thể làm tan một tiềm năng của chặp tư tưởng có tác dụng
tái tạo (janaka) vừa chấm dứt, và như vậy tiêu diệt đời
sống của một chúng sanh. Cái chết của Devadatta (Ðề-Bà-Ðạt-Ða)
là do một nghiệp đối nghịch (upacchedaka kamma) mà ông đã
tạo trong kiếp sống hiện tiền. Ba loại chết trên được
gọi chung là kālamaraṇa (chết đúng thì), và loại cuối cùng
là akālaramaṇa, chết không đúng thì.
Thí
dụ một ngọn đèn dầu. Ðèn có thể tắt vì bốn lý do như
sau: Tim lụn, dầu cạn, vừa lụn tim vừa cạn dầu, và thứ
tư là một nguyên nhân từ ngoài vào, như một ngọn gió thổi
qua. Cái chết của một chúng sanh cũng do một trong bốn nguyên
nhân kể trên.
56.
Khi
người kia sắp chết, một hành động tốt hay xấu có thể
phát hiện đến trước tâm nhãn của người ấy. Hành động
nầy có thể là một Trọng Nghiệp Thiện, như một tầng Thiền
(Jhāna) đã chứng đắc, hay một Trọng Nghiệp Bất Thiện
như hành động giết cha, giết mẹ v.v... Các nghiệp nầy có
năng lực mạnh đến đỗi làm lu mờ tất cả những nghiệp
khác và xuất hiện mạnh mẽ trước tâm nhãn của người
lâm chung. Nếu không có Trọng Nghiệp nầy chặp tư tưởng
lâm chung có thể duyên theo cái nghiệp mới tạo hay mới nhớ
đến tức khắc kế đó (Āsanna Kamma).
Nếu
là một hành động quá khứ thì, nói một cách chính xác,
đó là tư tưởng thiện hay bất thiện kinh nghiệm trong lúc
thực hiện hành động, bây giờ phát hiện trở lại.
57.
Kamma Nimitta, Biểu Tượng Của Nghiệp
Là
bất luận một dấu hiệu -- cảnh, hương, vị, âm thanh, hay
xúc chạm nào -- hay một ý kiến nào mà ta có, ngay vào lúc
thực hiện hành động, tức lúc tạo nghiệp, như con dao trong
trường hợp người đồ tể, hay bệnh nhân, trong trường
hợp một bác sĩ, hay bông hoa, trường hợp của một thiện
tín có tâm đạo nhiệt thành v.v...
58.
Gati Nimitta, Biểu Tượng Lâm Chung
Có
nghĩa là một vài dấu hiệu của nơi chốn mà người chết
sắp tái sanh vào, một diễn biến nhất định phải xảy ra
cho người sắp lâm chung. Khi những chỉ dẫn về kiếp sống
tương lai ấy phát hiện mà không tốt, ta có thể gây ảnh
hưởng cho nó trở thành tốt. Ðiều nầy có thể thực hiện
được bằng cách ảnh hưởng đến tâm người sắp chết,
giúp cho người ấy tự tạo cho họ những tư tưởng có tánh
cách thiện, tác hành như một Cận Tử Nghiệp, chống trả
lại ảnh hưởng của Nghiệp Tái Tạo mà, nếu không vậy,
sẽ là bất thiện. Và chính nghiệp nầy sẽ tạo duyên cho
kiếp sống tới phát sanh. Những Biểu tượng Lâm Chung nầy
có thể là lửa địa ngục, rừng, núi, tử cung của bà mẹ,
cung điện trên cảnh trời v.v...
Nghiệp
phát hiện xuyên qua ý môn. Biểu Tượng của Nghiệp, Kamma
Nimitta, có thể phát hiện xuyên qua bất luận cửa nào trong
sáu căn môn, tùy trường hợp. Gati Nimitta, Biểu Tượng Lâm
Chung, luôn luôn là một dấu hiệu vật chất, phát hiện như
một giấc mơ.
