Chương
IX
KAMMA.T.THĀNA-SAṄGAHA-VIBHĀGO
Khái
lược về những đề mục hành thiền
[*]
[*]
Mười đề mục nầy dùng vật để niệm gọi là Kasiṇa.
Xem Chú giải # 7 bên dưới.
1.
Kammaṭṭhānasaṅgaho
Samathavipassanānaṁ
bhāvanānam' ito paraṁ
Kammaṭṭhānaṁ
pavakkhāmi duvidhaṁ pi yathākkamaṁ.
2.
Tattha
samathasaṅgahe tāva dasakasiṇāni, dasa asubhā, dasa anussatiyo,
catasso appamaññāyo, ekā saññā, ekaṁ vavatthānaṁ, cattāro
āruppā c'āti sattavidhena samathakammaṭṭhānasaṅgaho.
Rāgacaritā,
dosacaritā, mohacaritā, saddhācaritā, buddhicaritā, vitakkacaritā,
c'āti chabbhidhena carita- saṅgaho.
Parikammabhāvanā,
upacārabhāvanā, appanā- bhāvanā c'āti tisso bhāvanā.
Parikammanimittaṁ,
uggahanimittaṁ, paṭibhāga- nimittaṁ c'āti tīni nimittāni ca veditabbāni.
Katham?
Paṭhavīkasiṇaṁ,
āpokasiṇaṁ, tejokasiṇaṁ, vāyo-kasiṇaṁ nīlakasiṇaṁ, pītakasiṇaṁ,
lohitakasiṇaṁ, odātakasiṇaṁ, ākāsakasiṇaṁ, ālokakasiṇaṁ
c'āti imāni dasa kasiṇāni nāma.
Uddhumātakaṁ,
vinīlakaṁ, vipubbakaṁ, vicchid -dakaṁ, vikkhāyitakaṁ, vikkhittakaṁ,
hatavikkhittakaṁ, lohitakaṁ, puḷavakaṁ, aṭṭhikaṁ c'āti ime
dasa asubhā nāma.
Buddhānussati,
Dhammānussati, Saṅghānussati, Sīlānussati, Cāgānussati, Devatānussati,
Upasamānussati, Maraṇānussati, Kāyagatāsati, Ānāpānassati c'āti
imā dasa anussatiyo nāma.
Mettā,
Karuṇā, Muditā, Upekkhā c'āti imā catasso appamaññāyo nāma,
Brahmavihāro'ti pavuccati.
Āhāre
paṭikkūlasaññā ekā saññā nāma.
Catudhātuvavatthānaṁ
ekaṁ vavatthānaṁ nāma.
Ākāsānañcāyatanādayo
cattāro āruppā nāmā'ti sabbathā pi samathaniddese cattāḷīsa kammaṭṭhānāni
bhavanti.
Sappāyabhedo
3.
Caritāsu
pana dasa asubhā kāyagatāsati saṅkhātā koṭṭhāsabhāvanā ca
rāgacaritassa sappāya.
Catasso
appamaññāyo nīlādīni ca cattāri kasiṇāni dosacaritassa.
Ānāpānaṁ
mohacaritassa vitakkacaritassa ca.
Buddhānusati
ādayo cha saddhācaritassa.
Maraṇopasamasaññāvavatthānāni
buddhicaritassa.
Sesāni
pana sabbāni pi kammaṭṭhānāni sabbesam pi sappāyāni.
Tattha'pi
kasiṇesu puthulaṁ mohacaritassa, khuddakaṁ vittakkacaritassa ca.
Ayam'ettha
sappāyabhedo.
Bhāvanā-bhedo
4.
Bhāvanāsu
pana sabbatthā 'pi parikkamma-bhāvanā labbhat'eva.
Buddhānussati
ādisu aṭṭhasu saññāvavatthānesu c'āti dasasu kammaṭṭhānesu
upacāra bhāvanā'va sampajjati, natthi appanā.
Sesesu
pana samatiṁsakammaṭṭhānesu appanā bhāvanā'pi sampajjati.
Tatthā'pi
dasa kasiṇāni ānāpānañ ca pañcakajjhāni- kāni.
Dasa
asubhā kāyagatāsati ca paṭhamajjhānikā.
Mettādayo
tayo catukkajjhānikā.
Upekkhā
pañcamajjhānikā.
Iti
chabbīsati rūpāvacarajjhānikāni kammaṭṭhānāni.
Cattāro
pana āruppā arūpajjhānika.
Āyam'ettha
bhāvanābhedo.
Gocarabhedo
5.
Nimittesu
pana parikammanimittaṁ uggaha- nimittaṁ ca sabbatthā'pi yathārahaṁpariyāyena
labbhant' eva. Paṭibhāganimittaṁ pana kasiṇāsubhakoṭṭhāsānāpān-
esv'eva labbhati. Tattha hi paṭibhāganimittamārabbha upacārasamādhi
appanāsamādhi ca pavattanti. Katham? Ādikammikassa hi paṭhavimaṇdalādisu
nimittam' uggahantassa tam'ālambanaṁ parikammanimittanti pavuccati.
Sā ca bhāvanā parikammabhāvanā nāma.
Yadā
pana taṁ nimittaṁ cittena samuggahitaṁ hoti, cakkhunā passantass'eva
manodvārassa āpāthamāgataṁ tadā tam' evālambanaṁ uggahanimittaṁ
nāma. Sā ca bhāvanā samādhiyati.
Tathā
samāhitassa pana tassa tato paraṁ tasmiṁ uggahanimitte parikammasamādhinā
bhāvanāmanuyuñ- jantassa yadā tappaṭibhāgam vatthudhammavimuccitaṁ
paññattisaṅkhātaṁ bhāvanāyaṁ ālambanaṁ citte sannisinnaṁ
samappitaṁ hoti. Tadā taṁ paṭibhāga- nimittaṁ samuppannā'ti
pavuccati. Tato paṭṭhāya paribanda vippahīṇā kāmāvacarasamādhisaṅkhātā
upacāra bhāvanā nipphannā nāma hoti. Tato paraṁ tam'eva paṭibhāganimittaṁ
upacāra samādhinā samāsevantassa rūpāvacarapaṭhamajjhānam appeti.
Tato paraṁ tam eva paṭhamajjhānaṁ āvajjanaṁ, samāpajjanaṁ,
adhiṭṭhānaṁ, vuṭṭhānaṁ, paccavekkhaṇā c'āti imāhi pañcahi
vasitāhi vasībhūtaṁ katvā vitakkādikam' oḷārikaṅgaṁ pahānāya
vicārādi sukhumaṅguppattiyā padahanto yathākkamaṁ dutiyajhānādayo
yathāraham'appeti.
Icc'evaṁ
paṭhavikasiṇādisu dvāvisatikammaṭṭhā-nesu paṭibhāganimittam'upalabbhati.
Avasesu pana appamaññā sattapaññattiyaṁ pavattanti.
