Chương
VIII
PACCAYA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
Toát
yếu về những duyên hệ
Nhập
Ðề
1.
Yesaṁ
saṅkhatadhammānaṁ ye dhammā paccayā yathā
Taṁ
vibhāgam' ih'edāni pavakkhāmi yathārahaṁ.
2.
Paṭiccasamuppādanayo,
Paṭṭhānanayo ca'ti paccayasaṅgaho duvidho veditabbo.
Tattha
tabbhāvabhāvibhāvākāramattopalakkhito paṭiccasamuppādanayo.
Paṭṭhānanayo
pana āhaccapaccayaṭṭhitim' ārabbha pavuccati. Ubhayaṁ pana vomissetvā
papañcenti ācariyā.
Tattha
avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇa-paccayā
nāmarūpam, nāmarūpa-paccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatana-paccayā
phasso, phassa-paccayā vedanā, vedanā-paccayā taṇhā, taṇhā-paccayā
upādānam, upādāna-paccayā bhavo, bhava-paccayā jāti, jāti-paccayā
jarā-maraṇa-soka-parideva-dukkha-doma- nass' upāyāsā sambhavanti.
Evam'etassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī' ti ayam'ettha paṭiccasamuppādanayo.
Tattha
tayo addhā; dvādasaṅgāni; vīsatākārā; tisandhi; catusaṅkhepo;
tīṇi vaṭṭāni; dve mūlāni ca veditabbāni.
Katham?
Avijjā,
saṅkhārā atīto addhā; jāti, jarā, maraṇaṁ anāgato addhā;
majjhe aṭṭha paccuppanne addhā'ti tayo addhā.
Avijjā,
saṅkhārā, viññāṇaṁ, nāmarūpaṁ, saḷāyata- naṁ, phasso,
vedanā, taṇhā, upādānaṁ, bhavo, jāti, jarāmaraṇan'ti dvādasaṅgāni.
Sokādivacanaṁ pan'ettha nissandaphalanidassanaṁ.
Avijjāsaṅkhārāggahaṇena
pan'ettha taṇhūpādāna-bhavā pi gahitā bhavanti. Tathā taṇh'ūpādānabhavagga-
haṇena ca avijjāsaṅkhārā, jātijarāmaraṇaggahaṇena ca viññāṇādiphalapañcakam'eva
gahitanti katvā.
Atīte
hetavo pañca idāni phalapañcakaṁ
Idāni
hetavo pañca āyatiṁ phalapañcakanti
Vīsatākārā,
tisandhi, catusaṅkhepā ca bhavanti.
Avijjā
taṇhūpādāna ca kilesavaṭṭaṁ; kammabhava- saṅkhāto bhav'ekadeso;
saṅkhārā ca kammavaṭṭaṁ; upapattibhavasaṅkhāto bhav' ekadeso;
avasesā ca vipāka- vaṭṭanti tīni vaṭṭāni.
Avijjātaṇhāvasena
dve mūlāni ca veditabbāni.
1.
Tesameva ca mūlānaṁ nirodhena nirujjhati
Jārāmaraṇamucchāya
pīḷitānam' abhiṇhaso
Āsavānaṁ
samuppādā avijjā ca pavattati.
2.
Vaṭṭamābandham' iccevaṁ tebhūmakam' anādikaṁ
Paṭiccasamuppādo'ti
paṭṭhapesi mahāmuni.
§1.
Nơi
đây, theo đường lối thích nghi, tôi sẽ tỉ mỉ phân tách
bằng cách nào những pháp tạo duyên tác hành liên hệ với
các pháp được cấu tạo (1) tùy duyên.
§2.
Ðại
cương những tương quan có hai phần;
A)
Ðịnh Luật Phát Sanh Tùy Thuộc (2), và
B)
Ðịnh Luật Duyên Hệ Tương Quan (3).
Trong
hai phần nầy, Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh, hay Thập Nhị
Duyên Khởi, được đánh dấu bằng sự phát sanh suông của
một trạng thái, tùy thuộc nơi một trạng thái khác trước
đó (4). Khi có trạng thái nầy thì trạng thái kia khởi phát.
Ðịnh
Luật Duyên Hệ Tương Quan đề cập đến sự hiện hữu của
những điều kiện liên hệ với một điều kiện khác.
Các
vị Pháp Sư pha trộn lẫn lộn hai pháp nầy để giải thích.
Ðịnh
Luật Tùy Thuộc Phát Sanh
Nơi
đây:
Tùy
thuộc nơi Vô Minh (5), Hành (6). phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Hành, Thức (tái sanh) (7). phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Thức (tái sanh), Danh và Sắc (8) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Danh và Sắc, Lục Căn (9) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Lục Căn, Xúc (10) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Xúc, Thọ (11) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Thọ, Ái (12) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Ái, Thủ (13) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Thủ, Hữu (14) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Hữu, Sanh (15) phát sanh.
Tùy
thuộc nơi Sanh, phát sanh Lão, Tử, Sầu Muộn, Ta Thán, Ðau
Khổ, Buồn Rầu và Thất Vọng.
Như
vậy phát sanh trọn vẹn toàn khối đau khổ.
Nơi
đây, đó là Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh. Nên hiểu rằng
có ba thời kỳ, mười hai chi (yếu tố), hai mươi phương cách,
chia làm bốn nhóm, ba sự liên hệ, bốn phân hạng, ba vòng
quanh, và hai nhân.
Như
thế nào? Vô Minh và Hành thuộc về quá khứ; Sanh, Lão, Tử
thuộc về vị lai; tám chi ở khoảng giữa thuộc về hiện
tại. Như vậy có ba thời kỳ.
Vô
Minh, Hành (thiện và bất thiện), Thức (tái sanh), Danh-Sắc,
Lục Căn, Xúc, Thọ. ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão, và Tử là mười
hai chi (yếu tố). Những danh từ Sầu Muộn, Ta Thán v.v... là
hậu quả của Sanh.
Nơi
đây, khi đề cập đến Vô Minh và Hành, thì ái, Thủ và Hữu
cũng được bao hàm trong đó. Cùng thế ấy, khi đề cập đến
ái, Thủ, và Hữu thì Vô Minh và Hành cũng được bao hàm trong
đó. Khi đề cập đến Sanh, Lão và Tử thì năm hậu quả
cùng với những loại tâm của nó cũng được bao hàm trong
đó.
Như
vậy có:
1.
năm nhân thuộc về quá khứ, và 2. năm quả trong hiện tại;
3.
năm nhân trong hiện tại và 4. năm quả thuộc vị lai.
Có
hai mươi phương cách, ba mối liên hệ, và bốn phân hạng.
Ba
Vòng Quanh luân chuyển là:
1.
Vô Minh, ái, và Thủ thuộc về Vòng Quanh của những ô nhiễm.
2.
Một phần của sự trở thành (bhava, hữu) được biết là
những hành động và những sinh hoạt tâm linh (thiện và bất
thiện) trong hiện tại (bhava), là Vòng Quanh của Nghiệp.
3.
Một phần của sự trở thành (hữu) được biết là kiếp
sống mới (upapattibhava), và phần còn lại thuộc về Vòng
Quanh của Quả.
Vô
minh và ái dục phải được hiểu là hai nhân (16).
Tóm
lược
Bằng
cách tận diệt những nhân nầy Vòng Quanh luân chuyển chấm
dứt.
Vô
minh, xuất phát từ những nhiễm ô (17), tăng trưởng trong
sự áp bức càng lúc càng gia tăng của trạng thái già và
chết.
