Chương
VI
Lời
mở đầu
Năm
chương đầu của sách Abhidhammattha Saṅgaha (Vi Diệu Pháp Toát
Yếu) đề cập đến 89 và 121 loại tâm vương, 52 tâm sở,
những tiến trình tâm khác nhau trong đời sống và vào lúc
tái sanh, 31 cảnh giới sinh tồn và phương thức phân hạng
Kamma (Nghiệp). Hiểu theo một lối, những đề tài nầy hợp
thành đầy đủ một quyển.
Bốn
chương còn lại đề cập đến Rūpa (Sắc), Nibbāna (Niết
Bàn), Paṭicca-Samuppāda (Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh, hay
Thập Nhị Nhân Duyên), Paṭṭhāna Naya (Duyên Hệ Tương Quan),
Những Phân Loại Thiện Và Bất Thiện Pháp, Trau Giồi Tâm,
Thanh Tịnh Ðạo, và Những Chứng Ðắc Cao Thượng.
Chương
thứ sáu cốt yếu dành riêng cho Rūpa (Sắc) và Nibbāna (Niết
Bàn).
Hai
mươi tám loại Sắc được liệt kê. Sắc là gì, phát sanh
như thế nào, tồn tại và hoại diệt như thế nào cũng được
giải thích. Rūpa (Sắc) là Paramattha (Chân Ðế) thứ ba được
đề cập đến trong Abhidhamma (Vi Diệu Pháp), và cũng là một
trong hai thành phần cấu thành cái được gọi là chúng sanh
-- thành phần kia là Nāma (Danh). Cũng như phần tâm linh, Nāma
(Danh), phần cơ thể vật chất, Rūpa (Sắc) cũng đuợc phân
tách tỉ mỉ. Nhưng không có một định nghĩa hợp lý cho danh
từ Rūpa (Sắc) trong Kinh Ðiển cũng như trong những Chú Giải.
Chữ
Rūpa do căn "rup", là tan vỡ, phân tán hay hoại diệt (nāsa).
Theo
sách Vibhāvini Tīkā, Rūpa là cái gì thay hình đổi dạng, hay
có một hình thể khác do ảnh hưởng của những điều kiện
vật lý nghịch chiều như nóng, lạnh v.v... (sītoṇhādi virodhippaccayehi
vikāraṁ āpajjati).
Theo
quan điểm Phật Giáo, Sắc không những luôn luôn biến đổi
mà cũng hoại diệt (khaya, vaya). Sắc chỉ tồn tại trong mười
bảy chặp tư tưởng, hay sát-na tâm. Rūpa (Sắc) biến đổi
nhanh chóng đến đổi ta không thể gỏ hai lần đúng ngay vào
một nơi.
Rūpa
(Sắc) cũng đuợc giải thích là cái gì tự biểu hiện (căn
"rup" -- pakāsane).
Các
nhà học giả có những gợi ý khác nhau về ý nghĩa của chữ
Rūpa. Danh từ nầy thường đuợc phiên dịch là "hình tướng",
"thân thể", "phần vật chất", "cơ thể vật chất" v.v... Những
ý nghĩa khác nhau, tùy theo đoạn văn. Không có một nghĩa đặc
biệt đúng cho tất cả mọi trường hợp.
Ðứng
về quan điểm triết học, "phần vật chất", hay "sắc", có
ý nghĩa gần nhất với danh từ Rūpa, mặc dầu các nhà khoa
học cũng thấy khó mà tìm ra một định nghĩa chính xác.
Nên
ghi nhận rằng lý thuyết về nguyên tử cũng thạnh hành ở
Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật. Paramānu là một danh từ tương
đương với chữ "nguyên tử" thời hiện đại. Theo sự tin
tưởng thời bấy giờ, một rathareṇu gồm 36 tajjāris; một
tajjāri bằng 36 aṇus; một aṇu bằng 36 paramāṇus. Một hột
bụi tý ty vởn vơ trong làn ánh sáng được gọi là ratheraṇu.
Như vậy, một paramāṇu bằng 1/46,656 phần của một rathareṇu.
Paramāṇu nầy đuợc xem như không thể còn phân chia được
nữa.
Với
nhãn quan siêu thường của một vị Phật, Ðức Thế Tôn phân
tách cái gọi là paramāṇu ấy và tuyên ngôn rằng nó bao gồm
những paramatthas (chân đế) -- đơn vị cùng tột, không còn
có thể bị phân chia thêm nữa.
Những
chân đế nầy là paṭhavi, āpo, tejo, và vāyo. Không nên hiểu
rằng những nguyên tố nầy là đất, nước, lửa và gió thông
thường, như vài tư tưởng gia Hy Lạp thời xưa đã tin như
vậy.
Paṭhavi,
đất, là nguyên tố của vật chất có đặc tính duỗi ra,
bản thể của vật chất. Nếu không có nguyên tố nầy vật
thể không thể chiếm không gian. Tính chất cứng hay mềm,
thuần túy tương đối, là hai điều kiện của nguyên tố
cá biệt nầy. Có thể nói rằng nguyên tố nầy nằm trong
đất, nước, lửa và trong gió. Thí dụ như nước ở phần
dưới nâng đỡ nước ở phần trên. Chính nguyên tố có đặc
tính duỗi ra nầy, hợp với nguyên tố có đặc tính di động
(vāyo) tạo nên áp lực đẩy lên, nâng đỡ phần nước ở
trên. Nóng hay lạnh là tejo, nguyên tố lửa. Tính chất lỏng
là āpo, nguyên tố nước.
Āpo,
nước, là nguyên tố có đặc tính làm dính liền. Không giống
như paṭhavi, ta không thể cảm nhận nguyên tố nầy bằng
giác quan. Ðây là thành phần làm dính liền những phần tử
rời rạc của vật thể, và làm khởi sanh ý niệm hình thể.
Khi một vật ở thể đặc chảy ra thì thành phần nước (āpo)
trong chất lỏng ấy trở nên trội hơn. Khi một vật ở thể
đặc bị phân tán thành bụi, trong mỗi hột bụi tí ti cũng
có chứa đựng thành phần nước. Thành phần có đặc tính
duỗi ra (đất) liên quan rất mật thiết với thành phần có
đặc tính làm dính liền (nước) đến độ khi thành phần
nầy chấm dứt thành phần kia cũng tiêu tan.
Tejo,
lửa, là nguyên tố nóng trong vật chất. Lạnh cũng là một
hình thức của tejo (lửa). Cả hai, nóng và lạnh, đều được
hàm xúc trong thành phần "lửa" vì cả hai đều có năng lực
làm cho vật chất trở nên chín mùi. Nói cách khác, tejo, nguyên
tố lửa, tạo sinh lực cho vật chất. Vật chất được bảo
tồn hay bị hư hoại đều do nguyên tố nầy. Không giống
như ba nguyên tố khác trong "tứ đại", nguyên tố nầy có
năng lực làm cho vật chất tự mình hồi sinh.
Vāyo,
nguyên tố gió, có đặc tính di động, không thể tách rời
ra khỏi tejo, lửa. Chính thành phần gió (vāyo) trong vật chất
tạo sự vận chuyển và được xem là năng lực làm phát sanh
nhiệt độ. "Sự di động và nhiệt độ trong phạm vi vật
chất tương đương với tâm và nghiệp báo trong phạm vi tinh
thần".
Tứ
Ðại -- bốn nguyên tố đất, nước, lửa, gió -- luôn luôn
dính liền nhau, không thể tách rời, nhưng trong một loại
vật chất, thành phần nầy có thể trội hơn những thành
phần khác, thí dụ như trong đất thành phần paṭhavi trội
hơn, trong nước āpo trội hơn, trong lửa tejo, và trong gió
vāyo trội hơn.
Bốn
nguyên tố nầy cũng được gọi là Mahābhūtas, Tứ Ðại Chánh
Yếu bởi vì luôn luôn có mặt trong tất cả những hình thể
vật chất, từ tế bào cực nhỏ đến thiên thể khổng lồ.
Tùy
thuộc nơi bốn thành phần chánh yếu ấy có bốn chuyển hóa
là vaṇṇa (màu sắc), gandha (hương), rasa (vị) và ojā (tinh
chất dinh dưỡng). Những năng lực và tánh chất cùng dính
liền với nhau nầy hợp thành nhóm vật chất gọi là "Suddhaṭṭhaka
Rūpa
kalāpa -- nhóm tám-thành-phần-sắc". Hai mươi loại nguyên tố
vật chất (sắc) còn lại cũng rất quan trọng.
Nên
ghi nhận rằng nguyên lý của đời sống vật chất (rūpa jīvindriya,
mạng căn) và tánh nam hay tánh nữ của một chúng sanh cũng
do Kamma (Nghiệp) tạo điều kiện. Nên phân biệt rõ ràng sức
sống của những vật vô cơ, vô tri giác, và đời sống của
những chúng sanh hữu tri hữu giác.
Sự
kiện nói rằng rūpas, sắc hay vật chất, phát sanh theo bốn
phương cách như nghiệp, tâm, hiện tượng thời tiết, và
vật thực, sẽ là một ý niệm mới mẻ cho những tư tưởng
gia hiện đại. Tất cả bốn căn nguyên nầy, phần lớn nằm
trong khả năng kiểm soát của ta.
Ðến
một mức độ nào chúng ta chịu trách nhiệm về việc tạo
nên những hiện tượng vật chất xảy đến cho chính mình,
dầu đáng được ưa thích hay không.
Ðể
hợp thành đặc tính vật chất của một người, các khuynh
hướng nghiệp báo tích trữ mà người ấy tạo nên trong những
kiếp sống quá khứ đôi khi có vai trò quan trọng hơn là những
tế bào và những chủng tử truyền thống của cha mẹ,
Ðức
Phật chẳng hạn, đã thọ nhận những tế bào và những chủng
tử do cha mẹ truyền thừa, như tất cả mọi người. Nhưng
từ ông cha nhiều đời trong gia tộc quý phái của Ngài, không
ai có thể so sánh với Ngài về phần vật chất. Chính Ðức
Phật đã tuyên ngôn rằng Ngài không thuộc về huyết thống
nhà vua mà về dòng dõi chư Phật. Quả thật Ngài là bậc
siêu nhân, được tạo nên một cách kỳ diệu do Nghiệp lực
mà chính Ngài đã dày công huân tập. Theo kinh Lakkhana Sutta,
Dīgha Nikāya, Trường A Hàm số 30, Ðức Phật thừa hưởng
những đặc tướng phi thường như 32 tướng tốt. Ấy là
quả lành của bao nhiêu công đức mà Ngài đã tạo trong vô
số kiếp. Bài kinh giải thích rành mạch nghiệp lành nào đã
là nhân đưa đến hảo tướng nào.
Trong
chương thứ sáu, chỉ có một vài hàng đề cập đến chân
đế thứ tu -- Niết Bàn, mục tiêu cứu cánh của Phật Giáo.
Nhưng đường đến Niết Bàn thì được mô tả với nhiều
chi tiết ở chương thứ chín.
Chương
thứ bảy liệt kê tất cả trạng thái có tánh cách đạo
đức và phân hạng làm nhiều nhóm khác nhau.