Ākāsavajjitakasiṇesu
pana yaṁ kiñci kasiṇaṁ ugghāṭetvā laddhamākāsaṁ anantavasena
parikammaṁ karontassa paṭhamāruppam'appeti. Tam'eva paṭhamā-ruppaviññāṇaṁ
anantavasena parikammaṁ karontassa dutiyāruppam'appeti. Tam'eva paṭhamāruppaviññāṇā-bhāvaṁ
pana natthi kiñci'ti parikammaṁ karontassa tatiyāruppam'appeti. Tatiyāruppaṁ
santam'etaṁ paṇītam' etanti parikkamaṁ karontassa catutthāruppam'
appeti.
Avasesesu
ca dasasu kammaṭṭhānesu Buddhaguṇā- dikamālambanam'ārabbha parikammaṁ
katvā tasmiṁ nimitte sādhukam'uggahite tatth'eva parikammañ ca samādhiyati,
upacāro ca sampajjati.
Abhiññāvasena
pavattamānaṁ pana rūpāvacara- pañcamajjhānaṁ abhiññāpādaka
pañcamajjhānā vuṭṭhahitvā adhiṭṭheyyādikam'āvajjitvā parikammaṁ
karontassa rūpādisu ālambanesu yathāraham' appeti.
Abhiññā
ca nāma:--
Iddhividhaṁ
dibbasotaṁ paracittavijānanā
Pubbenivāsānussati
dibbacakkhū'ti pañcadhā.
Ayam'ettha
gocarabhedo.
Niṭṭhito
ca samathakammaṭṭhānanayo.
Phần
Nhập Ðề
§1
Nơi
đây tôi sẽ giải thích về những đề mục luyện tâm gồm
hai phần, liên quan đến thiền Vắng Lặng (2) và thiền Minh
Sát (3).
§2
Về
hai pháp nầy, để khởi đầu, trong Khái Lược về thiền
Vắng Lặng, đề mục hành thiền gồm bảy phần:
A.
mười Kasiṇa, B. mười đề mục Bất Tịnh (về tử thi),
C. mười đề mục Suy Niệm, D. bốn đề mục Vô Lượng, E.
một đề mục Quán Tưởng, F. một đề mục Phân Tách, và
G. bốn đề mục Thiền Vô Sắc.
Có
sáu loại tâm tánh (4): 1. tham ái, 2. sân hận, 3. si mê hay vô
minh, 4. Tín đức hay có nhiều đức tin, 5. trí thức hay sáng
suốt, 6. phóng dật.
Có
ba giai đoạn tu niệm: 1. sơ khởi (5), 2. kế cận, và 3. định
tâm.
Có
ba ấn chứng (6): 1. sơ khởi, 2. trừu tượng, và 3. khái niệm.
Như
thế nào?
A.
Mười kasiṇas (7) là: đất, nước, lửa, không khí, màu xanh,
màu vàng, màu đỏ, màu trắng, không gian, và ánh sáng.
B.
Mười đề mục Bất Tịnh (hay mười loại tử thi) (8) là:
một (tử thi) sình, một (tử thi) đã đổi màu, một (tử
thi) đã tan rã chảy nước, một (tử thi) bị đứt lìa, một
(tử thi) bị đục khoét, một (tử thi) bị văng vụng ra từng
mảnh, một (tử thi) rã rời vung vảy tản mác, một (tử thi)
đẩm đầy máu, một (tử thi) bị dòi tửa đục tan, và một
bộ xương tàn.
C.
Mười đề mục Suy Niệm (9) là: 1. Suy Niệm về Ðức Phật,
2. Suy Niệm về Giáo Pháp, 3. Suy Niệm về Giáo Hội Tăng Già,
4. Suy Niệm về Giới Luật, 5. Suy Niệm về tâm bố thí, 6.
Suy Niệm về chư Thiên, 7. Suy Niệm về trạng thái thanh bình
an lạc, 8. Suy Niệm về sự chết, 9. Niệm thân, 10. Niệm hơi
thở (10).
D.
Tứ Vô Lượng Tâm (11), cũng được gọi là Tứ Phạm Trú,
bốn Trạng Thái Tâm Cao Thượng, hay bốn Phẩm Hạnh Cao Thượng
là: từ, bi, hỷ, xả.
E.
Một đề mục Quán Tưởng, là quán tưởng về tánh cách không
trong sạch của thức ăn (12).
F.
Một đề mục Phân Tách là phân tách Tứ Ðại (bốn nguyên
tố chánh yếu cấu thành phần vật chất)(13).
G.
Bốn đề mục Thiền Vô Sắc (Arūpa-Jhānas) là "Không Vô Biên
Xứ" (14) v.v...
Theo
lối trình bày về Thiền "Vắng Lặng", tất cả có bốn mươi
(15) đề mục hành thiền.
Những
Ðề Mục Hành Thiền Thích Hợp Với Các Loại Tâm Tánh Khác
Nhau
§3
Ðối
với các tâm tánh, mười đề mục về sự Bất Tịnh (ô trược)
của thân và đề mục Niệm Thân", như 32 phần (của thân),
là thích hợp với người có bẩm tánh tham ái (16).
Ðề
mục "Tứ Vô Lượng Tâm" và bốn kasiṇas màu thích hợp với
những ai có bẩm tánh sân hận (17).
Ðề
mục Niệm Hơi Thở" thích hợp với những ai có bẩm tánh
si mê và phóng dật.
Sáu
đề mục "Suy Niệm về Ðức Phật v.v..." thích hợp với những
người bẩm tánh có nhiều đức tin; Suy niệm về "Sự Chết",
về "Trạng Thái Thanh Bình An Lạc", "Quán Tưởng" (tánh cách
ô trược của vật thực) và "Phân Tách" (Tứ Ðại) thích
nghi với những người có chiều hướng thiên về trí thức;
và tất cả những đề mục tu niệm còn lại thích hợp với
tất cả mọi bẩm tánh.
Về
những kasiṇas, một hình tướng rộng lớn thích hợp với
người có khuynh hướng si mê, hình tướng nhỏ thích hợp
với người có bẩm tánh phóng dật.
Ðây
là đoạn đề cập đến tình trạng thích hợp (của những
đề mục luyện tâm).
Những
Giai Ðoạn Luyện Tâm
§4
Tất
cả bốn mươi đề mục hành thiền kể trên đều có thể
giúp đưa đến giai đoạn sơ khởi của công trình luyện tâm.
Mười đề mục như tám đề mục Suy Niệm về Ðức Phật
v.v..., đề mục "Quán Tưởng", và đề mục "Phân Tách" (18)
chỉ dẫn đến giai đoạn cận định mà không đưa đến giai
đoạn hoàn toàn an định tâm. Ba mươi đề mục luyện tâm
còn lại có thể dẫn đến toàn định.
Trong
ba mươi đề mục đó mười kasiṇas và đề mục Niệm Hơi
Thở" dẫn đến ngũ thiền; mười đề mục "Bất Tịnh" và
đề mục Niệm Thân" chỉ dẫn đến sơ thiền; ba đề mục
đầu trong "Tứ Vô Lượng Tâm" như niệm tâm từ chẳng hạn,
dẫn đến tứ thiền, niệm tâm xả (19) đến ngũ thiền.