Bậc
Ðại Hiền Trí đã giải thích tình trạng rối răm của những
kiếp sống vô cùng tận trong tam giới như thế ấy, bằng
"Ðịnh Luật Tùy Thuộc Phát Sanh".
Chú
Giải
1.
Saṅkhatadhammānaṁ, Các Pháp Ðược Cấu Tạo.
Cũng
được gọi "Pháp Hữu Vi", là những pháp không tự mình hiện
hữu mà phát sanh tùy thuộc điều kiện. Ðó là tất cả tâm
vương, tâm sở và sắc pháp, được mô tả trong những chương
trước.
2.
Paṭiccasamuppāda [*], Pháp Tùy Thuộc Phát Sanh, hay Thập Nhị
Duyên Khởi.
Paṭicca
= bởi vì, vì lẽ; samuppāda = phát sanh, xuất phát. Theo nghĩa
đen thì danh từ nầy hàm ý "phát sanh bởi vì", hoặc "tùy
thuộc phát sanh", hay "duyên khởi tùy thuộc", và ý nghĩa nầy
áp dụng cho toàn thể công thức, vốn bao gồm mười hai nhân
và quả liên quan với nhau, gọi là paccaya và paccayuppanna.
S.Z.
Aung phiên dịch danh từ Paṭiccasamuppādanaya là "Ðịnh Luật
khởi phát do nguyên nhân".
Trong
chương nầy Ðịnh Luật Phát Sanh Tùy Thuộc không pha trộn
với Paṭṭhānanaya như trong sách Thanh Tịnh Ðạo, Visuddhimagga.
[*]
Ðể có thêm chi tiết xem "The Buddha and His Teachings", bản dịch
ra Việt ngữ là "Ðức Phật và Phật Pháp", chương 25.
3.
Paṭṭhānanaya
Theo
các Bản Chú Giải Tích Lan, nơi đây tiếp đầu ngữ "pa" có
nghĩa "khác nhau" (nānappakāra). Ngài Ledi Sayadaw nói là "chánh
yếu" (padhāna). Thāna (theo nghĩa đen là trạm) có nghĩa là
"duyên" (paccaya) như trong chữ upakāradhamma -- là những điều
kiện hỗ trợ hay giúp đỡ. Những điều kiện khác nhau hay
những duyên chánh yếu ấy được mô tả với nhiều chi tiết
trong bộ Paṭṭhānapakaraṇa (Phát Thú), quyển thứ bảy của
Abhidhamma-Pitaka (Tạng Luận). Hệ thống giảng giải trong bản
khái luận nầy được gọi là Paṭṭhānanaya.
Sự
khác biệt giữa hai định lý (naya) nầy phải được hiểu
như sau:
1.
Bởi vì có A nên B phát sanh. Bởi vì có B nên C phát sanh. Khi
không có A thì không có B. Khi không có B thì không có C.
2.
Nói cách khác, "cái nầy như vầy, ắt có cái kia hiện hữu",
"cái nầy không như vầy, ắt cái kia không hiện hữu" (imasmiṁ
sati, idaṁ hoti; imasmiṁ asati, idaṁ na hoti). Ðó là Paṭiccasamuppādanaya,
định lý của pháp Tùy Thuộc Phát Sanh, hay Thập Nhị Duyên
Khởi, cũng gọi là pháp Thập Nhị Nhân Duyên.
3.
Khi nói rằng A duyên hệ với B bằng cách "cùng tồn tại chung",
"tương quan tùy thuộc lẫn nhau", là ta có một thí dụ của
Paṭṭhānanaya, định lý "Duyên Hệ Tương Quan".
(Journal
of the Pāli Text Society, 1915, 1916. Trang 21-53).
4.
Tabbhāvabhāvībhāvākāramatta
Bhāvākāramatta
= sự phát sanh suông của một trạng thái; tabbhāvabhāvi = tùy
thuộc nơi trạng thái trước kế đó.
5.
Avijjā, Vô Minh.
Theo
nghĩa đen là sự "không-biết", tức không biết Tứ Diệu Ðế.
Danh từ avijjā cũng được giải thích là "cái gì làm nguyên
nhân cho chúng sanh mãi mãi lăn trôi theo vòng luân hồi vô tận"
(anṭavirahite saṁsāre satte javāpeti). "Cái gì do đó quả trổ
sanh" được gọi là paccaya. Khi vô minh được tận diệt và
trở thành minh, sự hiểu biết sáng suốt, thì tất cả những
nguyên nhân đều tan biến, như trường hợp chư Phật và chư
vị A La Hán.
6.
Saṅkhāra, Hành.
Saṅkhārā
là một danh từ có nhiều ý nghĩa phải được hiểu biết
tùy theo đoạn văn. Nơi đây Saṅkhārā, Hành, là tác ý (cetanā)
bất thiện (akusala), thiện (kusala), và bất động (āneñjā,
không lay chuyển), vốn tạo Nghiệp (Kamma) đưa đến tái sanh.
Tác
ý bất thiện gồm tất cả những tác ý trong 12 loại tâm
bất thiện; tác ý thiện gồm những tác ý trong 8 loại tâm
Ðẹp (kusala, thiện) thuộc Dục Giới (kāmāvacara kusala citttāni)
và 5 loại tâm Thiền thiện thuộc Sắc Giới (kusala Rūpajhāna);
tác ý bất động gồm tất cả những tác ý trong 4 loại tâm
Thiền thiện thuộc Vô Sắc Giới (kusala Arūpajhāna). Trong tiếng
Anh không có một danh từ nào chính xác tương đương với
Phạn ngữ nầy. Saṅkhāra (Hành), một trong năm uẩn, là danh
từ gọi chung 50 tâm sở, ngoại trừ hai tâm sở thọ và tưởng.
Tác
ý của bốn lokuttaramaggacitta, tâm Ðạo Siêu Thế, không được
xem là saṅkhārā, hành, vì có chiều hướng loại trừ vô
minh. Trí tuệ (paññā) là yếu tố nổi bật trong những loại
tâm siêu thế, trong khi tác ý (cetanā) là yếu tố nổi bật
trong các loại tâm tại thế.
Vô
minh là yếu tố nổi bật trong những loại tâm bất thiện
trong khi đó cũng ngủ ngầm trong các loại tâm thiện. Do đó
cả hai -- hành động thiện và hành động bất thiện -- đều
được xem là bắt nguồn từ vô minh.
7.
Viññāṇa, Thức.
Một
cách chính xác, thức ở đây là 19 loại tâm của thức-tái-sanh
(paṭisandhi viññāṇa) được mô tả trong chuơng V. Tất cả
32 loại tâm quả (vipākacitta) được chứng nghiệm trong đời
sống cũng được bao gồm trong đó.
Bào
thai trong bụng mẹ được cấu thành do sự phối hợp của
thức-tái-sanh, cùng với tinh trùng và minh châu của cha mẹ.
Trong thức nầy ngủ ngầm tất cả những cảm thọ, những
đặc tính, và những chiều hướng tâm tánh của một cá nhân,
huân tập từ quá khứ xa xôi trong luồng nghiệp.
Thức-tái-sanh
nầy được xem là 'sáng tỏ" (pabhassara) vì không liên hợp
với những căn bất thiện tham, sân, si (như trong trường hợp
những tâm quả vô nhân, ahetukavipāka), hoặc đồng phát sanh
cùng những căn thiện (như trường hợp các loại tâm quả
hữu nhân).
8.
Nāmarūpa, Danh-Sắc.