Hai
giáo huấn thâm sâu nhất trong Phật Giáo có tánh cách triết
học là Paṭicca-Samuppāda (Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh,
hay Thập Nhị Nhân Duyên) và Paṭṭhāna (hai mươi bốn Duyên
Hệ Tương Quan) được mô tả trong chương tám.
Chương
cuối cùng quan trọng nhất và cũng là hứng thú và đáng chú
ý nhất, vì chương nầy bàn thảo về pháp Trau Giồi Tâm (bhāvanā),
tức thiền tập, và Giải Thoát, phần nòng cốt của Phật
Giáo.
Ðể
thấu hiểu những điểm phức tạp của Vi Diệu Pháp ta nên
nhẫn nại, thận trọng đọc đi và đọc lại nhiều lần
tập Abhidhammattha Saṅgaha, Vi Diệu Pháp Toát Yếu, và suy gẫm
sâu sắc phần giáo lý thâm diệu trong đó.
Người
thấu hiểu Vi Diệu Pháp sẽ có thể lãnh hội Lời Dạy của
Ðức Phật và do đó chứng ngộ mục tiêu cùng tột.
-ooOoo-
CHƯƠNG
VI
RŪPA-SAṄGAHAVIBHĀGO
Phân
tách sắc pháp
1.
Ettāvatā
vibhattā hi sappabhedappavattikā
Cittacetasikā
dhammā rūpandāni pavuccati.
Samuddesā
vibhāgā ca samuṭṭhānā kalāpato
Pavattikkamato
c'āti pañcadhā tattha saṅgaho.
2.
Cattāri
mahābhūtāni, catunnañ ca mahābhūtānaṁ upādāya rūpan'ti dvidhampetaṁ
rūpaṁ ekādasa- vidhena saṅgahaṁ gacchati.
Katham?
1)
Paṭhavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu bhūtarūpaṁ nāma.
2)
Cakkhu, sotaṁ, ghāṇaṁ, jivhā, kāyo, pasādarūpaṁ nāma.
3)
Rūpaṁ, saddo, gandho, raso, āpodhātuvajjitaṁ bhūtattayasaṅkhātaṁ
phoṭṭhabbañ ca gocararūpaṁ nāma.
4)
Itthattaṁ, purisattaṁ bhāvarūpaṁ nāma.
5)
Hadayavatthu hadayarūpaṁ nāma.
6)
Jīvitindriyaṁ jīvitarūpaṁ nāma.
7)
Kabalīkāro āhāro āhārarūpaṁ nāma.
Iti
ca aṭṭhārasavidhamp'etaṁ sabhāvarūpaṁ, salakkhaṇarūpaṁ
nipphannarūpaṁ rūparūpaṁ, sammasanarūpanti ca saṅgahaṁ gacchati.
8)
Ākāsadhātu paricchedarūpaṁ nāma.
9)
Kāyaviññatti vacīviññatti viññattirūpaṁ nāma.
10)
Rūpassa lahutā mudutā kammaññatā viññatti- dvayaṁ vikārarūpaṁ
nāma.
11)
Rūpassa upacayo santati jaratā aniccatā lakkhaṇa- rūpaṁ nāma.
Jātirūpam'
eva pan'ettha upacayasantatināmena pavuccatī'ti ekādasavidhamp'etaṁ
rūpaṁ aṭṭhavīsati- vidhaṁ hoti sarūpavasena.
Kathaṁ?
Bhūtappasādavisayā
bhāvo-hadayam' icca'pi
Jīvitāhārarūpehi
aṭṭhārasavidhaṁ tathā.
Paricchedo
ca viññatti vikāro lakkhaṇanti ca
Anipphannā
dasa c'āti aṭṭhavīsavidhaṁ bhave.
Ayam'ettha
rūpasamuddeso.
§1.
Nhập Ðề
Ðến
đây đã phân tách các loại tâm vương và tâm sở theo phân
loại (1) và tiến trình sanh khởi (2), giờ đây xin đề cập
đến sắc pháp.
Phần
tóm lược về các sắc pháp có năm (3) là:
liệt
kê,
phân
loại (4),
khởi
sanh (5),
các
nhóm (6), và
phương
thức sanh khởi (7).
§2.
Liệt Kê Các Sắc Pháp (rūpasamuddesa)
Sắc
có hai phần là: Bốn Ðại Chánh Yếu (8), và những chuyển
hóa của sắc (9). Hai phần nầy gồm mười một loại.
Bằng
cách nào?
1-
Những tính chất chánh yếu của sắc pháp -- nguyên tố có
đặc tính duỗi ra (10), nguyên tố có đặc tính làm dính liền
(11), nguyên tố nóng (12), và nguyên tố di động (13).
2-
Những tính chất nhạy của sắc pháp (14) tức mắt, tai, mũi,
lưỡi, và thân.
3-
Những cảnh giới làm đối tượng của sắc pháp (15), tức
sắc (16), thinh, hương, vị, và xúc (17) -- Xúc nằm trong ba
Ðại (nguyên tố vật chất) ngoại trừ nguyên tố (nước)
có đặc tính làm dính liền.
4-
Những tính chất của sắc pháp về tánh (18), tức nam tánh
và nữ tánh.
5-
Tính chất của sắc pháp về tâm, tức ý căn (19)..
6-
Tính chất của sắc pháp về đời sống, tức khả năng sống
(20). (mạng căn).
7-
Tính chất dinh dưỡng của sắc pháp, tức vật thực (21).
Như
vậy mười tám (22) loại tính chất của sắc pháp được
gom lại:
i.
theo những đặc tính cố hữu (23) của nó,
ii.theo
những đặc tướng tiêu biểu của nó (24),
iii.
như được cấu tạo do nhân duyên (25),
iv.
như luôn luôn biến đổi (26),
v.
như thích nghi để suy niệm (27).
8-
Tính chất phân giới hạn của sắc pháp: tức nguyên tố không
gian (28).
9-
Tính chất truyền thông của sắc pháp (29) -- tức sự biểu
lộ bằng thân (thân biểu) và sự biểu lộ bằng lời nói
(ngữ biểu).
10-
Những hiện tượng biến đổi của sắc pháp (30) -- như nhẹ
nhàng (31), mềm dịu (32), nhu thuận (33), và hai hình thức biểu
lộ.
11-
Những đặc tướng (34) của sắc pháp -- tức sự sanh khởi,
sự liên tục, sự hư hoại và vô thường.
Nơi
đây đặc tính sanh khởi và liên tục có nghĩa là hiện tượng
sanh của sắc pháp.
Như
vậy, mười một hiện tượng của sắc pháp được xem là
hai mươi tám, tùy theo đặc tính cá biệt cố hữu.
Thế
nào (là hai mươi tám)?
Bốn
Ðại, các phần nhạy, những đối tượng, tánh nam hay nữ,
tâm, mạng căn và vật thực -- như vậy (sắc) là mười tám.
Tính
chất phân giới hạn, tính chất truyền thông, sự biến đổi
và những đặc tướng -- như vậy là trong đó có mười, không
(do nghiệp) tạo duyên. Tất cả là hai mươi tám.
Nơi
đây là liệt kê các sắc pháp.
Chú
Giải
1.
Ba chương đầu đề cập đến các loại tâm vương và tâm
sở khác nhau một cách chính xác và giản lược mô tả.
2.
Chương thứ tư dành cho bảy tiến trình tâm trong đời sống,
và chương thứ năm cho những cảnh giới khác nhau và tiến
trình tâm lúc chết và lúc tái sanh.
3.
Samuddesa, Liệt Kê,
tức
là trình bày vắn tắt về sắc.
4.
Vibhāga, Phân Loại, tức là phân tách sắc pháp.
5.
Samuṭṭhāna, tức hiện tượng sanh khởi của những phần
khác nhau cấu thành sắc pháp, như mười-thành-phần-mắt v.v...
khởi sanh do Nghiệp, tâm, hiện tượng thời tiết, và vật
thực.
6.
Kalāpa, những tổng hợp cấu thành sắc pháp, như mười-thành-phần-thân,
mười-thành-phần-tánh nam nữ v.v...
7.
Pavattikkama -- tức là sắc pháp phát sanh như thế nào tùy theo
cảnh giới sinh tồn, thời gian, và hạng chúng sanh.
8.
Mahābhūtāni, Tứ Ðại.
Theo
nghĩa từng chữ, là những gì trở nên lớn.
Bốn
Ðại Chánh Yếu là những thành phần căn bản của sắc pháp,
luôn luôn dính liền, không thể tách rời nhau. Mọi vật thể,
từ vi tế nhất đến vật to lớn nhất, đều do bốn nguyên
tố có đặc tính cá biệt ấy hợp thành.
9.
Upādāya-rūpāni, Chuyển Hóa Của Sắc.
Ðặc
tính chuyển hóa, hay đặc tính phụ thuộc của sắc pháp tùy
theo Bốn Ðại. Như đất là những Chánh Yếu; chuyển hóa
giống như cây cối từ đó mọc lên. Hai mươi bốn sắc pháp
còn lại được xem là Chuyển Hóa.
10.
Paṭhavi-dhātu, Nguyên Tố Ðất.
Phạn
ngữ dhātu có nghĩa là cái gì mang những dấu hiệu cá biệt
của mình. Nguyên tố là danh từ tương đương gần nhất của
chữ dhātu.
Paṭhavi-dhātu,
theo nghĩa đen là nguyên tố đất. Ðược gọi như vậy vì
cũng như đất, nguyên tố nầy có tác dụng nâng đỡ, làm
nền tảng cho ba nguyên tố khác đồng sanh khởi. Paṭhavi (saṁskrt:
prṭhvi), cũng được viết là pathavi, puthavi, puthuvi, puṭhuvi
-- phát nguyên từ căn "puth", có nghĩa nới rộng ra, dãn ra,
hay duỗi ra. Ðến đây, mặc dầu không mấy là viên mãn lắm,
danh từ gần nhất với paṭhavi-dhātu là "nguyên tố có đặc
tính duỗi ra". Nếu không có nguyên tố nầy, một vật không
thể choán không gian. Tánh chất cứng và mềm là đặc tính
của nguyên tố nầy.
11.
Āpo-dhātu, Nguyên Tố Nước.
Theo
nghĩa từng chữ, là nguyên tố có đặc tính lỏng. Āpo phát
nguyên từ căn "ap", đến, hay từ "ā" + căn "pāy" là lớn lên,
trưởng thành. Ðây là "nguyên tố có đặc tính làm dính liền".
Theo Phật Giáo, chính nguyên tố nầy làm dính liền những
phần tử khác nhau của sắc pháp và như thế, ngăn ngừa không
để những phần tử kia rời rạc. Lỏng và rỉ chảy là đặc
tính của nguyên tố nầy. Nên hiểu rằng lạnh không phải
là đặc tính của nguyên tố nước.
12.
Tejo-dhātu, Nguyên Tố Lửa.
Theo
nghĩa đen, là nguyên tố lửa, được giải thích là "nguyên
tố có đặc tính nóng". Danh từ tejo phát nguyên từ căn "tij",
làm cho sắc bén, chín mùi. Sự vật tươi tắn hay chín mùi
đều do nguyên tố nầy. Nóng và lạnh đều là đặc tính
của tejo. Tejo cao độ là nóng, tejo dịu dàng, ở độ thấp,
là lạnh.