59.
Duyên
theo một trong những đối tượng kể trên, một tiến trình
tâm diễn tiến trọn vẹn, mặc dầu cái chết có thể đến
đột ngột như thế nào.
Kinh
sách ghi rằng chí đến cái chết cấp kỳ như trường hợp
một con ruồi bay ngang qua hòn đe, bị búa của anh thợ rèn
đập nát, trước khi thật sự chết con ruồi cũng có trọn
một tiến trình tâm như vậy.
Ðể
cho dễ hiểu, bây giờ ta hãy tưởng tượng trường hợp của
một người sắp chết và tái sanh vào cảnh người. Ðối
tượng của chặp tư tưởng cuối cùng là một nghiệp thiện.
Chặp tâm bhavaṅga khởi phát, giao động trong một chặp, rồi
diệt. Tức khắc chặp Manodvārāvajjana, Ý Môn Hướng Tâm khởi
sanh, rồi diệt. Kế đến, giai đoạn tâm lý vô cùng quan trọng
-- tiến trình javana -- mà ở đây vì yếu ớt, chỉ diễn tiến
trong năm chặp, thay vì bảy chặp như thông thường. Vì lẽ
ấy, chặp tư tưởng nầy không có năng lực tái tạo. Nhiệm
vụ chánh của nó chỉ là làm điều hòa kiếp sống mới (abhinavakaraṇa).
Trong trường hợp đối tượng của tâm là đáng được ưa
thích thì tâm mà người nầy hiện có là một loại tâm thiện,
có hay không có sự xúi giục, đồng phát sanh với thọ hỷ,
và liên hợp với tri kiến, như có thể trường hợp nầy
là như vậy. Tâm Ðăng Ký mà nhiệm vụ là ghi nhận hay nhận
diện, có thể phát sanh trong hai chặp liền theo đó, có thể
không. Sau đó là Cuti Citta (Tử Tâm), chặp tư tưởng tối
hậu của một kiếp sống (xem Đồ biểu 12).
Có
quan điểm sai lầm cho rằng chính Tử Tâm nầy tạo điều
kiện cho sự tái sanh trong kiếp sống kế đó. Ðúng ra không
phải Tử Tâm, vì tâm nầy không có nhiệm vụ đặc biệt
nào, mà chính những chặp tâm của tiến trình javana tạo điều
kiện cho kiếp sống tới.
Với
sự chấm dứt Tử Tâm, cái chết mới thật sự xảy diễn.
Chừng ấy tâm và vật thực (cittaja và āhāraja rūpa) không
còn tạo thêm vật chất (sắc) nữa. Chỉ còn một loạt những
tánh chất vật chất do nhiệt độ (utuja) tạo nên tiếp tục
phát sanh cho đến khi cơ thể vật chất trở thành cát bụi.
Bây
giờ, tức khắc sau khi chặp Tử Tâm (Cuti Citta) hoại diệt
liền phát sanh chặp paṭisandhi viññāṇa (thức nối liền).
Kế tiếp là mười sáu chặp bhavaṅga. Sau đó phát sanh chặp
Ý Môn Hướng Tâm (Manodvārāvajjana), phát triển sự ưa thích
kiếp sống mới (bhavanikanti javana). Tiếp theo là bhavaṅga phát
sanh và hoại diệt, và dòng tâm tiếp tục trôi chảy không
gián đoạn. (Xem đồ biểu 330).
60.
Trong
cảnh Vô Sắc Giới không có ý căn (hadayavatthu).
-ooOoo-
V.
Citta-Santati
Dòng
diễn tiến của Tâm
15.
Icc'evam
gahitapaṭisandhikānaṁ pana paṭisandhi- nirodhānantaratoppabhuti
tam evālambanam- ārabbha tad'eva cittaṁ yāva cuticittuppādā asativīthicittuppāde
bhavassangabhāvena bhavaṅga- santatisaṅkhātaṁ mānasaṁ abbhocchinnaṁ
nadī soto viya pavattati. Pariyosāneca cavanavasena cuticittam hutvā
nirujjhati. Tato parañ ca paṭisandhādayo rathacakkaṁ iva yathākkamaṁ
eva parivattantā pavattanti.