Như
vậy hai mươi sáu đề mục luyện tâm dẫn đến những Thiền
Sắc Giới.
Bốn
đề mục "vô sắc" dẫn đến những tầng Thiền Vô Sắc.
Ðây
là đoạn đề cập đến pháp luyện tâm.
Những
Ấn Chứng Của Công Trình Luyện Tâm
§5
Trong
ba ấn chứng, hình ảnh sơ khởi và hình ảnh trừu tượng
thông thường có thể được chứng nghiệm trong mọi trường
hợp, tùy đề mục. Nhưng hình ảnh khái niệm thì được
thành tựu do những đề mục "Kasiṇa", "Bất Tịnh", Những
Phần Của Thân" và pháp Niệm Hơi Thở".
Chính
nhờ hình ảnh khái niệm mà hành giả phát triển trạng thái
cận định và đắc Thiền.
Bằng
cách nào?
Bất
luận đề mục nào trong những vật thể kasiṇas đất v.v...,
mà hành giả sơ cơ dùng để gom tâm, thì đó là đề mục
sơ khởi, và pháp hành thiền ấy được gọi là pháp luyện
tâm sơ khởi. Khi ấn chứng ấy được cảm nhận và nhập
vào tâm hành giả qua ý môn như một vật được thấy xuyên
qua mắt (thịt) thì được gọi là hình ảnh trừu tượng.
Công trình hành thiền như vậy trở nên vững chắc kiên cố.
Cùng
thế ấy, khi hình ảnh hình dung phát sanh do công trình hành
thiền mất đi những khuyết điểm (20) (như tỳ vết hay lồi
lõm) và được cảm nhận như một khái niệm, vững vàng và
chắc chắn trong tâm của vị hành giả đã hoàn toàn nắm
vững pháp hành của mình, đã kiên cố an trụ tâm vào đề
mục sơ khởi và hình ảnh trừu tượng, vào lúc ấy hình
ảnh khái niệm khởi phát.
Thiền
Sắc Giới
Sau
giai đoạn "cận định", không còn bị những trở ngại thuộc
về Dục Giới khởi sanh, hành giả dùng tâm "cận định"phát
triển hình ảnh khái niệm và chứng đắc tầng thiền đầu
tiên thuộc Sắc Giới (sơ thiền Sắc Giới).
Kể
từ đó, chăm chú gom tâm vào sơ thiền bằng năm pháp để
thuần thục nắm vững (tầng thiền nầy) (21) --- tức chăm
chú gom tâm định, nhập thiền, an trú trong thiền, xuất thiền
và quán sát ôn duyệt -- vị hành giả chuyên cần tinh tấn
từ từ phát triển những chi thiền vi tế như "Tứ" v.v.. tùy
trường hợp, và chứng đắc nhị thiền, tam thiền v.v.. bằng
cách vượt qua những chi thiền thô thiển như "Tầm", "Tứ"
v.v .. .
Vậy,
với hai mươi hai đề mục hành thiền như vật thể kasiṇa
v.v.. hành giả thành tựu hình ảnh khái niệm. Nhưng trong những
đề mục luyện tâm còn lại (mười tám) bốn tâm "Vô Lượng"
tùy thuộc liên quan nơi chúng sanh.
Thiền
Vô Sắc (22)
Giờ
đây, người thực hành pháp định tâm về không gian loại
trừ tất cả các kasiṇa, ngoại trừ ākāsa kasiṇa, lấy không
gian làm đề mục sơ khởi và suy niệm "không gian đây là
vô cùng tận". Bằng cách làm như vậy, sơ thiền Vô Sắc khởi
sanh đến vị ấy. Hành giả lấy sơ thiền Vô Sắc làm đề
mục sơ khởi, suy niệm về tâm thức sơ thiền và nhận định
rằng "thức nầy là vô cùng tận". Nhị thiền Vô Sắc khởi
sanh. Hành giả giờ đây chăm chú gom tâm vào trạng thái không
hiện hữu của tâm thức sơ thiền, nghĩ rằng "không có bất
luận gì" -- tam thiền Vô Sắc khởi sanh. Hành giả gom tâm
chăm chú vào tâm thức tam thiền Vô Sắc, nghĩ rằng "quả
thật là vắng lặng, quả thật là tối thượng", tứ thiền
Vô Sắc khởi sanh.
Trong
mười đề mục luyện tâm còn lại khi hành giả gom tâm vào
một đề mục như ân đức của Ðức Phật v.v.. và khi thấy
được ấn chứng,"đề mục sơ khởi" trở thành vững chắc
và trạng thái "cận định" cũng được thành đạt.
Siêu
Trí (23)
Xuất
ra khỏi ngũ thiền (được dùng làm) căn bản cho trạng thái
siêu trí và suy niệm về "quyết định" v.v.. khi thực hành
gom tâm vào một vật thể v.v.. tùy trường hợp, ngũ thiền
Sắc Giới phát sanh đến hành giả và đưa vào con đường
phát triển các pháp siêu trí (thần thông).
Năm
loại siêu trí là: Thần Túc Thông (những năng lực thần thông
khác nhau), Thiên Nhĩ Thông, Tha Tâm Thông, Túc Mạng Thông và
Thiên Nhãn Thông.
Nơi
đây là đoạn đề cập đến pháp luyện tâm.
Phương
pháp hành thiền Vắng Lặng đến đây chấm dứt.
Chú
Giải
1.
Kammaṭṭhāna, Ðề Mục Hành Thiền
Nơi
đây danh từ nầy được dùng trong ý nghĩa chuyên môn. Kamma
là công phu hành thiền, hay quán niệm. .Thāna, theo ngữ nguyên,
là trạm, căn cứ, hay cơ hội, hàm xúc ý nghĩa là đề tài
tu niệm, hay pháp tu tập. Do đó, Kammaṭṭhāna có nghĩa là
"những đề tài để hành thiền" hay "đề mục hành thiền".
Có tất cả bốn mươi đề mục như thế.
2.
Samatha, Vắng Lặng
Danh
từ samatha do căn "sam", ru ngũ, làm dịu bớt, hàm xúc trạng
thái "yên tĩnh" hay "vắng lặng" mà người hành thiền tạo
nên do nhờ làm suy giảm những Chướng Ngại Tinh Thần (Triền
Cái). Danh từ nầy đồng nghĩa với tâm định (samādhi), vốn
dẫn đến sự phát triển các tầng thiền (jhānas). Tâm định
nầy chỉ tạm thời đè nén ô nhiễm.
3.
Vipassanā, Minh Sát
Vipassanā
do "vi" + căn "dis" là thấy, theo nghĩa đen là nhận thức bằng
nhiều phương cách, tức là hiểu biết sự vật dưới ánh
sáng của ba đặc tướng vô thường, khổ, và vô ngã. Danh
từ nầy được phiên dịch là "minh sát", "trực giác", "quán
chiếu nội tâm", "bản lai diện mục". Ðối tượng duy nhất
của vipassanā, minh sát, là thấy sự vật đúng thật như sự
vật là vậy nhằm thành tựu Giải Thoát.