Không
nên hiểu rằng lạnh là đặc tính của āpo (nước), và nóng
là đặc tính của tejo (lửa), bởi vì trong trường hợp đó,
cả hai nóng và lạnh cùng ở chung, vì āpo và tejo cùng tồn
tại chung.
13.
Vāyo-dhātu, Nguyên Tố Gió.
Theo
nghĩa đen là nguyên tố gió, được giải thích là "nguyên
tố có đặc tính di động". Danh từ vāyo phát nguyên từ căn
"vāy", di động, rung động. Có sự di động, rung động, lung
lay và áp lực đều do nguyên tố nầy.
14.
Pasāda-rūpa, Phần Nhạy Của Sắc Pháp.
Phần
nhạy của năm giác quan -- mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân. Phần
nhạy nầy có khuynh hướng làm sáng các phần sắc khác trong
giác quan. Thí dụ như cái mà thông thường ta gọi con mắt,
sasambhāra cakkhu, là sự hổn hợp những hiện tượng khác
nhau của sắc pháp, bao gồm bốn bhūtarūpas (tứ đại), bốn
ūpādārūpas (chuyển hóa -- tức màu, mùi, vị, và sinh lực)
và jīvitindriya (mạng căn). Phần nhạy, nằm ở giữa con ngươi
và làm cho ta thấy sự vật là cakkhu-pasāda. Ðó là nền tảng
của sự thấy (cakkhu-viññāṇa, nhãn thức) và trở thành
phương tiện cho tiến trình ý thức của nhãn môn (cakkhu-dvāravīthi).
Ý muốn thấy có khuynh hướng làm phát triển nhãn quan. Vậy,
mắt gồm mười hiện tượng của sắc pháp trong đó pasāda,
đặc tính nhạy, là một.
Phần
nhạy (pasāda-rūpa) của các giác quan khác phải được hiểu
cùng một thế ấy.
Pasāda-rūpa,
phần nhạy, của tai, mũi, và lưỡi nằm giữa các bộ phận
ấy; kāyapasādarūpa, phần nhạy của thân, tràn lan khắp châu
thân ngoại trừ tóc, móng tay, móng chân, và trong lớp da chết
khô.
15.
Gocararūpa, Trần Cảnh.
Những
hiện tượng của sắc pháp làm đối tượng cho giác quan,
tức trần cảnh, tác động như hỗ trợ làm khởi sanh sự
hay biết của giác quan tương ứng.
16.
Rūpa, Sắc.
Danh
từ bao hàm cả hai, màu sắc và hình tướng.
17.
Phoṭṭhabba, Xúc
Vì
trong sắc pháp, nguyên tố có đặc tính làm dính liền (āpo,
nước) quá tế nhị nên ngũ quan không thể cảm nhận. Chỉ
có ba nguyên tố kia của Tứ Ðại -- tức đất, lửa, và gió
-- được xem là xúc, phoṭṭhabba, tức giác quan có thể cảm
nhận. Thí dụ như trong nước, đặc tính lạnh là tejo, lửa,
mềm dịu là paṭhavi, đất, và có sức nặng đè xuống, hay
áp lực, là vāyo, gió. Ta không thể sờ đụng āpo, nguyên
tố làm dính liền.
Xem
Compendium, trang 155, ghi chú số 6.
18.
Itthattaṁ purisattaṁ, Tánh Nam hay Tánh Nữ.
Cũng
được gọi itthindriyaṁ, purisindriyaṁ, là danh từ chung được
thâu gọn dưới hình thức bhāvarūpa, trạng thái do đó nam
tính và nữ tính được phân biệt.
19.
Hadayavatthu, Ý Căn.
Bộ
Dhammasaṅgani không đề cập đến sắc pháp nầy. Trong sách
Atthasālīni, danh từ hadayavatthu đuợc giải thích là cittassa
vatthu, căn cứ từ nơi đó tâm phát sanh.
Rõ
ràng Ðức Phật không nhất quyết chỉ nơi nào là căn môn
của tâm như Ngài đã chỉ rõ khi đề cập đến các giác
quan khác. Vào thời của Ngài, phần đông người ta tin rằng
quả tim là ý căn và thuyết nầy hiển nhiên được kinh Upanishads
hỗ trợ. Nếu muốn, Ðức Phật đã chấp nhận lý thuyết
rất phổ thông thời bấy giờ ấy, nhưng Ngài không nói đến.
Trong bộ Paṭṭhāna, bộ sách đề cập đến Duyên Hệ Tương
Quan, Ngài nhắc đến căn cứ của thức (ý căn) bằng những
danh từ gián tiếp như "yaṁ rūpaṁ nissāya" "tùy thuộc nơi
sắc pháp ấy", mà không quả quyết xác nhận rūpa (sắc) ấy
là trái tim (hadaya) hay bộ não. Nhưng theo quan niệm của các
nhà chú giải như Ngài Buddhaghosa và Anuruddha, thì ý căn nhất
định là tim. Nên hiểu biết rằng Ðức Phật không hề chấp
nhận hoặc bác bỏ lý thuyết rất phổ thông vào thời xa
xưa ấy, cho rằng ý căn là tim.
Xem
Compendium trang 156 và trang 277.
20.
Jīvitindriya, Mạng Căn.
Có
sự sống trong cả hai, danh pháp và sắc pháp. Ðời sống tâm
linh, danh mạng căn, vốn là một trong 52 tâm sở (cetasikas),
và đời sống vật lý, sắc mạng căn, vốn là một trong 28
sắc pháp, là những hiện tượng chánh yếu của cái gọi
là chúng sanh. Danh mạng căn là một trong bảy tâm sở phổ
thông, và sắc mạng căn kết hợp với hầu hết những nhóm
sắc, ngoại trừ cơ thể người chết. Ðồng thời, khi thức
tái sanh khởi phát, sắc mạng căn cũng khởi phát cùng một
lúc với nhóm sắc pháp sơ khởi. Jīvita (sự sống) được
xem là indriya (khả năng) vì nó ảnh hưởng mạnh mẽ và tạo
sức sống đến những phần tử khác đồng phát sanh.
21.
Kabalīkāro Āhāro, Vật Thực.
Ðược
gọi như vậy vì vật thực thô sơ được đem vào bằng cách
làm thành miếng ăn nhỏ.
Nơi
đây āhāra có nghĩa là sức dinh dưỡng (ojā) để nuôi cơ
thể vật chất. Trong câu tuyên ngôn, "sabbe sattā āhāraṭṭhitikā",
tất cả chúng sanh đều sống nhờ vật thực, danh từ āhāra
có nghĩa là một trợ duyên (paccaya), hay điều kiện.
22.
Mười Tám . 23. 4 + 5 + 4 (ngoại trừ xúc)+ 2 + 1 + 1 +1= 18.
23.
Sabhāvarūpa -- Ðặc Tính Cố Hữu Của Sắc Pháp.
Theo
những đặc tính cố hữu của nó -- tức đối với chính
những đặc tính cá biệt của nó, như cứng, lỏng v.v...
24.
Salakkhaṇarūpa -- Ðặc Tướng Của Sắc Pháp.
Theo
những đặc tướng tiêu biểu của nó. Gọi như vậy bởi
vì những hiện tượng nầy phát sanh với những đặc tướng
cố hữu vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā).
25.
Nipphannarūpa -- Ðược Tạo Nên Do Nhân Duyên.
Tức
do Nghiệp, tâm v.v... tạo nên.
26.
Rūparūpa -- Luôn Luôn Biến Ðổi.
Ở
đây chữ rūpa đầu được dùng theo ngữ nguyên, có nghĩa
là đặc tính biến đổi, giống như trong câu Pāli dukkha-dukkha.
27.
Sammasanarūpa -- Thích Nghi Ðể Ðược Suy Niệm.
Bởi
vì có thể giúp ta dùng nó như đối tượng để suy niệm,
hay đề mục quán chiếu, nhằm phát triển tuệ minh sát.
28.
Ākāsadhātu -- Nguyên Tố Không Gian.
Theo
các nhà chú giải Tích Lan (Sri Lanka) danh từ ākāsa xuất nguyên
từ "ā" + căn "kas", cày. Bởi vì không thể cày như trên đất
nên gọi không gian là ākāsa. Theo Saṁskrt, ākāsa phát nguyên
từ "ā" + căn "kās", có nghĩa thấy, nhận ra. Theo Ngài Ledi
Sayadaw, chữ nầy xuất nguyên từ "ā" + căn "kās", có nghĩa
sáng chói, xuất hiện. Ākāsa, không gian, vốn tự nó là hư
không. Và như vậy, là vĩnh cửu, trường tồn. Ākāsa là một
nguyên tố, cũng gọi không giới, trong ý nghĩa là một nijjīva,
không có thực thể, không phải như một nguyên tố "sống"
như bốn Ðại Chánh Yếu. Khi được kể là một trong 28 sắc
pháp, ākāsa không có nghĩa là lớp không gian rộng lớn bên
ngoài, mà là không gian bên trong, phân giới hạn chia những
nhóm sắc pháp với nhau. Vì lẽ ấy Abhidhamma (Vi Diệu Pháp)
xem là paricchedarūpa, phân giới hạn. Mặc dầu ākāsa, không
gian, không phải là một đối tượng có thực thể, nhưng
vì nó kết hợp với tất cả những sắc pháp phát sanh do
bốn phương cách, Vi Diệu Pháp dạy rằng cùng một thế, không
gian cũng được tạo nên do bốn nhân duyên như Nghiệp, tâm,
hiện tượng thời tiết và vật thực. Ðồng thời với sự
phát sanh và hoại diệt của những sắc pháp được tạo nên
do nhân duyên, ākāsa rūpa (sắc pháp không gian) cũng phát sanh
và hoại diệt cùng lúc.
Xem
Compendium, trang 226.
29.
Viññatti -- Những Hiện Tượng Truyền Cảm.
Là
phương tiện do đó người ta có thể truyền cảm tư tưởng
với nhau, người nầy có thể hiểu biết ý định của người
kia.
Có
hai cách truyền thông, là kāyaviññatti, biểu lộ bằng thân,
tức truyền cảm bằng hành động, và vacīviññatti, biểu
lộ bằng lời nói. Kāyaviññatti, thân biểu, phát nguyên do
tâm (cittaja) tạo nên nguyên tố gió (vāyodhātu, có đặc tính
di động) đưa đến hành động bằng thân. Vacīviññatti, ngữ
biểu, phát nguyên do tâm tạo nguyên tố đất (paṭhavi- dhātu).
Thời gian tồn tại của một viññatti chỉ là một chặp tư
tưởng, hay sát-na tâm.
30.
Vikārarūpa -- Tánh Cách Biến Ðổi Của Sắc Pháp.
31.
Lahutā -- Ðặc Tính Nhẹ Của Sắc Pháp.
Chỉ
sức khỏe của cơ thể vật chất, và được ví như một
thanh sắt nóng suốt ngày.
32.
Mudutā -- Mềm Dịu.