Danh
từ kép nầy phải được hiểu riêng rẽ, nāma riêng, rūpa
riêng, và nāmarūpa cùng chung một chữ. Trường hợp ở cảnh
Vô Sắc Giới (arūpa) thì chỉ có danh; trường hợp cảnh Vô
Tưởng (asañña), chỉ có sắc; trong trường hợp ở Dục Giới
(kāma) và Sắc Giới (rūpa), thì có cả hai, danh và sắc.
Danh
(nāma) ở đây có nghĩa là ba uẩn -- thọ (vedanā), tưởng
(saññā), và hành (saṅkhāra) -- phát sanh cùng một lúc với
thức-tái-sanh. Rūpa, sắc, có nghĩa là ba thành-phần [1] thân,
bhāvavatthu -- cũng khởi phát cùng lúc với thức-tái-sanh, do
nghiệp quá khứ tạo duyên. Yếu tố thứ nhì và thứ ba thuộc
về quá khứ và hiện tại. Yếu tố thứ ba và thứ tư trái
lại, đồng thời trong hiện tại.
9.
Salāyatana, Lục Căn.
Trong
thời kỳ thai nghén của bà mẹ, lục căn tuần tự tiến triển
từ những hiện tượng tâm lý trong đó có ngủ ngầm tiềm
năng vô cùng tận. Ðốm nhỏ không quan trọng vô cùng vi tế
ấy giờ đây phát triển dần và trở thành guồng máy sáu
giác quan phức tạp tác hành gần như tự động, không cần
bộ phận nào khác, như một linh hồn, điều khiển. Sáu giác
quan, hay lục căn, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Năm
giác quan đầu là năm phần nhạy -- nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân -- dần dần mở mang theo thời gian. Ý căn đã được
đề cập đến trong một phần trước.
10.
Phassa, Xúc
Xem
chương I và chương II
11.
Vedanā, Thọ.
Cũng
xem chương I và chương II
12.
Taṇhā, ái.
ái
có ba là: ái duyên theo nhục dục ngũ trần (kāmataṇhā); ái
duyên theo dục lạc liên hợp với thường kiến (bhavataṇhā),
tức trong khi thỏa thích, có ý nghĩ rằng những dục lạc
nầy là thường còn, tồn tại mãi mãi không hư hoại; và
ái duyên theo dục lạc liên hợp với đoạn kiến (vibhavataṇhā),
tức trong lúc thỏa mãn dục vọng nghĩ rằng tất cả đều
chấm dứt sau khi chết. Ðây là quan điểm của người sống
theo thuyết duy vật.
Bhavataṇhā
và Vibhavataṇhā cũng đuợc chú giải là luyến ái duyên theo
cảnh Sắc Giới và luyến ái theo cảnh Vô Sắc Giới. Thông
thường hai danh từ nầy được hiểu là ái dục trong trạng
thái sinh tồn và ái dục trong sự không-sinh-tồn.
Có
sáu loại ái dục duyên theo 6 trần cảnh như sắc, thinh v.v...
Sáu loại nầy trở thành 12 nếu cộng với sáu căn môn như
nhãn, nhĩ v.v... và 36 nếu tính luôn quá khứ, hiện tại và
vị lai. Nếu nhân luôn cho ba loại ái dục kể trên thì có
tất cả là 108.
13.
Upādāna, Thủ
Danh
từ nầy xuất nguyên từ "upa" + "ā" + căn "da", có nghĩa cho
ra. Upādāna, Thủ, là ái dục ở mức cao độ, mãnh liệt tham
ái và chặt chẽ nắm giữ lại. Taṇhā, ái dục, giống như
tên trộm rình mò trong đêm tối để lấy trộm một vật.
Upādāna, Thủ, là chính hành động lấy trộm. Thủ là hậu
quả của luyến ái và lầm lạc. Thủ đưa đến quan kiến
sai lầm về "Ta" và "Của Ta".
14.
Bhava, Hữu.
Theo
nghĩa đen, bhava là trở thành, và được giải thích là cả
hai, hành động tạo Nghiệp, Kamma (kamma-bhava), thiện và bất
thiện -- tiến trình tích cực của sự trở thành -- và những
cảnh giới sinh tồn khác nhau (upapatti- bhava) -- tiến trình
tiêu cực của sự trở thành.
Giữa
hai danh từ Saṅkhārā, Hành, và Kammabhava, Hữu, chỉ có sự
khác biệt là "hành" được dùng theo nghĩa "nghiệp được
tạo nên trong quá khứ" và "hữu" là "nghiệp tạo trong hiện
tại". Chỉ có bhava, hữu, tức nghiệp hiện tại tạo duyên
cho sự tái sanh tương lai.
15.
Jāti, Sanh
Một
cách chính xác jāti, là sự khởi sanh của năm uẩn (khandhānaṁ
pātubhāvo).
16.
Vô
Minh là nhân quá khứ tạo duyên cho hiện tại, và ái Dục
là nhân trong hiện tại tạo duyên cho tương lai.
17.
Āsava, Hoặc Lậu.
Hoặc
Lậu hay những ô nhiễm tiềm tàng ngủ ngầm trong tất cả
mọi chúng sanh còn trong tam giới, được xem là nguyên nhân
đưa đến vô minh.
Ghi
chú:
[1]
Mười thành-phần-thân (kāyadasaka) gồm bốn nguyên tố: i.
nguyên tố duỗi ra (paṭhavi), ii. nguyên tố làm dính liền
(āpo), iii. nguyên tố nóng (tejo), iv. nguyên tố di chuyển (vayo),
cùng với bốn chuyển hóa của nó (upādārūpa) là: v. màu (vaṇṇa),
vi. mùi (gandha), vii. vị (rasa), viii. tinh chất dinh dưỡng (oja),
và cùng với ix. mạng căn (jīvitindriya), x. thân (kāya).
Mười
thành-phần-tánh nam hay nữ (bhāvadasaka) và mười thành-phần
căn môn (vatthudasaka) cũng bao gồm theo thứ tự, chín yếu tố
đầu rồi yếu tố thứ mười là tánh (nam hay nữ) và căn
môn.
Như
vậy ta thấy hiển nhiên rằng tánh nam hay nữ của một người
đã được nghiệp quá khứ quyết định ngay vào lúc bà mẹ
thọ thai.
Nơi
đây kāya, thân, có nghĩa là phần nhạy của thân. Tánh nam
hay nữ không phát triển vào lúc được thọ thai nhưng tiềm
tàng ngủ ngầm. Không phải trái tim hay cân não -- được giả
tưởng là ý căn, căn môn của tâm -- phát triển, mà tiềm
năng phát triển của căn vẫn ngủ ngầm.
-ooOoo-
Paṭṭhānanayo
Ðịnh
lý tương quan duyên hệ
3.
(1)
Hetupaccayo, (2) ārammaṇapaccayo, (3) adhi- patipaccayo, (4) anantarapaccayo,
(5) samanantara- paccayo, (6) sahajātapaccayo, (7) aññamaññapaccayo,
(8) nissayapaccayo, (9) upanissayapaccayo, (10) purejāta- paccayo, (11)
pacchājātapaccayo, (12) āsevanapaccayo, (13) kammapaccayo, (14) vipākapaccayo,
(15) āhāra- paccayo, (16) indriyapaccayo, (17) jhānapaccayo, (18) maggapaccayo,
(19) sampayuttapaccayo, (20) vipayutta- paccayo, (21) atthipaccayo, (22)
natthipaccayo, (23) vigatapaccayo, (24) avigatapaccayo'ti ayamettha paṭṭhānanayo.
i.
Chadhā nāmantu nāmassa pañcadhā nāmarūpinaṁ ii. Ekadhā puna rūpassa
rūpaṁ nāmassa c'ekadhā.
ii.