4.
Carita, Bẩm Tánh
Là
bản chất cố hữu của một người, phát lộ cho biết tánh
tình bình thường của người ấy khi không bị bất luận
gì làm xáo trộn. Mỗi người có tâm tánh khác nhau vì trong
quá khứ mỗi người có những hành động tạo nghiệp khác
nhau. Những hành động thường lặp đi lặp lại có chiều
hướng trở nên bẩm tánh cá nhân.
Rāga
(tham ái) đôi khi là bẩm tánh nổi bật của vài người, trong
khi ấy dosa (sân hận, nóng giận, hay ác tâm) là bẩm tánh
của người khác. Thông thường người ta thuộc về hai hạng
người nầy. Cũng có một ít người khác thiếu sáng suốt
và ít hay nhiều si mê (mohacarita). Gần giống như người si
mê, có hạng người mà tâm có chiều hướng phóng dật, luôn
luôn chạy đầu nầy nhảy đầu kia, không thể chăm chú vào
một điều gì (vitakkacarita). Vài người có tâm đạo đặc
biệt nhiệt thành (saddhācarita) trong khi ấy vài người khác
thông minh sáng suốt phi thường (buddhicarita).
Như
vậy, đại khái có sáu loại bẩm tánh.
Bằng
cách phối hợp lẫn lộn ta có 63 loại. Nếu tính thêm vào
bẩm tánh tà kiến (diṭṭhicarita) thì có 64 loại.
5.
Parikammabhāvanā
Giai
đoạn sơ khởi của công trình tu niệm, luyện tâm, được
gọi là Parikammabhāvanā, giai đoạn sơ khởi, chuẩn bị cho
công phu trau giồi, rèn luyện tâm. Công trình luyện tâm, từ
lúc phát triển hình ảnh khái niệm và tạm thời đè nén
những Triền Cái (chướng ngại tinh thần) cho đến chặp tư
tưởng Chuyển Tánh (Gotrabhū) trong tiến trình Jhāna Javana (Thiền
Tốc Hành), được gọi là Upacārabhāvanā, giai đoạn kế cận,
hay cận định. Chặp tư tưởng tức khắc khởi phát sau chặp
chuyển tánh (Gotrabhū) được gọi là Appanā, nhập thiền,
hoàn toàn an định, bởi vì chi thiền vitakka, "tầm", thành
phần tiên khởi của thiền (jhāna), vững chắc an trụ vào
đề mục. Lộ trình tâm của Thiền (Jhāna) diễn tiến như
sau:
Manodvāravajjana
// Parikamma -- Upacāra -- Anuloma -- Gotrabhū -- Appanā // Bhavaṅga.
[*]
[*]
Ý Môn Hướng Tâm // những chặp tư tưởng: Sơ Khởi -- Cận
Ðịnh -- Thuận Thứ -- Toàn Ðịnh // Hộ Kiếp.
6.
Parikammanimitta
Bất
luận đối tượng nào, như vật thể kasiṇa chẳng hạn, được
dùng làm đề mục sơ khởi để hành thiền cũng được gọi
là "Parikammanimitta".
Cũng
đối tượng ấy, khi được hành giả hình dung trong tâm lúc
nhắm mắt ngồi thiền, được gọi là "Uggahanimitta", ấn chứng
hình dung trong tâm.
Cũng
hình ảnh hình dung nầy, khi được cảm nhận mà trơn tru,
không còn những tỳ vết hay lồi lổm, thì gọi là "Paṭibhāganimitta",
hình ảnh khái niệm, và được dùng làm đối tượng cho Upacāra
và Appanā Bhāvanā.
7.
Kasiṇa
Phạn
ngữ nầy có nghĩa là "toàn thể", "tất cả", "đầy đủ".
Ðuợc gọi như vậy vì ánh sáng phát tủa từ hình ảnh khái
niệm mở rộng cùng khắp, không biên giới.
Trong
trường hợp Paṭhavikasiṇa, kasiṇa đất, ta dùng đất sét
màu da trời lúc rạng đông làm thành một dĩa tròn độ ba
tấc bề kính, cạo gọt trơn bén, tô mặt thật láng và đều
đặn. Nếu không có đủ đất sét màu da trời lúc rạng đông
có thể dùng để phía dưới một loại đất sét nào khác
rồi tô lên. Cái dĩa tròn ấy là kasiṇa maṇḍala, và cũng
được gọi là parikammanimitta, một hình tướng để làm đề
mục sơ khởi. Ðặt cái kasiṇa ấy độ một thước cách
chỗ mình ngồi và chăm chú gom tâm vào đó, niệm thầm trong
tâm paṭhavi, paṭhavi, hay đất, đất. Mục đích là để thành
đạt trạng thái nhất điểm tâm.
Khi
thực hành như thế một ít lâu -- có khi vài tuần, hay vài
tháng, hay cả năm -- người hành thiền sẽ có thể hình dung
đối tượng, nghĩa là lúc nhắm mắt vẫn còn thấy cái dĩa
tròn. Ðối tượng được hình dung ấy được gọi là "Uggahanimitta".
Chừng đó hành giả chăm chú gom tâm vào hình ảnh hình dung
ấy cho đến khi phát triển trong tâm một hình ảnh khác của
cái dĩa không còn những tỳ vết, lồi lỏm v.v.. được gọi
là "Paṭibhāganimitta", hình ảnh khái niệm của đề mục.
Hành giả tiếp tục an chỉ tâm vào khái niệm trừu tượng
ấy và được xem là thành đạt mức độ "cận định" (Upacārasamādhi,
kế cận tâm định). Lúc ấy năm Triền Cái, tức năm chướng
ngại tinh thần cố hữu dính liền với chúng sanh, tạm thời
được tâm an trụ khắc phục. Ðến đây hành giả nhập định
hoàn toàn (Appanāsamādhi) và nhập thiền.
Nếu
dùng kasiṇa nước làm đề mục thì nên lấy một tô nước
trong, đầy chí miệng, không màu sắc -- tốt nhất là nước
mưa trong sạch -- và chăm chú nhìn vào đấy niệm thầm āpo,
āpo, hay nước, nước, cho đến khi gom tâm an trụ vào một
điểm duy nhất.
Muốn
dùng kasiṇa lửa làm đề mục, hành giả có thể đốt một
ngọn lửa nhỏ trước mặt mình rồi chăm chú gom tâm nhìn
vào đấy xuyên qua một cái lỗ nhỏ khoảng một gang và bốn
ngón tay bề kính, trong một tấm vải, tấm đệm, hay tấm
da và niệm: tejo, tejo, lửa, lửa.
Người
trau giồi đề mục kasiṇa gió nhìn vào ngọn gió thổi xuyên
qua một cái lỗ trong vách và chăm chú niệm -- vāyo, vāyo,
gió, gió.