Như
một tấm da được đập và nhồi đầy đủ.
33.
Kammaññatā -- Nhu Thuận.
Nghịch
nghĩa với sự cứng rắn của thân, được ví như một khối
vàng đã được nhồi nắn nhuyển.
34.
Lakkhaṇarūpa -- Ðặc Tướng Của Sắc Pháp.
Ðược
gọi như vậy vì sắc pháp có nhiều đặc tướng cá biệt
trong những giai đoạn khác nhau như sanh (upāda), trụ (ṭhiti),
và diệt (bhaṅga).
Upacaya
có nghĩa là sự chồng chất sơ khởi, hay sự phát sanh sơ
khởi, ở đây gọi là sự khởi sanh. Trong chữ upacaya, "upa"
được dùng trong nghĩa "đầu tiên". Sự khởi sanh của ba thập
pháp -- mười-thành-phần thân, mười-thành-phần-pháp, và
mười-thành-phần-giới (kāyadasaka, bhāva-dasaka, vatthudasaka)
ngay lúc được thọ thai vào lòng mẹ. Sự khởi sanh kế tiếp
của ba thập pháp, từ giai đoạn tịnh của thức tái sanh
xuyên qua kiếp sống, được xem như sự liên tục (santati).
Cả hai, upacaya (khởi sanh) và santati (liên tục) được xem
là jāti, sự sanh. Hai danh từ nầy khác nhau ở điểm upacaya
là bước sơ khởi của tiến trình sắc pháp, còn santati là
sự liên tục lặp đi lặp lại cũng tiến trình sắc pháp
ấy. Như vậy con số các sắc pháp là 27, thay vì 28.
Thời
gian tồn tại của một sắc pháp thông thường được xem
là 17 chặp tư tưởng [1]. Chặp đầu tiên là upacaya, chặp
cuối cùng là aniccatā, 15 chặp ở khoảng giữa là jaratā.
Aniccatā là sự phân tán của sắc pháp.
Một
cách chính xác, chỉ có ba lakkhaṇarūpas (đặc tướng của
sắc pháp) là sanh, hoại và diệt. Aniccatā đồng nghĩa với
maraṇa (chết). Suốt khoảng cách giữa sanh và tử là sự
trưởng thành, trụ, hay hoại diệt.
Ngoại
trừ năm sắc pháp -- tức hai viññatti, jāti, jarā, và aniccatā
-- tất cả 23 sắc pháp còn lại tồn tại 17 chặp tư tưởng,
hay sát-na tâm.
Ghi
chú:
[1]
Theo các nhà chú giải, trong thời gian một cái nhoáng trời
chớp, hằng tỷ chặp tư tưởng, hay sát-na tâm, có thể khởi
sanh.
-ooOoo-
Rūpavibhāgo
Phân
loại các Sắc pháp
3.
Sabbañ
ca pan'etaṁ ahetukaṁ sappaccayaṁ, sāsavaṁ, saṁkhataṁ, lokiyaṁ,
kāmāvacaraṁ, anāramma- ṇaṁ, appahātabbam'evā'ti ekavidhaṁ
pi ajjhattikabāhirādi- vasena bahudhā bhedaṁ gacchati.
Kathaṁ?
Pasādasaṅkhātaṁ
pañcavidham pi ajjhattikarūpaṁ nāma; itaraṁ bāhirarūpaṁ.
Pasādahadayasaṅkhātaṁ
chabbidham pi vatthu- rūpaṁ nāma; itaraṁ avatthurūpaṁ.
Pasādaviññattisaṅkhātaṁ
sattavidham pi dvāra- rūpaṁ nāma; itaraṁ advārarūpaṁ.
Pasādabhāvajīvitasaṅkhātaṁ
aṭṭhavidham pi indriya rūpaṁ nāma; itaraṁ anindriyarūpaṁ.
Pasādavisayasaṅkhātaṁ
dvādasavidhaṁ pi oḷārika- rūpaṁ, santike rūpaṁ, sappaṭigharūpaṁ
ca; itaraṁ sukhumarūpaṁ, dūre rūpaṁ, appaṭigharūpaṁ.
Kammajaṁ
upādinnarūpaṁ; itaraṁ anupādinna- rūpaṁ.
Rūpāyatanaṁ
sanidassanarūpaṁ; itaraṁ anidassana rūpaṁ.
Cakkhādidvayaṁ
asampattavasena, ghāṇādittayaṁ sampattavasenā'ti pañcavidham pi
gocaraggāhikarūpaṁ; itaram agocaraggāhikarūpaṁ.
Vaṇṇo,
gandho, raso, ojā, bhūtacatukkañc'āti aṭṭhavidham pi avinibbhogarūpaṁ;
itaraṁ vinibbhoga- rūpaṁ.
Icc'evam
aṭṭhavīsati vidham pi ca vicakkhaṇā
Ajjhattikādibhedena
vibhajanti yathāraham.
Ayam'
ettha rūpavibhāgo.
§3
Bây
giờ, tất cả các sắc pháp chia làm nhiều loại khác nhau
như sau:
1.
Không nhân (35),
2.
Có duyên hệ (36),
3.
Có hoặc lậu (37),
4.
Ðược cấu tạo (38),
5.
Tại thế (39),
6.
Thuộc Dục Giới (40),
7.
Không có đối tượng (41),
8.
Không thể bị loại trừ (42).
Như
vậy sắc pháp chỉ có một. Nếu quan niệm như ở bên trong,
ở bên ngoài v.v... thì sắc pháp trở thành có nhiều loại.
Bằng
cách nào?
Năm
loại sắc pháp có phần nhạy là ở bên trong (43); còn lại
là ngoại sắc.
Sáu
loại, bao gồm năm bộ phận có phần nhạy và tim, là sắc
pháp có căn môn (44); còn lại là không căn.
Bảy
loại, gồm các sắc pháp có phần nhạy và (hai) phương tiện
tiêu biểu, là sắc pháp có căn môn (45); còn lại là không
căn môn.
Tám
loại, gồm các sắc pháp có phần nhạy, tánh nam hay tánh nữ
và có sự sống là sắc pháp có khả năng kiểm soát (46);
còn lại không có khả năng kiểm soát.
Mười
hai loại, gồm những phần nhạy và (bảy) đối tượng [1],
là những sắc pháp thô (47), gần và có thể sờ đụng; còn
lại là vi tế, xa, và không thể sờ đụng.
Các
sắc pháp sanh khởi do Nghiệp là "bám chặt dính liền" (48);
những vật khác không "bám chặt".
Vật
có hình tướng có thể thấy được; còn lại không thể thấy.
Mắt
và tai, không cần đụng đến (đối tượng); lưỡi, mũi,
và thân, cần phải đụng đến (đối tượng), là năm loại
sắc pháp bám giữ lấy đối tượng (49); những sắc pháp
khác không giữ lấy đối tượng.
Màu,
mùi, hương, sinh tố (50), và bốn Ðại Chánh Yếu là tám loại
sắc pháp không thể tách rời nhau (51); các sắc pháp khác
có thể tách rời nhau.
Tóm
lược
Như
vậy, tùy theo sắc pháp ở bên trong và bên ngoài v.v..., bậc
hiền trí phân tách làm 28 loại. Trên đây là sự phân loại
các Sắc Pháp.
Ghi
chú:
[1]
Bởi vì "xúc giác" bao gồm ba nguyên tố. Bốn Ðại ngoại
trừ āpo (thủy đại).
Chú
Giải:
35.
Ahetukaṁ, Không Nhân.
Bởi
vì các sắc nầy không kết hợp với những căn lobha, dosa
(tham, sân) v.v...
36.
Sappaccayaṁ, Có Duyên Hệ.
Bởi
vì nó liên quan đến những nhân: Kamma, citta, utu, và āhāra
(Nghiệp, tâm, điều kiện thời tiết và vật thực).
37.
Sāsavaṁ, Có Hoặc Lậu.
Bởi
vì nó là đối tượng của Dục Vọng
38.
Saṅkhataṁ, Ðược Cấu Tạo.
Sắc
pháp hiện hữu do duyên sanh, tức hữu vi. Ðược cấu thành
do bốn nguyên nhân: Nghiệp, tâm, thời tiết, và vật thực.
39.
Lokiyaṁ, Tại Thế.
Thuộc
về thế gian, bởi vì liên kết với thế gian Ngũ Uẩn Thủ
(pañcupādānakkhandhaloka, chấp thủ vào năm uẩn). Không có
sắc xuất thế.
40.
Kāmāvacaraṁ, Thuộc Về Dục Giới.
Bởi
vì nằm trong phạm vi của ngũ trần.
41.
Anārammaṇaṁ, Không Có Ðối Tượng.
Bởi
vì tự chính nó không thể tri giác đối tượng. Chính tâm
tri giác đối tượng xuyên qua giác quan. Sắc pháp, rūpa, tác
hành như đối tượng.
42.
Appahātābbaṁ, Không Thể Bị Loại Trừ.
Bởi
vì không có sự tuần tự loại trừ các sắc pháp như loại
trừ những khát vọng.
Danh
từ nầy không hàm xúc ý nghĩa cho rằng sắc pháp "không thể
bị hủy diệt" vì sắc pháp vẫn bị định luật vô thường
chi phối.
43.
Ajjhattikaṁ, Cá Nhân.
Sắc
pháp ở bên trong, thuộc về hạng gọi là cá nhân. Năm giác
quan có phần nhạy rất cần thiết cho một chúng sanh. Nếu
không có những bộ phận nầy chúng sanh trở thành vô tri vô
giác như một khúc gỗ.
44.
Tức là nó có tác dụng như cứ điểm của thức, ý căn.
45.
Các sắc pháp tác hành như căn môn cho những hành động thiện
và bất thiện, cho tâm và tâm sở, cho hành động và lời
nói.
46.
Indriyarūpaṁ, Khả Năng Kiểm Soát Sắc Pháp.
Ðược
gọi như vậy vì trong mỗi phạm vi tương ứng nó có năng
lực kiểm soát. Thí dụ như con mắt thịt, được cấu thành
do mười sắc pháp; nhưng chính phần nhạy của mắt, hay nhãn
quan (cakkhupasādarūpa) kiểm soát chín phần còn lại. Những
phần nhạy của tai, mũi, lưỡi v.v... phải được hiểu cùng
một thế ấy. Nam tánh hay nữ tánh kiểm soát trạng thái nam
hay nữ.
Cũng
như vị thuyền trưởng trên một chiếc tàu, chính sắc mạng
căn kiểm soát các sắc pháp.
47.
Oḷārikaṁ, Thô.
Bởi
sự quan trọng của nó về cả hai phương diện, chủ quan và
khách quan. Ðược xem là santike (gần), vì tánh cách thọ cảm
của nó. Do đặc tánh "thô" và "gần" cả hai, giác quan nhạy
và đối tượng của giác quan, chạm vào nhau. Vì lẽ ấy được
gọi là sappaṭigha, theo nghĩa đen là "đụng chạm với nhau".
Xem
Compendium, trang 159, chú giải số 4.
48.
Upādinnaṁ, Bám Chặt.
Tham
ái và tà kiến bám chặt vào 18 loại sắc pháp đầu tiên
sanh khởi do Nghiệp.