Paññattināmarūpāni nāmassa duvidhā dvayaṁ
Dvayassa
navadhā c'āti chabbidhā paccayā kathaṁ.
A/.
Anantaraniruddhā cittacetasikā dhammā paccup- pannānaṁ citta cetasikānaṁ
anantara samanantaranatthi- vigatavasena; purimāni javanāni pacchimānaṁ
javanānaṁ āsevanavasena;sahajātācittacetasikādhammā aññamaññaṁ
sampayuttavasenā'ti chadhānāmaṁ nāmassa paccayo hoti.
B/.
Hetujhānaṅgamaggaṅgāni sahajātānaṁ nāmarūpā- naṁ hetādivasena;
sahajātā cetanā sahajātānaṁ nāma- rūpānaṁ; nānakkhaṇikā
cetanā kammābhinibbattānaṁ nāmarūpānaṁ kammavasena; vipākakkhandhā
aññamañ- ñaṁ saha jātānaṁ rūpānaṁ vipākavasenāti ca pañcadhā
nāmaṁ nāmarūpānaṁ paccayo hoti.
C/.
Pacchājātā cittacetasikā dhammā purejātassa imassa kāyassa paccājātavasen'āti
ekadhā va nāmaṁ rūpassa paccayo hoti.
D/.
Chavatthūni pavattiyaṁ sattannaṁ viññāṇadhātū- naṁ; pañcālambanāni
ca pañcaviññāṇavīthiyā purejāta- vasenāti ekadhā va rūpaṁ
nāmassa paccayo hoti.
E/.
Ārammaṇavasena upanissayavasenā'ti ca duvidhā paññatti nāmarūpāni
nāmass'eva paccayā honti.
Tattha
rūpādivasena chabbidhaṁ hoti ārammaṇaṁ.
Upanissayo
pana tividho hoti -- ārammaṇūpanissayo, anantarūpanissayo, pakatūpanissayo
c'āti. Tatth'ālamba- nam' eva garukataṁ ārammaṇūpanissayo. Anantara-
niruddhā cittacetasikā dhammā anantarūpanissayo. Rāgādayo pana dhammā
saddhādayo ca sukhaṁ dukkhaṁ puggalo bhojanaṁ utu senāsanañ ca
yathārahaṁ ajjhattaṁ ca bahiddhā ca kusalādidhammānaṁ kammaṁ
vipākānanti ca bahudhā hoti pakatūpanissayo.
F/.
Adhipati, sahajāta, aññamañña, nissaya, āhāra, indriya, vippayutta,
atthi, avigatavasenā'ti yathārahaṁ navadhā nāmarūpāni nāmarūpānaṁ
paccayā bhavanti.
Tattha
garukatamālambanaṁ ālambanādhipativasena nāmānaṁ sahajādhipati
catubbidho'pi sahajātavasena sahajātānaṁ nāmarūpānanti ca duvidho
hoti adhipati- paccayo
Cittacetasikā
dhammā aññamaññaṁ sahajātarūpānañ ca, mahābhūtā aññamaññaṁ
upādārūpānañ ca, paṭisandhikkhane vatthuvipākā aññamaññanti
ca tividho hoti sahajātapaccayo.
Cittacetasikā
dhammā aññamaññaṁ, mahābhūtā aññamaññaṁ paṭisandhikkhane
vatthuvipākā aññamaññanti ca tividho hoti aññamaññapaccayo.
Cittacetasikā
dhammā aññamaññaṁ sahajātarūpānañ ca mahābhūtā aññamaññaṁ
upādārūpānañ ca chavatthūni sattanaṁ viññāṇadhātūnanti ca
tividho hoti nissaya- paccayo.
Kabaḷīkāro
āhāro imassa kāyassa, arūpino āhārā sahajātānaṁ nāmarūpānan'tica
duvidho hoti āhāra- paccayo.
Pañcappasādā
pañcannaṁ viññāṇānaṁ, rūpajīvitin- driyaṁ upādinnarūpānaṁ,
arūpino indriyā sahajātānaṁ nāmarūpānanti ca tividho hoti indriyapaccayo.
Okkantikkhaṇe
vatthuvipākānaṁ, cittacetasikā dhammā sahajātarūpānaṁ sahajātavasena,
pacchājātā cittacetasikā dhammā purejātassa imassa kāyassa pacchājātavasena,
cha vatthūni pavattiyaṁ sattannaṁ viññāṇadhātūnaṁ purejātavasenā'ti
ca tividho hoti vippayuttapaccayo.
Sahajātaṁ
purejātaṁ pacchājātaṁ ca sabbathā
Kabaḷīkāro
āhāro rūpajīvitamiccayanti.
Pañcavidho
hoti atthipaccayo avigatapaccayo.
Ārammaṇūpanissaya-kamma-atthipaccayesu
ca sabbe'- pi paccayā samodhānaṁ gacchanti.
Sahajātarūpanti
pan'ettha sabbatthā'pi pavatte citta- samuṭṭhānānaṁ paṭisandhiyaṁ
kaṭattārūpānañ ca vasena duvidho hoti veditabbaṁ.
Iti
tekālikā dhammā kālamuttā ca sambhavā
Ajjhattañ
ca bahiddhā ca saṅkhatāsaṅkhatā tathā.
Paññattināmarūpānaṁ
vasena tividhā ṭhitā
Paccayā
nāma paṭṭhāne catuvīsati sabbathā'ti.
§3.
Sau
đây là những duyên hệ:
1.
Nhân (18)
2.
Cảnh (đối tượng) (19),
3.
Tăng thượng (20) (lớn trội lên)
4.
Vô gián (21) (liên tục)
5.
Ðẳng vô gián (21) (tức khắc tiếp theo)
6.
Ðồng sanh (22)
7.
Hổ tương (23)
8.
Y chỉ (24) (tùy thuộc nương nhờ)
9.
Thân y (24) (nương nhờ trọn vẹn)
10.
Tiền sanh (25) (trước khi sanh)
11.
Hậu sanh (26) (sau khi sanh)
12.
Tập hành (27) (thói quen lặp đi lặp lại)
13.
Nghiệp (28)
14.
Quả (29)
15.
Thực (30)
16.
Căn (31) (khả năng kiểm soát)
17.
Thiền (Jhāna) (32)
18.
Ðạo (33)
19.
Tương ưng (34) (liên hợp)
20.
Bất tương ưng (35) (phân tán)
21.
Hiện hữu (36)
22.
Vô hiện hữu (37) (vắng mặt)
23.
Ly (38) (chia lìa)
24.
Bất ly (38)
Trên
đây là định lý tương quan duyên hệ.
Bằng
sáu phương cách danh liên hệ với danh. Bằng năm phương cách
danh liên hệ với danh và sắc. Bằng một phương cách, danh
liên hệ với sắc, và bằng một phương cách sắc liên hệ
với danh. Bằng hai phương cách những khái niệm, danh và sắc
liên hệ với danh. Bằng chín phương cách, cả hai -- danh và
sắc -- liên hệ với danh và sắc. Như vậy những duyên hệ
có sáu.
Những
Duyên Hệ Của Danh Và Sắc
Bằng
cách nào?
A/.
Bằng sáu phương cách danh liên hệ với danh. Tâm vương và
tâm sở vừa chấm dứt liên hệ với tâm vương và tâm sở
khởi sanh liền theo đó trong hiện tại theo cách vô gián duyên,
đẳng vô gián duyên, vô hiện hữu duyên và ly duyên.
Những
tốc hành tâm (javanas) trước liên hệ với những tốc hành
tâm theo liền kế đó theo cách tập hành duyên (tức thói quen
lặp đi lặp lại).