Muốn
thực hành kasiṇa màu ta có thể dùng một maṇḍala, vật
thể, như kể trên và tô màu xanh, vàng, đỏ, hay trắng rồi
chăm chú nhìn vào và niệm tên của màu ấy như trong trường
hợp các kasiṇas khác.
Cũng
có thể nhìn vào một cành hoa màu, hoặc xanh, hoặc vàng v.v..
để niệm màu sắc ấy.
Có
thể trau giồi kasiṇa ánh sáng bằng cách chăm chú nhìn vào
mặt trăng, hoặc một ngọn đèn không lay động, hoặc bóng
sáng có hình tròn của mặt trăng hay mặt trời chiếu xuyên
qua lá cây hay qua một cái lỗ trên vách, in trên tường hoặc
dưới đất, và niệm āloka, āloka, ánh sáng, ánh sáng.
Có
thể trau giồi đề mục Kasiṇa không gian bằng cách chăm chú
nhìn xuyên qua cái lỗ, độ một gang tay và bốn ngón bề kính,
khoét trên vách hay trên miếng vải hoặc miếng da, và niệm
-- okāsa, okāsa, không gian, không gian.
Ta
có thể ghi nhận rằng đề mục về ánh sáng và đề mục
về không gian không được Kinh Sách đề cập đến.
8.
Asubha, Bất Tịnh, hay ô trược
Ở
Ấn Ðộ vào thời xưa, thân xác người chết không được
đem đi chôn cất hoặc hỏa thiêu mà chỉ bỏ nằm ngoài nghĩa
địa cho chim chóc và thú vật ăn thịt. Do đó có mười loại
tử thi để làm đề mục hành thiền. Người ta ra nghĩa địa,
nhìn vào những xác chết sình thúi hay tan rã để suy niệm
về tánh cách bất tịnh của thân nầy mà thế thường được
xem là đẹp đẽ, đáng yêu, đáng quý. Ngày nay phong tục ấy
không còn. Như vậy mười đề mục hành thiền về tử thi
không thể đặt thành vấn đề nữa.
9.
Anussati, Quán Niệm
Danh
từ nầy theo nghĩa đen là suy gẫm trở đi trở lại, hay thường
xuyên chú niệm.
i.
Buddhānussati là suy niệm về những phẩm hạnh của Ðức Phật,
thí dụ như:
"Ðức
Thế Tôn hẳn thật là bậc Ứng Cúng, đấng Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
ii.
Dhammānussati là suy niệm về những đặc tánh cao cả của
Giáo Pháp như sau:
"Giáo
Pháp mà Ðức Thế Tôn khéo giảng dạy và được truyền bá
đầy đủ là để tự chứng ngộ, có hiệu năng tức khắc,
khuyến khích sự tìm tòi suy gẫm, dẫn đến nơi (Niết Bàn),
để bậc thiện trí am hiểu, mỗi người cho riêng mình."
iii.
Saṅghānussati là suy niệm về phẩm hạnh của các vị hội
viên tinh khiết trong Giáo Hội Cao Quý, những vị sống Ðộc
Thân như sau:
"Giáo
Hội các đệ tử của Ðức Thế Tôn có đức hạnh toàn hảo.
Các Ngài có phẩm hạnh của bậc trí tuệ. Các Ngài là những
vị đã thành tựu bốn Thánh Ðạo và bốn Thánh Quả. Giáo
Hội các đệ tử của Ðức Thế Tôn là bậc xứng đáng thọ
lãnh những vật cúng dường và chỗ ở. Các Ngài là bậc
xứng đáng được lễ bái, là phước điền vô thượng trên
thế gian."
iv.
Sīlānussati, niệm về giới đức, là suy niệm về đức hạnh
toàn hảo của chính mình.
v.
Cāgānussati, niệm về tâm rộng lượng bố thí, là suy niệm
về bẩm tánh khoan hồng rộng lượng của chính mình.
vi.
Devatānussati, niệm về chư Thiên, là suy niệm như sau:
"Các
vị Trời đã sanh vào những cảnh giới đáng phấn khởi ấy
do nhờ niềm tin và những phẩm hạnh khác của các Ngài. Ta
cũng có những phẩm hạnh ấy." Niệm như vậy và lặp đi
lặp lại nhiều lần về đức tin và những phẩm hạnh khác
của chính ta, và xin chư Thiên làm chứng. Niệm như vậy được
gọi là Devatānussati.
vii.
Upasamānussati là suy niệm về những đặc tính của Niết Bàn,
như Niết Bàn là chấm dứt đau khổ v.v...
viii.
Maraṇānussati là suy niệm về sự chấm dứt đời sống tâm-vật-lý.
Quán
tưởng về sự chết giúp hành giả thấu hiểu bản chất
tạm bợ của đời sống. Khi quán triệt rằng chết là điều
chắc chắn phải đến và cuộc sống quả thật là tạm bợ
nhất thời ta sẽ cố gắng tận dụng kiếp sống nầy để
tự trau giồi, tự phát triển, và giúp kẻ khác mở mang, thay
vì phung phí thì giờ trong dục lạc dể duôi. Kiên trì hành
pháp suy niệm về hiện tượng chết không làm cho hành giả
trở nên bi quan yểm thế và sống một cách tiêu cực mà trái
lại, càng tích cực và tinh tấn hơn. Ngoài ra hành giả còn
có thể ứng phó với cái chết một cách bình tĩnh, thản
nhiên.
Khi
quán tưởng sự chết, hành giả có thể suy niệm rằng đời
sống tựa hồ như ngọn đèn dầu, hoặc suy niệm rằng cái
được gọi chúng sanh chỉ là sự biểu hiện tạm thời ra
bên ngoài của luồng nghiệp lực vô hình, không khác nào ánh
sáng của ngọn đèn điện là biểu hiện tạm thời ra bên
ngoài của luồng điện lực vô hình ở bên trong sợi dây
điện. Hành giả có thể hình dung đời sống theo nhiều lối
khác, quán tưởng về tánh cách vô thường của kiếp nhân
sinh và sự kiện hiển nhiên chắc chắn là cái chết phải
đến.
ix.
Kāyagatāsati là suy niệm về 32 phần ô trược của thân như
tóc, lông, móng, răng, da v.v..
Quán
tưởng về tánh chất ô trược của cơ thể vật chất giúp
hành giả chế ngự tâm luyến ái đối với bản thân mình.
Nhiều vị tỳ khưu thời Ðức Phật đã đắc Quả A La Hán
nhờ hành thiền về đề mục nầy. Nếu không thích hợp với
tất cả ba mươi hai phần bất tịnh ta có thể chọn một
phần, như xương chẳng hạn, và suy niệm.
Bên
trong thân nầy là bộ xương. Ðầy quanh xương là thịt, và
bên ngoài nữa chỉ là một lớp da, bao bọc lấy thịt và
xương. Sắc đẹp chỉ mỏng manh như lớp da. Khi suy niệm như
thế về những phần ô trược của cơ thể vật chất hành
giả dần dần giảm bớt khát vọng luyến ái thân mình.