49.
Gocaraggāhikarūpaṁ, Giữ Lấy Ðối Tượng.
Ðược
gọi như vậy bởi vì nó giữ lấy ngoại cảnh. Ngũ quan có
tác dụng làm căn môn cho thức khởi sanh. Nhưng mắt, tai v.v...
vốn là sắc pháp, không thể hiểu biết đối tượng. Chính
ngũ quan thức, như nhãn thức, nhĩ thức v.v... hay biết đối
tượng. Theo Abhidhammattha Saṅgaha (Vi Diệu Pháp Toát Yếu),
hình sắc và âm thanh được xem là những đối tượng không
đến gần mắt và tai như những sự xúc chạm bằng thân v.v....
Cả hai, mắt và tai, thâu nhận đối tượng từ xa, không cần
phải trực tiếp chạm đến. Trong trường hợp các đối tượng
khác, thì trực tiếp chạm đến căn môn của giác quan. Thí
dụ như muốn có vị thì đối tượng phải trực tiếp tiếp
chạm với lưỡi. Hai đối tượng kia, hương và xúc, cũng
phải được hiểu như thế. Có thể vì lẽ ấy mà tác giả
chú giải phân biệt gocaraggāhikarūpaṁ, thủ cảnh sắc, tức
giữ lấy đối tượng, và agocaraggāhikarūpaṁ, bất thủ cảnh
sắc, tức không giữ lấy đối tượng.
Xem
Compendium, trang 160.
50.
Ojā, Sinh Tố.
Vốn
tự nó là một sắc pháp, có khả năng tạo nên những sắc
pháp khác.
51.
Thông
thường tám sắc pháp nầy dính liền với nhau. Bốn Ðại
Chánh Yếu không thể tách rời nhau và bốn Chuyển Hóa cũng
vậy. Vì lẽ ấy có danh từ suddhaṭṭhaka, "một nhóm thuần
túy tám thành phần", và ojaṭṭhaka, "với ojā (sinh tố) như
phần thứ tám". Sự trưởng thành của sắc pháp vô tri cũng
do nơi sự hiện hữu của ojā phổ thông nầy.
-ooOoo-
Rūpasamuṭṭhāna-Naya
Sự
khởi sanh của các sắc pháp (52)
4.
Kammaṁ,
cittaṁ, utu, āhāro c'āti cattāri rūpa- samuṭṭhānāni nāma.
Tatthā
kāmāvacaraṁ rūpāvacaraṁ cā ti pañcavīsati- vidham pi kusalākusalakammam-abhisaṅkhataṁ
ajjhattika-santāne kammasamuṭṭhānarūpaṁ paṭi- sandhim' upādāya
khaṇe samuṭṭhāpeti.
Arūpavipākadvipañcaviññāṇavajjitaṁ
pañcasattati- vidham pi cittaṁ cittasamuṭṭhānarūpaṁ paṭhama-
bhavaṅgaṁ upādāya jāyantam' eva samuṭṭhāpeti.
Tattha
appanājavanaṁ iriyāpatham' pi sannāmeti. Votthapanakāmāvacarajavanābhiññā
pana viññat-tim' pi samuṭṭhāpenti.
Somanassa-javanāni
pan'ettha terasa-hasanam pi janenti.
Sītuṇhotu-samaññātā
tejo-dhātu-ṭhitippattā'va utu- samuṭṭhānarūpaṁ ajjhattañ ca
bahiddhā ca yathārahaṁ samuṭṭhāpeti.
Ojā-sankhāto
āhāro āhārasamuṭṭhānarūpaṁ ajjho- haraṇakāle ṭhānappatto'va
samuṭṭhāpeti.
Tattha
hadaya-indriyarūpāni kammajañ' eva viññatti- dvayaṁ cittajam' eva,
saddo cittotujo, lahutādittayaṁ utucittāhārehi sambhoti.
Avinibbhogarūpāni
c'eva ākāsadhātu ca catūhi sambhūtāni. Lakkhaṇarūpāni na kutoci
jāyanti.
Aṭṭhārasa
paṇṇarasa terasa dvādasāti ca
Kammacittotukāhārajāni
honti yathākkamaṁ.
Jāyamānādirūpānaṁ
sabhāvattā hi kevalaṁ
Lakkhaṇāni
na jāyanti kehicī'ti pakāsitaṁ.
Ayam'
ettha rūpasamuṭṭhānanayo.
§4
Sắc
pháp khởi sanh bằng bốn phương cách, đó là: 1) Nghiệp, 2)
Tâm, 3) Thời Tiết, và 4) Vật Thực.
1.
Sắc Pháp Khởi Sanh Do Nghiệp (53)
Nơi
đây, hai mươi lăm loại thiện và bất thiện nghiệp thuộc
Dục Giới và Sắc Giới, trong sự liên tục bên trong chính
ta, tạo nên những sắc pháp do nghiệp sanh, trong từng chặp
tư tưởng, bắt đầu từ khi được thọ thai (tức từ lúc
thức nối liền khởi sanh).
2.
Sắc Pháp Khởi Sanh Do Tâm (54)
Bảy
mươi lăm loại tâm, ngoại trừ những tâm Quả thuộc Vô Sắc
Giới và năm cặp thức, tạo nên sắc pháp do tâm tạo, ngay
vào lúc chặp bhavaṅga (hộ kiếp) đầu tiên khởi phát.
Nơi
đây những chặp tâm Thiền Javanas (tốc hành) điều hòa tư
thế (oai nghi) của thân. Nhưng những Xác Ðịnh Tâm, những
chặp tốc hành tâm (javanas) thuộc Dục Giới và những Siêu
Trí tâm cũng tạo những phương tiện truyền thông (cử chỉ
và lời nói). Nơi đây mười ba tốc hành tâm liên hợp với
thọ hỷ cũng tạo tiếu sanh tâm (tâm làm mĩm cười).
3.
Sắc Pháp Khởi Sanh Do Ðiều Kiện Thời Tiết (55)
Nguyên
tố lửa (Hỏa Ðại) -- bao hàm cả hai, nóng và lạnh -- khi
đến giai đoạn trụ (trong ba giai đoạn sanh, trụ, diệt) thì
tạo nên cả hai, tùy trường hợp, các sắc pháp bên trong
và sắc pháp bên ngoài, do điều kiện thời tiết sanh.
4.
Sắc Pháp Khởi Sanh Do Vật Thực (56)
Vật
thực, được gọi là tinh chất dinh dưỡng, trong khi tiêu hóa
đến giai đoạn trụ, tạo nên những sắc pháp do vật thực
sanh.
Nơi
đây trái tim và (tám) sắc mạng căn khởi sanh do nghiệp. Hai
phương tiện truyền thông (biểu lộ bằng thân, thân biểu,
và bằng lời nói, ngữ biểu,) chỉ sanh khởi do tâm. Tiếng
nói sanh khởi do tâm và điều kiện thời tiết. Ba đặc tính
nhẹ v.v... sanh khởi do điều kiện thời tiết, tâm, và vật
thực. Những đặc tính không thể tách rời nhau của sắc
pháp và nguyên tố hư không khởi sanh do bốn nguyên nhân.
Các
đặc tính của sắc pháp không do nguyên nhân nào.
Mười
tám, mười lăm, mười ba và mười hai, theo thứ tự, do nghiệp,
tâm, điều kiện thời tiết, và vật thực tạo. Những dấu
hiệu cá biệt của sắc pháp khởi sanh v.v... không do nguyên
nhân nào tạo, được nói như vậy, vì hoàn toàn cố hữu
dính liền theo các pháp ấy.
Chú
Giải
52.
Rūpasamuṭṭhāna, Sự Sanh Khởi Của Các Sắc Pháp.
Phật
Giáo không cố gắng giải quyết vấn đề nguồn gốc cùng
tột của những hiện tượng vật lý, hay sắc pháp. Thừa
nhận rằng đây là một sự kiện sẵn có, sắc pháp nầy
vốn hiện hữu, Phật Giáo dạy rằng sắc pháp (rūpa) phát
triển bằng bốn phương cách.
53.
Kammaja, Do Nghiệp.
Một
cách chính xác, Kamma, Nghiệp, có nghĩa là những loại tâm
thiện và bất thiện trong quá khứ. Chỉ những hạng tâm thuộc
Dục Giới và Sắc Giới mới có chiều hướng tạo sắc pháp.
Ðó là 12 loại tâm bất thiện, 8 loại tâm thiện, và 5 loại
tâm thiện Thiền Sắc Giới (rūpajhānas). Một loại tâm thiện
hay bất thiện tạo Nghiệp phát sanh vào lúc lâm chung của
một người, tạo duyên cho thức tái sanh (paṭisandhi) phát
khởi trong kiếp sống sau kế đó. Cùng lúc với sự khởi
sanh của thức tái sanh, sắc pháp được Nghiệp quá khứ tạo
điều kiện cũng khởi sanh vào lúc ấy, như lửa của một
ngọn đèn được mồi, chí đến chặp tư tưởng (sát-na-tâm)
thứ 17, khi con người lâm chung.
Do
Nghiệp lực tái tạo, ngay vào lúc bà mẹ thọ thai, khởi sanh
ba thập pháp -- mười thành-phần-thân, mười thành-phần-tánh
(nam hay nữ), và mười thành-phần-căn. Mười thành-phần-thân
bao gồm bốn nguyên tố chánh yếu (Tứ Ðại), bốn chuyển
hóa, mạng căn, và phần nhạy của thân (kāyapasāda). Mười-thành-phần-tánh
và mười-thành-phần- căn cũng được cấu thành cùng một
cách ấy, nghĩa là chín thành phần đầu và thành phần thứ
mười là tánh nam hay nữ, và căn.
54.
Cittaja, Do Tâm.
Tâm
-- tuy vô hình, nhưng là yếu tố hổn hợp có rất nhiều năng
lực trong cái gọi là chúng sanh -- có khả năng tạo sắc pháp.
Nói cách khác, tư tưởng thiện hay bất thiện tạo nên sắc
pháp đáng hay không đáng được ưa thích. Ðiều nầy hiển
hiện rõ rệt qua những biến đổi sắc tướng của một người
do sự biến đổi tư tưởng của người ấy. Theo Abhidhamma,
Vi Diệu Pháp, ngay vào lúc chặp tâm hộ kiếp (bhavaṅga) đầu
tiên khởi sanh, có nghĩa là tức khắc liền sau khi thức tái
sanh (paṭisandhi) chấm dứt, sắc pháp do tâm tạo khởi phát.
Thức tái sanh không tạo sắc pháp-do-tâm-tạo, vì chính Nghiệp
làm nhiệm vụ ấy, và bởi vì đây là yếu tố mới mẻ trong
kiếp sống mới. Không có sắc-pháp-do-tâm-tạo khởi sanh vào
giai đoạn trụ và diệt của những chặp tư tưởng, vì những
sát-na tâm ấy rất yếu ớt. Mười thành phần nhạy không
đủ khả năng tạo sắc pháp.
Bốn
tâm Thiền Quả Vô Sắc Giới (Arūpa Vipāka Jhāna) không tạo
sắc pháp, vì đã được trau giồi và phát triển bằng cách
buông bỏ, không luyến ái vào sắc pháp.