Tâm
vương và tâm sở đồng phát sanh tương quan liên hệ với
nhau theo cách tương ưng duyên.
B/.
Bằng năm phương cách danh liên hệ với danh và sắc.
Những
yếu tố nhân, Thiền và Ðạo liên hệ với danh và sắc đồng
phát sanh theo cách nhân duyên, Thiền duyên, và Ðạo duyên.
Tác
ý (cetanā) đồng phát sanh liên hệ với danh và sắc đồng
phát sanh và tác ý không đồng phát sanh liên hệ với danh
và sắc do nghiệp tạo theo cách nghiệp duyên.
Các
uẩn quả (thuộc danh pháp) tương quan liên hệ với nhau và
với sắc đồng phát sanh theo cách quả duyên.
C/.
Chỉ bằng một phương cách danh liên hệ với sắc.
Tâm
vương và tâm sở khởi sanh liền theo sau sắc (trước đó),
liên hệ với sắc trước theo cách hậu sanh duyên.
D/.
Chỉ theo một phương cách sắc liên hệ với danh.
Trong
đời sống sáu căn môn liên hệ với bảy thức giới và năm
đối tượng liên quan với năm lộ trình thức theo phương
cách tiền sanh duyên.
E/.
Bằng hai phương cách những khái niệm, danh và sắc liên hệ
với danh -- đó là cảnh duyên và thân y duyên.
Nơi
đây cảnh có sáu là sắc, thinh v.v... Nhưng thân y duyên có
ba là: cảnh thân y duyên, vô gián thân y duyên và bẩm chất
thân y duyên (vì đó là bản chất cố hữu của nó).
Cảnh
(đối tượng) tự nó khi trở thành nổi bật lên thì tác
hành như một cảnh thân y duyên (điều kiện trọn vẹn tùy
thuộc nơi đối tượng). Tâm và tâm sở vừa chấm dứt tác
hành như vô gián thân y duyên (điều kiện trọn vẹn tùy thuộc
liên tục không gián đoạn). Bẩm chất thân y duyên có nhiều
loại: trạng thái tham v.v..., trạng thái có đức tin v.v...,
an lạc, đau khổ, cá nhân, vật thực, thời tiết, điều kiện
lưu trú, nội cảnh và ngoại cảnh, tùy trường hợp, tùy
thuộc liên hệ với trạng thái đạo đức v.v... Nghiệp, cùng
thế ấy, cũng liên hệ với quả.
F/.
Danh và sắc liên hệ với danh và sắc theo chín phương cách
tùy trường hợp -- đó là bằng cách tăng thượng duyên (điều
kiện nổi bật), đồng sanh duyên (cùng khởi sanh chung), hổ
tương duyên (tương trợ lẫn nhau), y chỉ duyên (nương nhờ),
vật thực, căn duyên (khả năng kiểm soát), bất tương ưng
duyên (điều kiện chia lìa), hiện hữu duyên (điều kiện
có mặt), và bất ly duyên.
Nơi
đây tăng thượng duyên có hai:
i.
Cảnh duyên quan trọng liên hệ với trạng thái tâm theo cách
tăng thượng duyên khách quan.
ii.
Tăng thượng duyên gồm bốn phần cùng tồn tại trong một
lúc, liên hệ với danh và sắc đồng thời hiện hữu theo
cách đồng sanh duyên.
Duyên
hệ đồng sanh gồm ba phần: tâm vương và tâm sở tương quan
liên hệ với nhau và liên hệ với sắc pháp đồng hiện hữu;
Tứ Ðại tương quan liên hệ và liên hệ với những chuyển
hóa của sắc pháp; ý căn và những danh uẩn hậu quả tương
quan liên hệ vào lúc tái sanh.
Duyên
hệ hỗ tương gồm ba phần: tâm vương và tâm sở tương quan
liên hệ với nhau; Tứ Ðại Chánh Yếu tương quan liên hệ
với nhau; ý căn và các danh uẩn hậu quả tương quan liên
hệ với nhau vào lúc tái sanh.
Y chỉ
duyên gồm ba phần: tâm vương và tâm sở tương quan liên hệ
với nhau và với các sắc pháp cùng hiện hữu; Tứ Ðại tương
quan liên hệ với nhau và với các chuyển hóa của sắc pháp;
và sáu căn môn liên hệ với bảy thức giới theo cách y chỉ
duyên.
Thực
duyên gồm hai phần: vật thực ăn được liên hệ với thân
nầy; và chất dinh dưỡng vô hình tướng liên hệ với danh
và sắc đồng hiện hữu theo cách thực duyên.
Căn
duyên gồm có ba phần: năm giác quan liên hệ với năm loại
thức; sắc mạng căn liên hệ với những sắc pháp đã chấp
thủ; những yếu tố thuộc danh mạng căn liên hệ với danh
và sắc đồng hiện hữu theo cách căn duyên.
Bất
tương ưng duyên gồm ba phần: Vào lúc bà mẹ thọ thai, ý
căn liên hệ với quả (hậu quả của nghiệp), và tâm vương,
tâm sở liên hệ với danh và sắc đồng khởi sanh theo cách
tương ưng duyên; những tâm vương và tâm sở tiếp theo sau
đó liên hợp với thân trước, theo cách tiền sanh duyên; sáu
căn môn, trong đời sống, liên hệ với bảy thức giới theo
cách tiền sanh duyên.
Năm
loại duyên hệ -- đồng sanh duyên, tiền sanh duyên, hậu sanh
duyên, thực duyên, sắc mạng căn duyên -- theo mọi phương
cách liên hệ với hiện hữu duyên và bất ly duyên.
Tất
cả mọi duyên hệ đều được bao gồm trong cảnh duyên, thân
y duyên, nghiệp duyên và đồng sanh duyên.
Nơi
đây sắc pháp đồng sanh nên được hiểu biết là có hai
phần: xuyên qua cuộc sống nó phải được hiểu là khởi
sanh do tâm, và vào lúc tái sanh là khởi sanh do nghiệp.
Tóm
lược
Như
vậy, những duyên hệ thuộc ba thời kỳ và ngoài thời gian;
nội và ngoại, được cấu tạo (hữu vi) hay không được
cấu tạo (vô vi) có ba phần, theo khái niệm, danh và sắc.
Tất
cả, những tương quan duyên hệ, Paṭṭhāna, có hai mươi bốn.
Chú
Giải
18.
Hetu-paccaya, Nhân-Duyên.
Nơi
đây danh từ paccaya có đôi phần khó hiểu. Chữ nầy được
định nghĩa là cái gì do nhờ đó có hậu quả phát sanh. Nói
cách khác, đó là nguyên nhân. Hơn nữa, danh từ nầy được
giải thích là "yếu tố thuận lợi", hay "yếu tố hỗ trợ"
(upakārako dhammo). Hetu được định nghĩa là "cái gì do đó
một hậu quả được thiết lập". Chữ nầy được dùng trong
ý nghĩa "cội rễ" (mūlaṭṭhena). Như rễ của cây là hetu;
như phân bón giúp sức cho cây mọc lên là paccaya. Trong tạng
Abhidhamma, Vi Diệu Pháp, hai danh từ liên hệ với nhau nầy
được dùng trong hai ý nghĩa khác nhau. Tuy nhiên trong Tạng
Kinh, hai danh từ nầy được xử dụng đồng nghĩa, không có
sự phân biệt, thí dụ như nói ko hetu, ko paccayo -- lý do là
thế nào? nguyên nhân là thế nào?