Ðề
mục hành thiền nầy có thể không mấy hấp dẫn đối với
người không thiên về nhục dục ngũ trần. Những vị nầy
có thể quán tưởng đến khả năng tạo tác cố hữu ngủ
ngầm trong guồng máy phức tạp gọi là con người.
Ba
mươi hai phần bất tịnh của thân được kể như sau:
"Tóc,
lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, mật,
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phẩn, não,
mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, bạch huyết, nước mắt,mở,
nước miếng, nước nhớt mũi, chất nhờn ở khớp xương,
và nước tiểu".
x.
Ānāpānasati là niệm về hơi thở. "Āna" có nghĩa là thở
vô và "apāna" là thở ra. Trong vài sách hai danh từ nầy được
giải thích ngược lại. Pháp gom tâm vào hơi thở dẫn đến
nhất điểm tâm và cuối cùng đến tuệ Minh Sát và chứng
ngộ Ðạo Quả A La Hán.
10.
Ānāpānasati, Pháp Niệm Hơi Thở
Pháp
niệm hơi thở là một trong những đề mục hành thiền lợi
ích nhất có thể thích hợp với tất cả mọi người. Chính
Ðức Phật xưa kia cũng đã áp dụng pháp niệm hơi thở trước
khi Thành Ðạo.
Kinh
Satipaṭṭhāna Sutta (Tứ Niệm Xứ) và sách Visuddhi Magga (Thanh
Tịnh Ðạo) có trình bày pháp môn bổ ích nầy với đầy
đủ chi tiết. Sau đây là một vài chỉ dẫn cho người hành
giả sơ cơ:
Chọn
một lối ngồi thích hợp, thở ra dài bằng miệng rồi ngậm
miệng lại. Kế đó yên tĩnh thở vô và thở ra bằng mũi,
như thường, không cố ý thở mạnh hay yếu quá. Lúc thở
vô đếm thầm, một. Thở ra và đếm hai,. Và cứ thở vô
đếm ba, thở ra đếm bốn, như thế đến mười, luôn luôn
chú tâm theo dõi hơi thở, không tưởng nhớ điều gì khác.
Trước khi đếm đến mười, tâm có thể xao lãng phóng dật,
chạy đầu nầy, nhảy đầu kia. Nhưng không nên nản lòng.
Hãy chuyên cần cố gắng cho đến khi thành công kềm giữ
được tâm vào hơi thở. Từ từ hành giả có thể đếm tăng
thêm loạt số, như đếm đi đếm lại đủ năm loạt từ
một đến mười chẳng hạn. Về sau, hành giả có thể chú
tâm vào hơi thở mà không cần đếm. Có người thích đếm
hơn vì có đếm thì gom tâm được dễ dàng; trong khi ấy cũng
có người không thích đếm. Ðiều chánh yếu là gom tâm. Ðếm
là phụ thuộc. Khi thực hành pháp thiền nầy như vậy, hành
giả cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng, an lạc, đôi khi nghe như
mình vởn vơ trên không trung.
Thực
hành như thế trong một thời gian, ngày kia hành giả sẽ nhận
thức rằng cái mà ta gọi là thân nầy sở dĩ sống được
là chỉ nhờ hơi thở nâng đỡ và sẽ phải hoại diệt khi
hơi thở chấm dứt. Như vậy người hành thiền ý thức rõ
ràng đặc tướng vô thường của vạn pháp. Nơi nào có biến
đổi ắt không thể có thực thể thường còn hay linh hồn
bất diệt. Chừng ấy tuệ minh sát có thể triển khai để
thành tựu Ðạo Quả A La Hán.
Ðiều
nầy cho thấy rõ ràng rằng mục tiêu của pháp hành Niệm
Hơi Thở" không phải chỉ để thành đạt trạng thái nhất
điểm tâm suông, mà cũng phát triển tuệ Minh Sát nhằm thành
tựu Giải Thoát.
Tất
cả mọi người đều có thể thực hành phương pháp đơn
giản và vô hại nầy.
Ðể
có thêm chi tiết người đọc có thể tham khảo sách Visuddhi
Magga (Thanh Tịnh Ðạo).
Trong
vài bài Kinh (Suttas) pháp niệm hơi thở đơn giản nầy được
giải thích như sau:
Một
cách chăm chú hành giả thở vô, một cách chăm chú hành giả
thở ra.
1.
Khi thở vô dài, hành giả biết, "tôi thở vô dài"; khi thở
ra dài, hành giả biết, "tôi thở ra dài".
2.
Khi thở vô ngắn, hành giả biết, "tôi thở vô ngắn"; khi
thở ra ngắn, hành giả biết, "tôi thở ra ngắn".
3.
Nhận thức trọn vẹn tiến trình (của hơi thở) (sabbakāyapaṭisaṁvedi)--
tức chặng đầu, chặng giữa, và chặng cuối -- tôi sẽ thở
vô"; hành giả tự luyện tập như thế; nhận thức trọn vẹn
tiến trình (của hơi thở), "tôi sẽ thở ra"; hành giả tự
luyện tập như thế.
4."Làm
cho tiến trình hơi thở êm dịu (passambhayaṁ kāyasaṅkhāraṁ),
tôi sẽ thở vô"; hành giả tự luyện tập như thế; "làm
cho tiến trình hơi thở êm dịu, tôi sẽ thở ra"; hành giả
tự luyện tập như thế.
11.
Brahmavihāra, Phạm Trú, hay Vô Lượng Tâm
Nơi
đây "brahma" có nghĩa cao thượng, hay cao nhã như trong danh từ
brahmacariya -- lối sống phạm hạnh, hay lối sống cao thượng,
phẩm hạnh cao nhã. Vihāra có nghĩa phương thức, hay "trạng
thái phẩm hạnh" hay "trạng thái của cuộc sống". Những trạng
thái nầy cũng được gọi là appamaññā, không ranh giới,
vô lượng, bởi vì những tư tưởng nầy được rải khắp
cho tất cả chúng sanh, không giới hạn, không có sự ngăn
trở.
i.
Mettā (saṁkrt: Maitri) -- tâm từ, hảo tâm, thiện chí, được
định nghĩa là cái gì làm cho lòng mình trở nên êm dịu.
Tâm Từ (Mettā) không phải là tình thương có liên quan đến
nhục dục ngũ trần, hay lòng trìu mến cá nhân đối với
một người nào. Kẻ thù trực tiếp với Mettā, tâm Từ, là
sân hận, oán ghét, hay tức giận bực mình (kodha). Kẻ thù
gián tiếp là lòng trìu mến cá nhân (pema). Tâm Từ bao trùm
tất cả chúng sanh, không loại bỏ và không phân biệt chúng
sanh nào. Ðến mức cùng tột, tâm Từ là tự đồng hóa với
tất cả chúng sanh (sabbattatā), thấy vạn vật với mình là
một. Tâm Từ là lòng chân thành ước mong cho tất cả chúng
sanh đều được an lành hạnh phúc. Thái độ từ ái là đặc
điểm chánh yếu của tâm Từ. Tâm Từ lánh xa sân hận, oán
ghét.
ii.