Những
chi Thiền rất cần thiết để tạo loại sắc-pháp-do-tâm-tạo.
Do đó, người đắc Thiền (Jhāna) có thể tạo sắc pháp có
năng lực mạnh mẽ giúp cho mình sống mà không cần vật thực.
Tâm linh mạnh không thiếu sức sống. Người chứng nghiệm
hạnh phúc Niết-Bàn (Nibbānic bliss) có thể sống một thời
gian lâu dài mà không cần vật thực. Thí dụ như Ðức Phật.
Ngài không ăn uống trong suốt 49 ngày sau khi Thành Ðạo.
Trong
75 loại tâm, 26 tốc hành tâm, javanas -- 10 rūpa kusala và kriyā
(tâm thiện và hành thuộc Sắc Giới), 8 arūpa kusala và kriyā
(tâm thiện và hành thuộc Vô Sắc Giới), và 8 lokuttaras (tâm
siêu thế) -- có thể tạo những cử động phi thường bằng
thân như bay bổng trên không trung, đi xuyên qua đất, đi trong
nước v.v...
Nơi
đây tâm Xác Ðịnh (Votthapana) là ý môn hướng tâm (manodvārāvajjana).
29 Kāmajavanas (tốc hành tâm thuộc Dục Giới) là 12 tâm bất
thiện, 1 hasituppāda (tiếu sanh tâm), và 16 sobhana kusala và kriyā
(tâm thiện đẹp và hành). Abhiññā citta (Siêu Trí, thường
gọi là thần thông) là hai Jhāna kusala và kriyā (Ngũ Thiền
thiện và hành) đồng phát sanh với thọ xả và liên hợp
với tri kiến.
13
javanas (tốc hành tâm) là 4 bất thiện và 8 tâm đẹp thiện
và hành, đồng phát sanh cùng thọ hỷ, và một tiếu sanh tâm.
Người phàm tục, khi cười ra tiếng hay mĩm cười, thì kinh
nghiệm bốn akusala (bất thiện) và bốn sobhanas, tâm đẹp
hay tịnh hảo; những bậc sekhas (Tu Ðà Huờn, Tư Ðà Hàm và
A Na Hàm) cũng chứng nghiệm các loại tâm nầy, ngoại trừ
hai loại tâm bất thiện đồng phát sanh với tà kiến. Các
bậc A La Hán, chứng nghiệm bốn tâm hành (kriyās) và một
tiếu sanh tâm. Chư Phật chỉ mĩm cười với bốn sobhana kriyās
(tâm hành đẹp).
55.
Utuja, Do Thời Tiết.
Như
đã có đề cập ở phần trên, vào lúc tái sanh, Kamma (Nghiệp)
tạo ba thân thập pháp là mười thành-phần-thân, mười thành-phần-tánh
nam hay nữ, và mười thành-phần-căn. Nguyên tố lửa bên trong
nằm trong ba nhóm thập pháp ấy, phối hợp với nguyên tố
lửa bên ngoài, tạo những sắc pháp do điều kiện thời tiết,
vào giai đoạn trụ và diệt của thức tái sanh. Vào giai đoạn
sơ khởi của sự tái sanh, nguyên tố lửa do Nghiệp tạo thay
thế nguyên tố lửa do tâm tạo.
Rõ
ràng là danh từ utu, được xử dụng trong ý nghĩa lửa, bao
gồm cả hai nóng và lạnh. Một cách chính xác, chính nguyên
tố lửa (tejo) bên trong và bên ngoài tạo sắc pháp (rūpa).
Nên hiểu rằng sắc pháp được tạo do điều kiện thời
tiết cũng được bao hàm trong phân hạng utuja.
56.
Āhāraja, Do Vật Thực.
Danh
từ āhāra có nghĩa là tinh chất dinh dưỡng trong vật thực,
và ojā, sinh tố, nằm trong nhóm sắc pháp tạo nên do Nghiệp,
tâm, và điều kiện thời tiết. Sinh tố bên trong, do tinh chất
dinh dưỡng bên ngoài nâng đỡ, tạo sắc pháp vào giai đoạn
tịnh, vốn tồn tại trong 49 sát-na nhỏ. Sắc pháp khởi sanh
khi ojā (sinh tố, tức nguyên tố bồi bổ sự sống trong vật
thực) được tiêu hóa, lan rộng trong thân. Riêng rẽ một
mình, sinh tố bên trong không thể tạo sắc pháp nếu không
có tinh chất dinh dưỡng bên ngoài.
Hadaya,
trái tim và 8 Indriya rūpas (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tánh
nam, tánh nữ, và mạng căn) hoàn toàn do Nghiệp tạo. Như vậy
jīvitindriya (mạng căn) hay sức sống trong các chúng sanh hữu
tri hữu giác như người và thú, phải được phân biệt với
những vật vô tri giác như cây cỏ và những vật thể vô
cơ, vì những vật nầy không phải do Nghiệp tạo. Chúng vẫn
có một loại sinh sống, nhưng khác với đời sống của con
người và loài thú.
Ākāsa,
Không Gian.
Khoảng
hư không được xem là khởi sanh do cả bốn nguyên nhân.
Sadda,
Tiếng Nói.
Nguyên
nhân của những tiếng nói được phát âm rõ ràng là do tâm;
Utu, hiện tượng thời tiết, là nguyên nhân tạo những tiếng
động không có giọng nói. Nhạc điệu do con người dùng nhạc
cụ tạo nên, do điều kiện thời tiết và tâm tạo duyên.
Kammaja,
Do Nghiệp = 18.
Ðó
là: không thể tách rời nhau 8 + không gian 1 + trái tim 1 + Mạng
căn 8.
Cittaja,
Do Tâm = 15.
Ðó
là những biến đổi 5 + tiếng động 1 + không thể rời nhau
8 + không gian 1.
Utuja,
Do Thời Tiết = 13.
Ðó
là: tiếng động + nhẹ v.v... 3 + không thể tách rời nhau 8
+ Không gian 1.
Āhāraja,
Do Vật Thực = 12.
Ðó
là: nhẹ v.v... 3 + không thể tách rời nhau 8 + không gian 1.
4 Lakkhaṇa rūpas, đặc tướng của sắc pháp, là chung cho tất
cả vì không có sắc pháp nào không trải qua ba giai đoạn
-- sanh, hoại, và diệt.
-ooOoo-
Kalāpa-Yojanā
Tổng
hợp các sắc pháp (57)
5.
Ekuppādā
ekanirodhā ekanissayā sahavuttino ekavīsati rūpa-kalāpā nāma.
Tattha
jīvitaṁ avinibbhogarūpañ ca cakkhunā saha cakkhu-dasakan'ti pavuccati.
Tathā sotādīhi sad- dhiṁ sotadasakaṁ, ghāṇadasakaṁ, jivhādasakaṁ,
kāyadasakaṁ, itthibhāvadasakaṁ, pumbhāva-dasakaṁ, vatthudasakañ
c'āti yathākkamaṁ yojetabbaṁ. Avinibbhogarūpam' eva jīvitena saha
jīvitanavakan' ti pavuccati. Ime nava kamma- samuṭṭhāna-kalāpā.
Avinibbhogarūpaṁ
pana suddhaṭṭhakaṁ. Tad'eva kāyaviññattiyā saha kāyaviññattinavakaṁ
vacī-viññatti saddehi saha vacīviññattidasakaṁ; lahu- tādīhi
saddhim lahutādi-ekādasakaṁ kāyaviññatti- lahutādi-dvādasakaṁ
vacīviññattisadda-lahutādi-terasakañ c'āti cha cittasamuṭṭhānakalāpā.
Suddhaṭṭhakaṁ,
saddanavakaṁ, lahutādi ekādasa-kaṁ, sadda-lahutādi dvādasakañ
c'āti cattāro utusamuṭṭhāna-kalāpā.
Suddhaṭṭhakaṁ,
lahutādekādasakañ cā'ti dve āhāra- samuṭṭhāna-kalāpā.
Tattha
suddhaṭṭhakaṁ, saddanavakañ c'āti utu- samuṭṭhāna-kalāpā
bahiddhā pi'labbhanti. Avasesā pana sabbe pi ajjhattikam' eva.
Kammacittotukāhāra-samuṭṭhānā
yathākkamaṁ
Nava
cha caturo dve'ti kalāpā ekavīsati.
Kalāpānaṁ
paricchedalakkhaṇattā vicakkhaṇā
Na
kalāpaṅgaṁ iccāhu ākāsaṁ lakkhaṇāni ca.
Ayam'ettha
kalāpa-yojanā.
§5
Có
hai mươi mốt tổng hợp sắc pháp xét vì các sắc pháp nầy
đồng sanh (hay cùng có chung một khởi điểm), đồng diệt
(hay cùng chung một điểm chấm dứt), cùng có chung một nền
tảng (căn), và cùng tồn tại chung.
Nơi
đây mạng căn và (tám) sắc pháp không thể tách rời nhau
cùng với mắt gọi là "mười thành-phần-mắt". Cùng thế
ấy, "mười-thành-phần-tai" cùng với tai v.v..., "mười thành-phần-mũi",
"mười thành-phần-lưỡi", "mười thành-phần-thân", "mười
thành-phần-nữ-tánh", "mười thành-phần-nam-tánh", "mười
thành-phần-căn". Những (tám) sắc pháp không thể tách rời
nhau nầy, cùng với mạng căn, được gọi là "chín thành-phần-mạng-căn".
Chín tổng hợp sắc pháp nầy do Nghiệp tạo.
Những
sắc pháp không thể tách rời nhau hợp thành "tám-pháp-thuần-túy".
Cùng với thân biểu (sự biểu lộ của thân), các sắc pháp
nầy hợp thành "chín-thành-phần-thân-biểu"; cùng với ngữ
biểu và tiếng động, hợp thành "mười-thành-phần-ngữ-biểu";
cùng với những đặc tính nhẹ nhàng, mềm dẽo, và nhu thuận,ṁười-một-thành-phần-nhẹ
v.v..."; mười-hai-thành-phần-thân-biểu nhẹ nhàng, mềm dẽo,
nhu thuận; và mười ba-thành-phần-ngữ-biểu, tiếng động,
đặc tính nhẹ nhàng, mềm dẽo, và nhu thuận.
Sáu
tổng hợp nầy của sắc pháp do tâm tạo.
Tám
thành-phần-thuần-túy, chín thành-phần-tiếng, mười thành-phần-nhẹ,
mềm dẽo, và nhu thuận; mười hai thành-phần-tiếng, nhẹ,
mềm dẽo, và nhu thuận -- bốn pháp nầy do hiện tượng thời
tiết tạo.
Tám
thành-phần-thuần-túy, và mười một thành-phần nhẹ, mềm
dẽo, và nhu thuận là hai sắc pháp do vật thực tạo.
Trong
những tổng hợp các sắc pháp nầy có hai do hiện tượng
thời tiết tạo -- thành-phần-thuần-túy và thành-phần-tiếng
-- cũng từ bên ngoài. Tất cả còn lại là hoàn toàn ở bên
trong. Có hai mươi mốt tổng hợp sắc pháp -- chín, sáu, bốn
và hai, theo thứ tự, được tạo nên do Nghiệp, tâm, hiện
tượng thời tiết, và vật thực.