Trong
bộ Paṭṭhana, Tương Quan Duyên Hệ, 24 paccaya (duyên) được
liệt kê, và hetu, nhân là một trong số 24 ấy. Hetupaccaya,
nhân duyên, được giải thích "nhân tự nó là một duyên"
hoặc "là một hetu (nhân), nó trở thành paccaya (duyên)".
Danh
từ hetu được giải thích là yếu tố hỗ trợ hay giúp ích
trong ý nghĩa như rễ cây hỗ trợ, giúp cho cây lớn lên (mūlaṭṭhena
upakārako dhammo). Duyên hệ theo cách "nhân duyên" có thể được
xem là gần nghĩa nhất với danh từ.
(Xem
Compendium, trang 279; Journal of the Pāli Text Society, 1915-1916, trang
29-53).
"Nhân"
thuần túy tinh thần. Ðó là sáu nhân thiện và bất thiện.
Xem Chương I.
19.
Ārammana, hoặc Ālambana, Cảnh (trong nghĩa trần cảnh), hay đối
tượng.
Ārammaṇa
do "a" + căn "ram", thích thú trong. Ālambana do "ā" + căn "lamb",
đeo níu theo. Những gì mà chủ thể thích thú trong đó, hoặc
đeo níu theo đó, là "cảnh" hay "đối tượng".
Có
sáu loại cảnh. Thí dụ như hình sắc, tác hành như tương
quan duyên hệ với nhãn thức theo phương cách "cảnh duyên".
Phải nói rằng không có chi tại thế hay siêu thế mà không
trở thành một đối tượng của tâm.
20.
Adhipati, Tăng Thượng (trong ý nghĩa lớn trội lên).
Theo
nghĩa đen, adhipati là tự mình nắm chủ quyền, hay làm chúa
tể chính mình.
Một
trong bốn yếu tố tăng thượng -- ý muốn, tư tưởng, tinh
tấn và lý trí -- có thể vào một lúc nào, duyên hệ với
những tâm sở và các sắc pháp đồng phát sanh theo cách "tăng
thượng duyên".
"Mỗi
khi những hiện tượng như tâm và tâm sở khởi sanh, làm nổi
bật (tăng thượng) một trong bốn yếu tố thì đối với
hiện tượng kia là một điều kiện hỗ trợ theo cách tăng
thượng duyên". (Paṭṭhāna)
21.
Anantara và Samanantara,
Vô
Gián và Ðẳng Vô Gián, tức liên tục không gián đoạn và
tức khắc tiếp theo.
Trong
ý nghĩa, không có sự khác nhau giữa hai danh từ. Hai chữ chỉ
khác nhau theo ngữ nguyên. Theo triết học Phật Giáo, khi một
chặp tư tưởng chấm dứt thì tạo điều kiện cho một chặp
tư tưởng khác khởi sanh liền tức khắc. Chặp tư tưởng
sau thừa hưởng tất cả tiềm năng của chặp tức khắc liền
trước đó. Trạng thái của chặp tư tưởng hoại diệt duyên
hệ với chặp tư tưởng sau liền kế đó theo cách vô gián
duyên và đẳng vô gián duyên.
22.
Sahajāta, Ðồng Sanh.
Duyên
hệ theo phương cách đồng sanh, thí dụ như bốn danh uẩn
-- thọ, tưởng, hành, thức -- những tâm sở khác nhau đồng
phát sanh cùng lúc trong một loại tâm, bốn Ðại Chánh Yếu
(đất, nước, lửa, gió) đồng khởi sanh cùng lúc, sự hiện
hữu của ba "thành-phần-mười", vào lúc được thọ thai v.v...
Ta có thể ghi nhận rằng trong pháp Paṭicca-samuppāda (Tùy Thuộc
Phát Sanh) cả hai xúc và thọ hiện hữu như nhân (xúc) và
quả (thọ) đồng phát sanh cùng một lúc, theo phương cách
đồng sanh duyên.
Một
tâm sở có thể đồng sanh với một tâm sở, một danh pháp
với một sắc pháp, một sắc pháp với một sắc pháp, và
một danh pháp với một danh pháp.
23.
Aññamañña, Hỗ Tương.
Cũng
như trong một cây nạn chống có ba chân, chân nào cũng cần
thiết, giúp chống đỡ hai chân kia, cùng thế ấy danh pháp
và sắc pháp, duyên hệ lẫn nhau theo phương cách hỗ tương
duyên. Nên phân biệt hai duyên hệ, đồng sanh và hỗ tương.
Nó không giống hệt nhau. Thí dụ như sắc pháp do tâm tạo
không hỗ tương duyên hệ với cái tâm hiện hữu, hay như
những chuyễn hóa của Tứ Ðại hiện hữu. Thông thường
danh và sắc hỗ tương liên hệ với nhau.
24.
Nissaya và Upanissaya, Y Chỉ và Thân Y Chỉ,
tức
tùy thuộc nương nhờ và trọn vẹn tùy thuộc nương nhờ.
Danh từ upanissaya do "upa" + "ni" + căn "si", nói dối. Upa là một
tiếp đầu ngữ nhằm tăng cường ý nghĩa. Cũng như cây cối
tùy thuộc nương nhờ nơi đất để đứng vững, như bức
tranh tùy thuộc nơi cái khung căng bố để người họa sĩ
vẻ trên đó, nissaya, y chỉ duyên, cũng dường thế ấy. Upanissaya
được định nghĩa là hình thức mạnh mẽ của nissaya. Y chỉ
và thân y chỉ được so sánh như những cơn mưa mà cây cối
phải tùy thuộc nương nhờ. S. Z. Aung phiên dịch upanissaya
là "điều kiện đầy đủ". Thí dụ như năm trọng nghiệp
là giết mẹ, giết cha v.v... sẽ là một upanissaya, điều kiện
đầy đủ, để tạo quả tái sanh trong khổ cảnh. Giới thân
cận, giáo dục tốt đẹp v.v... sẽ là duyên hệ theo phương
cách y chỉ duyên (nissaya), tức điều kiện nương nhờ, để
có được sức khoẻ, tài sản sự nghiệp, và kiến thức
sâu rộng trong một kiếp sống tương lai. Cũng như hành động
thiện trở thành upanissaya, thân y chỉ, tức sự nương nhờ
mạnh mẽ, cho những hành vi tốt trong tương lai, cùng thế
ấy, nó cũng có thể trở thành upanissaya cho những hành vi
xấu, thí dụ như lòng hãnh diện kiêu căng.
Xem
bài viết thâm sâu của Ngài Ledi Sayadaw về vấn đề nầy
trong Pāli Text Society Journal, 1916, trang 49-53.
25.
Purejāta, Tiền Sanh.
Sanh
ra trước, hoặc cái gì hiện hữu trước đó. Sáu căn môn
vật chất và sáu trần cảnh đối tượng được xem là tiền
sanh duyên. Những vật tiền sanh, đã hiện hữu trước đó,
chỉ được xem là duyên hệ khi nó vẫn còn tiếp tục hiện
hữu trong hiện tại chớ không phải chỉ vì trước đó nó
hiện hữu.
26.
Pacchājāta, Hậu Sanh.
Trong
89 loại tâm vương, 85 loại, ngoại trừ bốn tâm quả Vô Sắc,
và 52 tâm sở, duyên hệ tiền sanh với cơ thể vật chất
theo cách hậu sanh duyên.
27.
Āsevana, Tập Hành, tức thói quen huân tập, lặp đi lặp lại.
Thông
thường, một thói quen được lặp đi lặp lại có chiều
hướng giúp cho mình điêu luyện trong công việc làm ấy. Ðiều
nầy áp dụng cho việc tốt cũng như cho những việc làm xấu.
Bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần ta có thể tự tạo
nhiều khả năng trong một công việc. Āsevana có nghĩa là sự
lặp đi lặp lại như vậy. Trong lộ trình của tốc hành tâm
(javana) chặp tư tưởng thứ nhì duyên hệ với chặp thứ
nhất, chặp thứ ba duyên hệ với chặp thứ nhì, chặp thứ
tư liên hệ với chặp thứ ba theo phương cách tập hành duyên.
Vì lẽ ấy chặp tư tưởng thứ tư của tốc hành tâm được
xem là có năng lực rất mạnh.
28.
Kamma, Nghiệp.
Nghiệp
có nghĩa là tác ý, vốn giữ vai trò trọng yếu trong sự tạo
nghiệp thiện hay nghiệp bất thiện bằng ý, khẩu, hay thân.
Tác ý nầy mà danh từ chuyên môn gọi là Nghiệp, duyên hệ
với những sắc pháp khởi sanh do Nghiệp v.v... Cũng như hột
duyên hệ với cây, cùng thế ấy Nghiệp (Kamma) duyên hệ với
quả phải có, không thể tránh.
29.
Vipāka, Quả
Cũng
như làn gió mát làm êm dịu lòng người ngồi dưới tàng
bóng mát mẻ của một cội cây, cùng thế ấy các tâm sở
hậu quả của những loại tâm có bản chất an lành thanh tịnh
duyên hệ với những tâm sở và những sắc pháp đồng phát
sanh theo phương cách quả duyên.
30.
Āhāra, Vật Thực.
Cũng
như thức ăn vật chất bồi bỗ cơ thể vật chất, cùng thế
ấy, thức ăn tinh thần đem chất dinh dưỡng đến cho những
trạng thái tâm. Thức ăn liên hệ với cơ thể theo cách thực
duyên, hay điều kiện dinh dưỡng vật chất, cùng thế ấy
những xúc chạm tinh thần (phassa) duyên hệ với những thọ
cảm, với những tác ý hay hành động thiện và bất thiện
(manosañcetanā), với thức tái sanh (paṭisandhi viññāṇa);
và thức tái sanh (viññāṇa) duyên hệ với danh và sắc.
31.
Indriya, Căn.
Căn
là những yếu tố được lược kê trong Chương VĪ, trở thành
duyên hệ với danh pháp và sắc pháp đồng thời hiện hữu
bởi vì nó tác hành nhiệm vụ kiểm soát trong phạm vi của
nó. Thí dụ như tín căn kiểm soát những tâm sở đồng phát
sanh thuộc về đức tin trong tôn giáo; danh mạng căn và sắc
mạng căn kích thích, khơi dậy, làm sống sự linh động cho
danh và sắc; niệm căn kiểm soát các tâm sở trong phạm vi
quán niệm; thọ căn, trong sự ưu phiền và hạnh phúc v.v...
32.
Jhāna, Thiền.
Bảy
chi thiền: 1. tầm, 2. Tứ (hay sát), 3. phỉ, 4. lạc, 5. xả,
6. khổ, và 7. định, hay nhất điểm tâm, tương quan duyên
hệ với nhau và duyên hệ với những tâm sở đồng phát sanh
theo phương cách tri giác và quán niệm. Thí dụ như chi thiền
tầm (vitakka) duyên hệ với các tâm sở đồng phát sanh bằng
cách hướng dẫn những tâm sở ấy về đối tượng. Xem Chương
I.
1,
2, 3, 4, 7 nằm trong hai loại tâm bắt nguồn từ tham; 1, 2, 6,
7 trong những loại tâm sân; 1, 2, 5, 7, trong các loại tâm si.
33.
Magga, Ðạo.
Magga
có nghĩa là phương cách hay con đường. Một con đường dẫn
đến những trạng thái đau khổ, khổ cảnh, con đường kia
đưa đến những trạng thái hạnh phúc. Cỗ xe chở khách đi
đường đến khổ cảnh là những "Chi Ðạo" tà kiến, tà
tư duy, tà tinh tấn, và tà định. Chiếc xe chạy thẳng đến
những trạng thái hạnh phúc là chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
và chánh định. Những chi đạo nầy duyên hệ với cả hai
danh và sắc, đưa đi xuống trong trường hợp bất thiện pháp,
và đưa vượt ra khỏi những kiếp sinh tồn (niyyāna) trong
trường hợp thiện pháp.
34.
Sampayutta, Tương Ưng, hay liên hợp với.
Mặc
dầu có những đặc tính cá biệt rõ ràng nhưng trong quan kiến
cùng tột, vì những tâm sở đồng phát sanh, đồng hoại diệt
trong một lúc, đồng có chung một đối tượng, và khởi sanh
ở chung một căn môn, cho nên tất cả đều tương quan duyên
hệ với nhau theo cách tương ưng duyên.
35.
Vippayutta, Bất Tương Ưng,
tức
chia tách ra. Vippayutta là nghịch nghĩa với sampayutta. Vị ngọt
và vị đắng có thể trợ giúp lẫn nhau bằng cách là khác
nhau. Thí dụ như cái tâm tùy thuộc nơi ý căn, tức duyên
hệ với ý căn theo cách "bất tương ưng" bởi vì cả hai,
tâm và ý căn không tương quan dính liền với nhau, như nước
và lá sen.
36.
Atthi, Hiện Hữu.
Atthi
là sự duyên hệ của những trạng thái đồng phát sanh trong
hiện tại, giống như đồng sanh duyên. Thí dụ như trạng
thái thấy đối tượng là do có sự hiện hữu của ánh sáng.
37.
Natthi, Vô Hiện Hữu, tức vắng mặt trong hiện tại.
Cũng
như lúc ánh sáng tan biến thì tiếp theo sau đó là bóng tối,
cùng thế ấy khi cái đi trước tan biến thì cái đi tiếp
theo sau xuất hiện. Ðó là duyên hệ theo phương cách "vô hiện
hữu", tức không có mặt. Thí dụ như nhãn thức (dassana) tương
quan duyên hệ với cái tức khắc tiếp liền theo sau là sự
hiểu biết rõ ràng (sampaticchana) theo cách vô hiện hữu duyên.
38.
Vigata và Avigata, Ly và Bất Ly.
Theo
thứ tự, cũng giống như Natthi và Atthi.
-ooOoo-
Paññattibhedo
Khái
niệm
4.
Tattha
rūpadhammā rūpakkhandho ca cittacetasikā- saṅkhātā cattāro arūpino
khandhā nibbānañc'āti pañcavidham pi arūpanti ca nāman'ti ca pavuccati.
Tato
avasesā paññatti pana paññāpiyattā paññatti, paññāpanato paññattī'ti
ca duvidhā hoti.
Katham?
Taṁ taṁ bhūtapariṇāmākāramupādāya tathā tathā paññattā
bhūmipabbatādikā, sasambhārasanni- vesākāram'upādāya geharathasakaṭādikā,
khandha pañca-kam'upādāya purisapuggalādikā, candāvattanādikam'
upādāya disākālādikā, asamphuṭṭhākāram'upādāya kūpaguhādikā,
taṁ taṁ bhūtanimittaṁ bhāvanāvisesañ ca upādāya kasiṇanimittādikā
cā'ti evamādippabhedā pana paramatthato avijjamānā'pi atthacchāyākārena
citt- uppādānamālambanabhūtā taṁ taṁ upādāya upanidhāya kāraṇaṁ
katvā tathā tathā parikappiyamānā saṅkhāyati, samaññāyati, voharīyati,
paññāpīyatī'ti paññattī'ti pavuccati. Ayaṁ paññatti paññapiyattā
paññatti nāma.