Karuṇā -- tâm Bi, được định nghĩa là cái gì làm cho tâm
của người tốt rung động trước sự đau khổ của kẻ khác,
hoặc cái gì thoa dịu nỗi khổ của người. Ðặc tính của
tâm Bi (Karuṇā) là ý muốn giúp người khác thoát ra một
cảnh khổ. Kẻ thù trực tiếp của tâm Bi là sự ươn hèn
suy nhược (hiṁsā), và kẻ thù gián tiếp là âu sầu, phiền
muộn (domanassa). Tâm Bi bao trùm những chúng sanh đau khổ và
tiêu trừ mọi hành động độc ác tàn bạo.
iii.
Muditā -- tâm Hỷ, không phải là trạng thái thỏa thích suông
mà là lòng hoan hỷ có thiện cảm trước hạnh phúc của người
khác. Ganh tỵ (issā) là kẻ thù trực tiếp của tâm Hỷ và
hỷ hạ vui vẻ (pahāsa) là kẻ thù gián tiếp. Ðặc điểm
chánh yếu của tâm Hỷ là hoan hỷ với sự thạnh vượng
và thành công (anumodanā) của người khác. Tâm Hỷ bao trùm
những chúng sanh hữu hạnh, là đức tánh thành thật chung
vui, chung mừng và ngợi khen. Tâm Hỷ loại trừ mọi hình thức
bất mãn (arati) trước sự thạnh vượng của kẻ khác.
iv.
Upekkhā, Tâm Xả, theo nghĩa đen là nhận định sự vật một
cách vô tư, tức không luyến ái cũng không ghét bỏ. Xả không
phải là thái độ lạnh lùng, lãnh đạm, mà là trạng thái
tâm thản nhiên, hoàn toàn không chao động, là tâm tuyệt đối
quân bình. Ðây là tình trạng bình thản của tâm giữa những
hoàn cảnh thăng trầm của đời sống như tán dương và khiển
trách, hạnh phúc và đau khổ, được và thua, danh thơm và
tiếng xấu. Người thù trực tiếp của tâm Xả là luyến
ái (rāga), và kẻ thù gián tiếp là thái độ lạnh lùng, vô
tình. Vô tư là đặc điểm chánh yếu của tâm Xả.
Nơi
đây danh từ upekkhā không có nghĩa là tâm vô ký, tức "không-hạnh-phúc-không-phiền-não",
mà rõ ràng hàm xúc ý nghĩa một phẩm hạnh. Tâm bình thản,
quân bình, được xem là sát nghĩa nhất. Tâm Xả bao trùm cả
tốt lẫn xấu, những điều khả ái và những điều khả
ố, thích thú cũng như nghịch lòng. Xem Chương 2, chú giải
49.
12.
Āhāre paṭikkūlasaññā
tức
cảm nghĩ về tách cách ô trược của vật thực, về cách
thức đi tìm thức ăn, và lúc ăn v.v..
13.
Catudhātuvavatthānaṁ
tức
là quán trạch, xem xét tìm hiểu về những đặc tính của
bốn nguyên tố cấu thành vật chất, những nguyên tố có
đặc tính duỗi ra, làm dính liền, nóng, và di động.
14.
Arūpajhānas, Những Tầng Thiền Vô Sắc.
Ðó
là: (i) "Không Vô Biên Xứ", (ii) "Thức Vô Biên Xứ", (iii) "Vô
Sở Hữu Xứ", và (iv) "Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ".
15.
Bốn Mươi Ðề Mục.
Nếu
không tính hai đề mục "ánh sáng" và "không gian" thì còn ba
mươi tám đề mục.
16.
Niệm Về 32 Phần Của Thân
thích
hợp cho người có bẩm tánh tham ái, vì niệm về những đề
mục nầy có chiều hướng làm cho hành giả ghê tởm cơ thể
vật chất, vốn thường làm cho giác quan say mê.
17.
Tứ Vô Lượng Tâm
bởi
vì đây là những đề mục thâm sâu và rộng rãi.
18.
Những đề tài nầy còn quá thô sơ nên hành giả cần phải
có chi thiền "tầm" trợ giúp để gom tâm. Trong bốn tầng
thiền còn lại, vì không có chi thiền "tầmṅên hành giả
không thể phát triển bằng cách gom tâm vào hai đề mục ấy.
19.
Vì Xả (upekkhā) chỉ hiện hữu trong tầng ngũ thiền nên không
thể phát triển bốn tầng thiền đầu bằng cách gom tâm vào
" tâm Xả vô lượng" nầy.
20.
Vatthudhammato,
Những
khuyết điểm như tỳ vết hay lồi lõm của cái vòng đất
kasiṇamaṇḍala đã được dùng làm đề mục sơ khởi.
21.
Āvajjana,
Pháp
tu luyện nhằm thuần thục nắm vững các tầng thiền, tức
suy niệm về những chi thiền khác nhau.
- Samāpajjana,
khả năng chứng đắc nhanh chóng những tầng thiền khác nhau.
- Adhiṭṭhāna,
khả năng an trú trong thiền bao lâu cũng được.
- Vuṭṭhāna,
khả năng xuất thiền nhanh chóng, vào lúc nào tùy ý.
- Paccavekkhana,
giống như āvajjana, hành giả có thể ôn duyệt và quán sát
các tầng thiền tùy ý.
22.
Arūpa Jhāna, Thiền Vô Sắc.
Xem
Chương I, chú giải 44.
23.
Abhiññā, Siêu Trí.
Chỉ
những vị đã chứng đắc ngũ thiền mới có thể phát triển
năm loại siêu trí, hay thần thông, là:
1.
Iddhividha -- Thần Túc Thông, tức có thể bay trên không trung,
đi trên mặt nước, độn thổ, đi trong lòng đất, biến hóa
ra những hình tướng khác nhau v.v.. thuộc về siêu pháp nầy.
2.
Dibbasota -- Thiên Nhĩ Thông, là có khả năng nghe được những
tiếng thô kịch hoặc vi tế, gần hay xa.
3.
Paracittavijānana -- Tha Tâm Thông, là phân biện tư tưởng của
người khác.
4.
Pubbenivāsānussati -- Túc Mạng Thông, là khả năng nhớ lại
những kiếp quá khứ của chính mình và của người khác.
Ðây là pháp siêu trí đầu tiên mà Ðức Phật phát triển
vào canh đầu, đêm Thành Ðạo. Về thần thông nầy, oai lực
của Ðức Phật vô cùng tận. Trường hợp của những vị
khác thì có giới hạn.
5.