Vì
không gian phân giới hạn và các đặc tướng của sắc pháp
chỉ nêu rõ tánh tự nhiên, bậc hiền trí dạy rằng hai thành
phần nầy không nằm trong tổng hợp các sắc pháp.
Ðây
là sự hình thành những tổng hợp các sắc pháp.
Rūpapavattikkamo
Sự
khởi sanh của các sắc pháp (58)
6.
Sabbānipan'etāni
rūpāni kāmaloke yathārahaṁ anūnāni pavattiyaṁ upalabbhanti. Paṭisandhiyaṁ
pana saṁsedajānañ c'eva opapātikānañ ca cakkhu-sota-ghāṇa-jivhā-kāya-bhāva-vatthu-dasaka-saṅkhā-
tāni satta-dasakāni pātubhavanti, ukkaṭṭhavasena. Omakavasena pana
cakkhu-sota-ghāṇa-bhāva-dasakāni kadāci pi na labbhanti. Tasmā tesaṁ
vasena kalāpahāni veditabbā.
Gabbhaseyyaka-sattānaṁ
pana kāya-bhāva-vatthu-dasaka-saṅkhātāni tīṇi dasakāni pātubhavanti.
Tathā, pi bhāvadasakaṁ kadāci na labbhati. Tato paraṁ pavattikāle
kamena cakkhudasakādīni ca pātubhavanti.
Icc'evaṁ
paṭisandhiṁ upādāya kammasamuṭṭhānā dutiyacittam upādāya
citta-samuṭṭhānā ṭhitikālam upādāya utusamuṭṭhāṇā ojāpharaṇaṁ
upādāya āhārasamuṭṭhānā c'āti catusamuṭṭhānarūpa-kalāpa-santati
Kāmaloke dīpajālā viya nadīsoto viya ca yāvatāyukaṁ abbhocchinnaṁ
pavattati.
Maraṇakāle
pana cuti-cittopari sattarasama cittassa ṭhiti kālaṁ upādāya kammajarūpāni
na uppajjanti. Puretaraṁ uppannāni ca kammaja-rūpāni cuticitta- samakālam
eva pavattitvā nirujjhanti. Tato paraṁ cittajāhāraja-rūpañ ca vocchijjhati.
Tato paraṁ utusamuṭṭhānarūpaparamparā yāva mata-kaḷebara-saṅkhātā
pavattanti.
Icc'evaṁ
matasattānaṁ punad'eva bhavantare
Paṭisandhim
upādāya tathā rūpaṁ pavattati.
Rūpaloke
pana ghāṇa-jivhā-kāya-bhāva-dasakāni ca āhāraja-kalāpāni ca
na labbhanti. Tasmā tesaṁ paṭisandhikāle cakkhu-sota-vatthuvasena
tīṇi dasa-kāni jīvitanavakāni c'āti cattāro kammasamuṭṭhāna-
kalāpā, pavattiyaṁ cittotusamuṭṭhānā ca labbhanti.
Asañña-sattānaṁ
pana cakkhu-sota-vatthu-saddāni pi na labbhanti. Tathā sabbāni pi cittajarūpāni.
Tasmā tesaṁ paṭisandhikāle jīvitanavakam eva. Pavattiyañ ca saddavajjitaṁ
utusamuṭṭhānarūpaṁ atiricchati.
Iccevaṁ
kāmarūpāsaññi-saṅkhātesu tīsu ṭhānesu paṭisandhi-pavatti-vasena
duvidhā rūpappavatti veditabbā.
Aṭṭhavisati
kāmesu honti tevīsa rūpisu
Sattaras'ev'asaññīnaṁ
arūpe natthi kiñci pi.
Saddo
vikāro jaratā maraṇañ c' opapattiyaṁ
Na
labbhanti pavatte tu na kiñci pi na labbhati.
Ayam'ettha
rūpa-pavattikkamo.
§6
Tất
cả các sắc pháp ấy đều có trong đời sống ở Dục Giới,
tùy trường hợp, không thiếu sót. Nhưng đối với những
chúng sanh thuộc loại ẩm sanh và hóa sanh, vào lúc được
thọ thai, có tối đa là bảy thập pháp -- tức mười-thành-phần-mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, tánh nam hay tánh nữ, và ý căn. Tối
thiểu, đôi khi không có mười-thành-phần-mắt, tai, mũi và
tánh nam hay nữ.
Ðây
là thế nào đoạn "những sắc pháp không thiếu sót" nên được
hiểu.
Ðối
với hạng thai sanh, (vào lúc tái sanh) có ba thập pháp -- mười-thành-phần-thân,
mười-thành-phần-tánh nam hay tánh nữ, và ý căn. Tuy nhiên
đôi khi không có mười-thành-phần-tánh nam hay nữ khởi sanh.
Từ lúc được thọ thai, và về sau trong đời sống, dần
dần mười-thành-phần-mắt v.v... tuần tự khởi sanh.
Như
vậy các sắc pháp được tạo nên theo bốn phương cách --
do Nghiệp, từ lúc được thọ thai; do tâm, từ chặp tư tưởng
thứ nhì; do hiện tượng thời tiết, vào giai đoạn trụ;
do vật thực, từ khi tinh chất dinh dưỡng được phân hóa
-- và liên tục chảy trôi không gián đoạn, trong Dục Giới,
cho đến lúc chết, như một ngọn đèn, hay như một dòng suối.
Nhưng
vào lúc lâm chung, từ chặp tư tưởng thứ mười bảy -- đếm
ngược lại từ chặp tử tâm -- bắt đầu ở giai đoạn trụ,
sắc pháp do nghiệp tạo không còn sanh khởi nữa. Các sắc
pháp đã khởi sanh trước đó tồn tại cho đến chặp tử
tâm rồi chấm dứt.
Tiếp
theo là các sắc pháp do tâm tạo và các sắc pháp do vật thực
tạo cũng chấm dứt. Sau đó có sự tồn tại của những sắc
pháp do những biến đổi vật lý, trong cái được gọi là
xác chết.
Như
vậy, đối với người chết, các sắc pháp khởi sanh trở
lại cùng một thế ấy, trong kiếp sống kế đó, ngay vào
lúc được thọ thai (từ thức tái sanh).
Trong
cảnh Sắc Giới, mười-thành-phần mũi, lưỡi, thân, tánh
nam hay nữ, và những sắc pháp do vật thực tạo, không sanh
khởi. Như vậy, với những chúng sanh ấy, vào lúc tái sanh
có bốn sắc pháp sanh khởi do Nghiệp tạo -- ba thập pháp
là mười-thành-phần-mắt, tai, và ý căn, và chín thành-phần-mạng-căn.
Trong kiếp sống, những sắc pháp do tâm và những biến đổi
vật lý tạo khởi phát.
Nhưng
đối với những chúng sanh vô tưởng, không có mắt, tai, ý
căn và tiếng khởi sanh. Cùng thế ấy, những sắc pháp do
tâm tạo không sanh khởi. Như vậy, vào lúc tái sanh chỉ có
chín-thành-phần-mạng-căn khởi sanh. Trong khoảng thời gian
của đời sống các sắc pháp do những biến đổi vật lý
tạo tiếp tục, ngoại trừ tiếng.
Như
vậy trong ba cảnh Dục Giới, Sắc Giới và Vô Tưởng (Asañña)
tiến trình sắc pháp phải được hiểu bằng hai phương cách,
bằng thức tái sanh (lúc tái sanh) và trong đời sống.
Trong
Dục Giới có 28 sắc pháp, trong Sắc Giới có 23, trong cảnh
giới Vô Tưởng (Asañña Plane) có 17, nhưng trong cảnh Vô Sắc
Giới thì không có sắc pháp nào khởi sanh.
Vào
lúc tái sanh, tiếng, biến đổi, hoại diệt và vô thường
không sanh khởi. Trong kiếp sống không có gì là không có.
Nơi
đây là phương cách mà các sắc pháp khởi sanh.
Nibbānaṁ
Niết
Bàn (59)
7.
Nibbānaṁ
pana lokuttara-saṅkhātaṁ catumagga- ñāṇena sacchikātabbaṁ magga-phalānaṁ
ālambana- bhūtaṁ vāna-saṅkātāya taṇhāya nikkhantattā- nibbānanti
pavuccati.
Tad'etaṁ
sabhāvato ekavidham pi; saupādisesa- nibbānadhātu anupādisesa-nibbānadhātu
c'āti du- vidhaṁ hoti kāraṇapariyāyena. Tathā suññataṁ animittaṁ
appaṇihitaṁ c'āti tividhaṁ hoti ākārabhedena.
Padamaccutamaccantaṁ
asaṅkhatamanuttaraṁ
Nibbānaṁ
iti bhāsanti vānamuttā mahesayo.
Iti
cittaṁ cetasikaṁ rūpaṁ nibbānam iccapi
Paramatthaṁ
pakāsenti catudhā va tathāgatā.
Iti
Abhidhammatthasaṅgahe rūpa-saṅgahavibhāgo nāma Chaṭṭho Paricchedo.
§7
Niết
Bàn được gọi là siêu thế và phải được chứng ngộ bằng
trí tuệ của bốn Ðạo. Niết Bàn trở thành đối tượng
của Ðạo và Quả, và được gọi là Nibbāna (Niết Bàn),
vì đó là sự tách rời ra khỏi "ni", "vāna", ái dục.
Niết
Bàn là một, theo bản chất cố hữu của nó.
Theo
phương cách chứng ngộ, thì Niết Bàn có hai -- là Hữu Dư
Niết Bàn, và Vô Dư Niết Bàn.
Theo
những sắc thái khác nhau của Niết Bàn, thì có ba -- là Hư
Không 60), Không Hình Tướng (61), và Không Tham Vọng (62).
Những
bậc Ðại Trí đã thoát khỏi dục vọng tuyên bố rằng Niết
Bàn là một trạng thái khách quan (63), bất tử, tuyệt đối
bất diệt, vô vi (không do duyên sanh) (64), vô thượng (không
thể sánh bằng).
Như
vậy, các Ðấng Như Lai chỉ vạch rõ ràng bốn chân đế là:
tâm vương, tâm sở, sắc và Niết Bàn.
Trong
quyển Vi Diệu Pháp Toát Yếu đây là chương thứ sáu, đề
cập đến sự phân loại các sắc pháp.
Chú
Giải
57.
Rūpas, Các Sắc Pháp,
Các
sắc pháp nầy không khởi sanh riêng rẽ mà chung cộng từng
nhóm. Có tất cả 21 nhóm như vậy.
Cũng
như tất cả tâm sở đều có bốn đặc tính chung, các sắc
pháp trong những nhóm trên đây cũng có chung những đặc tính
nổi bật. Thí dụ như trong "mười-thành-phần-mắt", tất
cả mười thành phần sắc pháp liên hợp cùng chung khởi sanh
và cùng hoại diệt (ekuppāda-ekanirodha). Nguyên tố đất là
một trong mười thành phần, tác hành như nền tảng của chín
thành phần còn lại (ekanissaya). Tất cả mười cùng tồn tại
chung (sahavutti). Nên hiểu rằng nguyên tố đất của "mười-thành-phần-mắt"
không thể tác hành như nền tảng cho các liên hợp sắc pháp
của "mười-thành-phần-tai". Bốn đặc tính chỉ áp dụng
cho các sắc pháp của mỗi nhóm riêng.