Paññāpanato
paññatti pana nāma nāmakammādi- nāmena paridīpitā.
Sā
vijjamānapaññatti, avijjamānapaññatti, vijja- mānena avijjamāna
paññatti, avijjamānena vijjamāna- paññatti, vijjamānena vijjamānapaññatti,
avijjamānena avijjamānapaññatti c'āti chabbidhā hoti.
Tattha
yadā pana paramatthato vijjamānaṁ rūpa- vedanādiṁ etāya paññāpenti
tadāyaṁ vijjamānapaññatti. Yadā pana paramatthato avijjamānaṁ
bhūmipabbatādiṁ etāya paññāpenti, tadāyaṁ avijjamānapaññattīti
pavuccati. Ubhinnaṁ pana vomissakavasena sesā yathākkamaṁ chaḷabhiñño,
itthisaddo, cakkhuviññāṇam, rājaputto'ti ca veditabbā.
Vacīghosānusārena
sotaviññāṇavīthiyā
Pavattānantaruppanna
manodvārassa gocarā.
Atthāyassānusārena
viññāyanti tato paraṁ
Sāyaṁ
paññatti viññeyyā lokasaṅketanimmitā'ti.
Iti
Abhidhamatthasaṅgahe Paccayasaṅgahavibhāgo nāma aṭṭhamo paricchedo.
§
4
Nơi
đây các sắc pháp chỉ là sắc uẩn.
Tâm
và những tâm sở, vốn bao gồm bốn uẩn vô sắc, và Niết
Bàn, là năm loại pháp vô sắc. Các pháp ấy cũng được gọi
là "danh" (Nāma).
Các
pháp còn lại là những khái niệm (Paññatti) (39), vốn có
hai loại: khái niệm như cái gì được biết đến, và khái
niệm làm cho được biết đến.
Bằng
cách nào?
Có
những danh từ như "đất", "núi" v.v... được gọi như vậy
theo phương cách biến đổi trạng thái của những nguyên tố;
như danh từ "nhà", "xe bò" v.v... được gọi như vậy theo lối
kết hợp những vật liệu; những danh từ như "người", "cá
nhân" v.v... được gọi như vậy theo năm uẩn; những danh từ
như "phương hướng", "thời gian" v.v... được gọi như vậy
theo sự vận chuyển của mặt trăng v.v... ; những danh từ
như "giếng", "hang động" v.v... được gọi như vậy theo lối
không xúc chạm v.v...; những danh từ như đề mục Kasiṇa
v.v... được gọi như vậy theo những nguyên tố và những
phương cách khác nhau để trau giồi, rèn luyện tâm.
Tất
cả những sự vật khác biệt ấy, mặc dầu theo ý nghĩa cùng
tột (tức chân đế) thì không có hiện hữu, đã trở thành
đối tượng của tâm dưới hình thức là những hình bóng
của sự vật (cùng tột).
Những
sự vật ấy được gọi là "paññatti", khái niệm, bởi vì
người ta nghĩ đến, nhận ra, hiểu biết, biểu lộ, và làm
cho được hiểu biết vì lý do, theo nhận xét, đối với phương
thức nầy hay phưong thức khác. Loại "paññatti", khái niệm,
nầy được gọi như vậy bởi vì nó được làm cho biết
như vậy.
Vì
nó làm cho biết nên được gọi là "paññatti", khái niệm.
Nó được mô tả là "danh", hay "nghĩa" v.v...
Khái
niệm gồm sáu loại (40):
1.
Một khái niệm thật sự có, 2. một khái niệm không thật
sự có, 3. một khái niệm không thật sự có do một khái niệm
thật sự có, 4. một khái niệm thật sự có do một khái niệm
không thật sự có, 5. một khái niệm thật sự có do một
khái niệm thật sự có, 6. một khái niệm không thật sự
có do một khái niệm không thật sự có.
Thí
dụ, nó làm cho được biết bằng một danh từ như "sắc",
"thọ" v.v... chỉ những sự vật thật sự có hiện hữu, nên
gọi nó là "khái niệm thật sự có".
Khi
nó làm cho được biết do một danh từ như "đất", "núi" v.v...
vốn không thật sự hiện hữu, nên gọi là "khái niệm không
thật sự có".
Phần
còn lại phải được hiểu bằng cách tuần tự phối hợp
cả hai, thí dụ "người đã chứng sáu nhãn quan siêu thế",
"tiếng nói của người phụ nữ", "nhãn thức", "con vua".
Tóm
lược
Bằng
cách theo dõi âm thanh của tiếng nói xuyên qua lộ trình nhĩ
thức, vào lúc ấy, qua khái niệm của lời nói mà ý môn tiếp
nhận, ý nghĩa (của lời nói) được hiểu biết.
Những
khái niệm ấy phải được biết là tục đế, chân lý chế
định.
Ðây
là chương thứ tám đề cập đến Sự Phân Tách Những Duyên
Hệ của sách Vi Diệu Pháp Toát Yếu.
Chú
Giải
39.
Paññatti, Khái Niệm.
Có
hai loại paññatti, khái niệm, là: atthapaññatti, nghĩa khái
niệm, và nāmapaññatti, danh khái niệm. Atthapaññatti, nghĩa
khái niệm, là làm cho được biết, tức là đối tượng mà
khái niệm đề cập đến. Nāmapaññatti, danh khái niệm, là
cái tên đặt cho đối tượng.
Ðất,
núi, v.v... được gọi là "saṇṭhāna-paññatti", hình sắc
khái niệm, vì nó diễn đạt hình thể của sự vật.
Xe
bò, làng v.v... được gọi "samūha-paññatti" là những khái
niệm tổng hợp, bởi vì đó là tên gọi chung một tổng hợp,
hay một nhóm sự vật.
Ðông,
Tây v.v... được gọi là "disā-paññatti", những khái niệm
về địa phương, bởi vì nó mô tả phương hướng của một
vùng.
Sáng,
trưa v.v... được gọi là "kāla-paññatti", những khái niệm
về thời gian, bởi vì nó liên quan đến thời gian. Giếng,
hang động v.v... được gọi là "akāsa-paññatti", khái niệm
về không gian, bởi nó liên quan đến không trung.
Hình
ảnh hình dung, hình ảnh khái niệm v.v... được gọi là "nimitta-paññatti",
những khái niệm về hình tướng, bởi vì nó liên quan đến
những dấu hiệu tinh thần mà công trình trau giồi rèn luyện
tâm thành đạt.
40.
Sáu Loại Paññatti
1.
Sắc, thọ v.v... có hiện hữu, trong ý nghĩa cùng tột (chân
đế).
2.
Ðất, núi v.v... là những danh từ áp dụng cho những sự vật
thật sự không hiện hữu, trong ý nghĩa cùng tột.
3.
Người chứng đắc sáu pháp siêu thế". Nơi đây trong ý nghĩa
cùng tột (chân đế) không có người chứng đắc, nhưng có
sự chứng đắc sáu pháp siêu thế.
4.
"Tiếng nói của người phụ nữ". Nơi đây, trong ý nghĩa cùng
tột (theo chân đế), thì có tiếng nói, nhưng người phụ
nữ thì không thật sự có hiện hữu.
5.
Nhãn thức. Nơi đây, trong ý nghĩa cùng tột thì có phần nhạy
của con mắt và có sự thấy, hay nhãn thức, tùy thuộc nơi
phần nhạy của mắt. Cả hai đều có.
6.
Con ông vua. Nơi đây, theo chân đế thì không có ông vua mà
cũng không có con ông vua.