16.
Paṭisandhibhavaṅgavīthīyo
cuti c'eha tathā bhavantare
Puna
paṭisandhibhavaṅgam iccayaṁ parivattati cittasantati
Paṭisankhāya
pan'etamaddhuvaṁ adhigantvā padamaccutaṁ budhā
Susamucchinnasinehabandhanā
samamessanti cirāya subbatā.
Iti
Abhidhammatthasangahe Vīthimuttasaṅgaha- vibhāgo nāma Pañcamo Paricchedo.
§15.
Vậy,
đối với những người có sự tái sanh như thế ấy, liền
sau khi thức nối liền (61) chấm dứt, một thức tương tợ,
cùng tùy thuộc nơi một đối tượng, trong khi không có tiến
trình tâm, tiếp tục diễn tiến như một dòng suối (62) không
gián đoạn cho đến khi tử tâm phát sanh (63). Vì đây là yếu
tố chánh yếu cho đời sống nên thức nầy được gọi là
bhavaṅga (hộ kiếp).
Cuối
cùng, vào lúc lâm chung, nó phát sanh trở lại như tử tâm
(64) và diệt. Sau đó thức nối liền và những tâm khác, diễn
tiến tùy trường hợp, như một bánh xe, và tiếp tục sinh
tồn.
§16
Cũng
như ở đây, cùng thế ấy, trong kiếp sống kế đó phát sanh
thức nối liền, hộ kiếp, những tiến trình tâm, và tử
tâm. Trở lại với sự tái sanh và hộ kiếp, dòng tâm thức
chạy vòng quanh. Người được rọi sáng, tự khép mình vào
kỷ cương, thấu đạt tình trạng vô thường (của đời sống),
sẽ chứng ngộ Trạng Thái Bất Diệt (tức Niết Bàn) và trọn
vẹn cắt đứt mọi thằng thúc luyến ái, thành đạt Thanh
Bình An Lạc (tức Vô Dư Niết Bàn).
Như
vậy chấm dứt chương Năm của Bản Vi Diệu Pháp Toát Yếu
gọi là Sự Phân Tích của phần Ngoài Tiến Trình.
Chú
Giải
61.
Những
chặp paṭisandhi viññāṇa (thức nối liền), bhavaṅga (hộ
kiếp), và cuti citta (tử tâm) của một kiếp sống giống hệt
nhau, vì cùng có chung một đối tượng. Những tâm sở trong
ba tâm ấy cũng giống hệt nhau, chỉ có tên và nhiệm vụ
là khác. Sau thức tái sanh, chặp bhavaṅga liền khởi phát.
Trong đời sống, mỗi khi tiến trình tâm khởi sanh là có bhavaṅga
nầy. Xuyên qua suốt kiếp sống ta có vô số những chặp bhavaṅga
như vậy.
62.
Nên
ghi nhận câu Pāli: nadī soto viya.
63.
Cuti
citta (tử tâm) mà ta kinh nghiệm vào lúc chết cũng giống như
paṭisandhi, thức nối liền và bhavaṅga citta, tâm hộ kiếp.
64.
Tức
khắc sau chặp tử tâm liền phát sanh thức nối liền, vào
lúc bà mẹ thọ thai.
Ðồ
Biểu 10 - Tiến trình Tử tâm [*]
[*]
Ðôi khi bhavaṅga (hộ kiếp) phát sanh giữa tâm Ðăng Ký và
Tử Tâm. Vài khi Tử Tâm khởi sanh liền sau luồng javana, không
có Ðăng Ký tâm.
| 1 |
*
* *
|
Bhavaṅga
vừa qua |
| 2 |
*
* *
|
|