58.
Phần
nầy đề cập đến phương cách theo đó các nhóm sắc pháp
khởi sanh và cùng chung tồn tại trong kiếp sống, vào lúc
được thọ thai, và trong những trạng thái sanh khác nhau.
Theo
Phật Giáo có bốn loại sanh -- đó là noãn sanh (aṇḍaja),
thai sanh (jalābuja), ẩm sanh (saṁsedaja), và hóa sanh (opapātika).
Vài
hình thức thú thấp kém được sanh ra và sống ở những nơi
ẩm thấp, thuộc về hạng ẩm sanh.
Ðôi
khi những chúng sanh thuộc loại ẩm sanh thiếu một vài giác
quan và không có tánh nam hay nữ. Tất cả phải có tâm vì
được sanh ra với mười-thành-phần-căn, tức ý căn. Những
chúng sanh hóa sanh thông thường là vô hình đối với mắt
thịt. Do Nghiệp quá khứ tạo duyên, những chúng sanh ấy tự
nhiên xuất hiện mà không cần phải trải qua giai đoạn thọ
thai và sanh sản. Các Ngạ Quỷ và chư Thiên, chư Phạm Thiên
thuộc về hạng nầy.
Vài
hạng chúng sanh hóa sanh trong cảnh Dục Giới không có tánh
nam hay tánh nữ. Nhưng tất cả những vị hóa sanh trong cảnh
Sắc Giới chẳng những không có tánh nam hay nữ mà cũng không
có phần nhạy của mũi, lưỡi, và thân mặc dầu có đủ
các bộ phận ấy. Những vị Phạm Thiên không có thành phần
nhạy của sắc pháp (pasādarūpa) vì các Ngài không bao giờ
xử dụng đến. Hạng noãn sanh cũng giống như hạng chúng
sanh thai sanh. Vào lúc được thọ thai tất cả đều có ba
thập phần: mười thành-phần-thân, mười thành-phần-tánh
và mười- thành-phần-căn-môn. Ðôi khi vài chúng sanh không
có tánh nam hay nữ. Do đó ta thấy rằng dầu trong trứng, vẫn
có tâm.
59.
Nibbāna, Niết Bàn. [1]
Danh
từ Saṁskrt là Nirvāna, do "ni" và "vāna" hợp thành. Ni + vāna
= Nivāna = Nibāna = Nibbāna. Phần "ni" hàm xúc ý "không". "Vāna"
có nghĩa là dệt, như dệt vải, cũng có nghĩa là ái dục.
Chính ái dục nầy tác hành như sợi dây nối liền một loạt
những kiếp sống của một cá nhân trong vòng luân hồi.
Ngày
nào còn bị vướng víu kẹt dính trong ái dục, hay luyến ái,
thì ta còn tích trử Nghiệp lực mới, và những năng lực
nầy phải cụ thể hóa dưới một hình thức nào trong vòng
quanh những kiếp sanh tử-tử sanh vô cùng tận. Khi tất cả
mọi hình thức ái dục đều bị tận diệt, Nghiệp lực chấm
dứt và theo ngôn ngữ chế định thông thường, ta chứng ngộ
Niết Bàn, thoát ra khỏi vòng quanh những kiếp sống và chết.
Theo quan niệm của Phật Giáo, Giải Thoát là vượt thoát ra
khỏi vòng quanh sanh và tử mãi mãi trở đi trở lại, và đó
không phải chỉ là thoát ra khỏi "tội khổ và địa ngục".
Theo
ngữ nguyên, chữ Nibbāna do "ni" + căn "vu", dệt, có nghĩa là
không ái dục hay không luyến ái, hoặc tách rời, lìa bỏ
ái dục. Một cách chính xác, Nibbāna, Niết Bàn, là Pháp (Dhamma),
chứng ngộ được bằng cách tận diệt mọi hình thức ái
dục.
Danh
từ Nibbāna cũng xuất nguyên từ "ni" + căn "vā", thổi. Trong
trường hợp nầy Nibbāna, Niết Bàn, có nghĩa là thổi tắt,
dập tắt hay tận diệt những ngọn lửa tham ái, sân hận,
và si mê. Nên hiểu rằng Niết Bàn không phải chỉ suông là
tận diệt khát vọng (khayamattam eva na nibbānanti vattabbaṁ).
Tận diệt khát vọng chỉ là phương tiện để chứng ngộ
Niết Bàn, tự nó không phải là cứu cánh.
Niết
Bàn là thực tại cùng tột (vatthudhamma) và thực tại nầy
là siêu thế (lokuttara), tức là vượt ra khỏi thế gian danh-sắc,
hay ngũ uẩn.
Niết
Bàn phải được hiểu biết bằng trí tuệ trực giác và trí
suy luận (paccakkha hoặc paṭivedha ñāṇa và anumāna hoặc anubodha
ñāṇa). Ðể diễn đạt cả hai ý niệm nầy, có lời tuyên
ngôn rằng Niết Bàn phải được chứng ngộ bằng trí tuệ
của bốn Thánh Ðạo và trở thành đối tượng của những
Ðạo và Quả.
Theo
bản chất cố hữu (sabhāvato), Niết Bàn là thanh bình an lạc
(santi). Do đó là duy nhất (kevala). Niết Bàn duy nhất nầy
được thấy là có hai, theo phương cách được chứng ngộ,
trước và sau khi chết. Bản văn dùng một câu Pāli đơn giản
nhưng bí hiểm -- kāraṇapariyāyena. Bản Chú Giải Tích Lan
giải thích nguyên nhân sở dĩ nói lên như vậy là vì có hay
không còn lại ngũ uẩn (sa-upādisesā- divasena paññāpane kāraṇabhūtassa
upādisesabhāvā- bhāvassa lesena).
Thêm
vào đó S.Z. Aung ghi nhận: "Các Chú Giải Tích Lan giải thích
bằng câu paññāpane kāraṇassa lesena -- bằng phương cách của
những sự hiểu biết về vấn đề ngôn ngữ."
Compendium,
trang 168, ghi chú số 6.
Saupādisesa
-- Sa = với; upādi = uẩn (danh và sắc);
sesa
= còn lại. Upādi, do "upa" + "ā" + căn "dā", lấy, có nghĩa là
ái dục và tà kiến bám chặt lấy năm uẩn. Upādi cũng có
nghĩa là khát vọng hay ô nhiễm (kilesa).
Theo
bản văn và các chú giải, Niết Bàn mà chư vị Sotāpannas
(Tu Ðà Huờn hay Nhập Lưu), Sakadāgāmis (Tư Ðà Hàm hay Nhứt
Lai), và Anāgāmis (A Na Hàm hay Bất Lai) chứng ngộ là saupādisesa-Nibbānadhātu,
hữu dư Niết Bàn, vì các Ngài có thân và chút ít ô nhiễm
còn sót lại. Niết Bàn mà các vị A La Hán còn sống cũng
là saupādisesa-Nibbānadhātu vì các Ngài vẫn còn thân. Chỉ
sau khi chư vị A La Hán nhập diệt mới gọi là anupādisesa-Nibbānadhātu,
vô dư Niết Bàn, vì các Ngài đã tuyệt nhiên không còn ngũ
uẩn và đã tận diệt mọi hình thức ô nhiễm.
Sách
Itivuttaka nói đến hai loại Niết Bàn ấy nhưng chỉ đề cập
đến Niết Bàn do chư vị A La Hán sau khi nhập diệt.
Sách
ghi rằng:
Hai
trạng thái Niết Bàn được chỉ dạy rõ ràng bởi Bậc đã
Thấy, đã là như vậy và không luyến ái.
Một
trạng thái được chứng nghiệm trong chính kiếp sống nầy,
với thân còn lại, mặc dầu đã cắt đứt dòng trôi chảy
của sự trở thành.
Trong
khi trạng thái kia thuộc về tương lai, không còn thân, và
nơi đây mọi trở thành rõ ràng đã hoàn toàn chấm dứt.
(Viết theo Itivuttaka, trang 38; Woodward -- As it was said, trang 143;
Xem Ðức Phật và Phật Pháp).
60.
Suññata, Hư Không.
Ðược
gọi như vậy vì không còn tham ái, sân hận, và si mê, hay
không còn tất cả những gì được cấu tạo, tức pháp hữu
vi. Hư Không đây không có nghĩa rằng Niết Bàn là "hư vô",
không có gì hết.
61.
Animitta, Vô Tướng.
Không
có dấu hiệu của tham, sân v.v... hoặc không có dấu hiệu
của tất cả các vật được cấu tạo, hay các vật do duyên
sanh.
62.
Appaṇihita, Không Khát Vọng.
Không
có sự khát khao ham muốn, tham vọng v.v... hoặc bởi vì không
bám níu vào những thọ cảm của ái dục.
63.
Padaṁ
Nơi
đây danh từ padaṁ được dùng trong ý nghĩa một thực tại
khách quan (vatthudhamma). Chữ "trạng thái" không diễn đạt
chính xác ý nghĩa của Phạn ngữ nầy. Có thể lý luận để
tìm xem Niết Bàn có thể chính xác được gọi là một trạng
thái hay một tiến trình. Trong tiếng Pāli Niết Bàn được
gọi là một "Pháp" (Dhamma).
64.
Asaṅkhata, Vô Vi.
Niết
Bàn là Pháp (Dhamma) duy nhất không do duyên nào sanh, vô vi,
không được cấu tạo, do đó là vĩnh cửu, không phải là
nguyên nhân cũng không phải là hậu quả.
Ghi
chú:
[1]
Ðể có thêm chi tiết, xem "Ðức Phật Và Phật Pháp", chương
33.
Ðồ
Biểu 13
Những
Loại Tâm Nào Làm Sanh Khởi Sắc Pháp Nào
| |
K |
C |
I |
H |
V |
| 4
Bắt nguồn từ Tham, liên hợp thọ Hỷ
4 Bắt
nguồn từ Tham, liên hợp thọ Xả
2 Bắt
nguồn từ Sân, 2 bắt nguồn từ Si
10
Ý quan thức, 4 Quả Vô Sắc
2 Tiếp
thọ, 1 Ngũ môn, 3 Suy đạc
1 Ý
môn hướng tâm, hay Xác định tâm
1 Tiếu
sanh tâm
5 Sắc
Giới Thiện
5 Sắc
Giới Quả, và 5 Sắc Giới Hành
8 Vô
Sắc Giới Thiện và Quả
8 Siêu
Thế
4 Tâm
Ðẹp, liên hợp thọ Hỷ
4 Tâm
Ðẹp, liên hợp thọ Xả
8 Tâm
Ðẹp, Quả
4 Tâm
Ðẹp, Hành, liên hợp thọ Hỷ
4 Tâm
Ðẹp, Hành, liên hợp thọ Xả |
+
+
+
--
--
--
--
+
--
--
|