Dibbacakkhu -- Thiên Nhãn Thông, là khả năng thấy được sự
vật ở các cảnh trời và trên quả địa cầu, ở xa cũng
như ở gần, thấy được rõ ràng những gì mà mắt thịt
không thể thấy. Ðây là siêu trí thứ nhì mà Ðức Phật
phát triển trong canh thứ nhì đêm Ngài Thành Ðạo.
Cutūpapātañāṇa,
là tuệ giác liên quan đến sự hiểu biết những chúng sanh
chết và tái sanh trở lại, giống hệt như Thiên Nhãn Thông.
Anāgataṁsañāṇa, tuệ giác liên quan đến khả năng thông
hiểu tương lai, và yathākammūpagañāṇa, tuệ giác liên quan
đến khả năng thấu hiểu tình trạng phân tán và cấu hợp
trở lại của chúng sanh tùy nghiệp đã tạo tốt hay xấu,
là hai loại tuệ giác khác cùng thuộc về một phân hạng.
Tất cả những siêu trí nầy đều nằm trong phạm vi Toàn
Tri của Ðức Phật.
Năm
loại siêu trí nầy là tại thế, thuộc về trần gian. Ta phải
thêm loại tuệ giác thứ sáu -- Āsavakkhayañāṇa -- Lậu Tận
Minh, liên quan đến sự chấm dứt mọi khát vọng, tức siêu
thế.
Có
thể phát triển năm loại đầu bất cứ vào thời kỳ nào;
nhưng loại tuệ giác sau cùng, chỉ có thể được thành tựu
trong chu kỳ của một vị Phật.
-ooOoo-
Visuddhibhedo
Những
Pháp Thanh Tịnh Khác Nhau
6.
Vipassanākammaṭṭhāne
pana
1.
Sīlavisuddhi, 2. Cittavisuddhi, 3. Diṭṭhivisuddhi, 4. Kaṅkhāvitaraṇa-
visuddhi, 5. Maggāmaggañāṇadasanavisuddhi, 6. Paṭipadāñāṇa
dassanavisuddhi, 7. Ñāṇadassanavisuddhi-cāti sattavidhena Visuddhisaṅgaho.
Aniccalakkhaṇam,
Dukkhalakkhaṇaṁ, Anattā- lakkhaṇañ c'āti tīṇi Lakkhaṇāni.
Aniccānupassanā,
Dukkhānupassanā, Anattā-nupassanā c'āti tisso Anupassanā.
1.
Sammasanañāṇaṁ, 2. Udayavyayañāṇam, 3. Bhaṅgañāṇam, 4.
Bhayañāṇaṁ, 5. Ādīnavañāṇaṁ, 6. Nibbidāñāṇaṁ, 7. Muñcitukamyatāñāṇaṁ,
8. Paṭisaṅkhā- ñāṇaṁ, 9. Saṅkhārupekkhāñāṇaṁ, 10.
Anulomañāṇaṁ c'āti dasa Vipassanāñāṇāni.
Suññato
Vimokkho, Animitto Vimokkho, Appa-ṇihito Vimokkho c'āti tayo Vimokkhā.
Suññatānupassanā,Animittānupassanā,Appaṇihitā-
nupassanā c'āti tīṇi Vimokkhamukhāni ca veditabbāni.
Katham?
Pātimokkhasaṁvara Sīlaṁ, Indriya- saṁvara Sīlaṁ, Ājīvapārisuddhi
Sīlaṁ, Paccayasannissita Sīlaṁ c'āti Catupārisuddhi Sīlaṁ Sīlavissuddhi
nāma.
Upacārasamādhi,
Appanāsamādhi c'āti duvidho'pi Samādhi Cittavisuddhi nāma.
Lakkhaṇa-rasa-paccupaṭṭhāna-padaṭṭhāna-vasena
nāma-rūpaparigaho Diṭṭhivisuddhi nāma.
Tesameva
ca nāma-rūpānaṁ paccayapariggaho Kankhāvitaraṇa-visuddhi nāma.
Tato
paraṁ pana tathāpariggahitesu sappaccayesu tebhūmakasaṅkhāresu atītādibhedabhinnesu
khandhādina- yam' ārabbha kalāpavasena saṅkhipitvā aniccam khayaṭ-
ṭhena, dukkhaṁ bhayaṭṭhena, anattā asārakaṭṭhenā'ti addhānavasena
santativasena khaṇavasena vā sammasana- ñāṇena lakkhaṇattayaṁ
sammasantassa tes'veva paccaya- vasena khaṇavasena ca udayabbayañāṇena
udayabbayaṁ samanupassantassa ca.
Obhāso
pīti passaddhi adhimokkho ca paggaho
Sukhaṁ
ñāṇamupaṭṭhānamupekkhā ca nikanti c'āti.
Obhāsādi
vipassanupakkilese paripanthapariggaha vasena maggāmaggalakkhaṇavavatthānaṁ
Maggāmagga-Ñāṇadassanavisuddhi nāma.
Tathā
paripanthavimuttassa pana tassa udayab-bayañāṇato paṭṭhāya yāvānulomā
tilakkhaṇaṁ vipassanāparamparāya paṭipajjantassa nava vipassanā-ñāṇāni
Paṭipadāñāṇadassanavisuddhi nāma.
Tass'evaṁ
paṭipajjantassa pana vipassanāparipā- kamāgamma idāni appanā uppajjissatittī
bhavaṅgaṁ vocchinditvā uppannamanodvārāvajjanānantaraṁ dve tīṇī
vipassanācittāni yaṁ kiñci aniccādilakkhaṇamārabbha parikammopacārānulomanāmena
pavattanti. Yā sikhā-ppattā sā sānulomasaṅkhārupekkhāvuṭṭhānagāminī-
vipassanā'ti ca pavuccati. Tato paraṁ gotrabhūcittaṁ nibbānam'ālambitvā
puthujjanagottamabhibhavantaṁ ariyagottamabhisambhontañ ca pavattati.
Tass'ānantaram' eva maggo dukkhasaccaṁ parijānanto samudayasaccaṁ
pajahanto nirodhasaccaṁ sacchikaronto maggasaccaṁ bhāvanāvasena appanāvīthim'
otarati. Tato paraṁ dve tīni phalacittāni pavattitvā bhavaṅgapāto'va
hoti. Puna bhavaṅgaṁ vocchinditvā paccavekkhaṇañā-ṇāni pavattanti.
Maggaṁ
phalañ ca nibbānaṁ paccavekkhati paṇḍito
Hīne
kilese sese ca paccavekkhati vā navā.
Chabbisuddhikamen'evaṁ
bhāvetabbo catubbidho
Ñāṇadassanavisuddhi
nāma maggo pavuccati.
Ayam'ettha
visuddhibhedo.
§6
Trong
công trình hành thiền Minh sát (24) có bảy giai đoạn "Thanh
Tịnh":
1.
Giới Tịnh, 2. Tâm Tịnh, 3. Kiến Tịnh, 4. Ðoạn Nghi Tịnh,
5. Ðạo Phi Ðạo Tri Kiến Tịnh, 6. Ðạo Tri Kiến Tịnh, và
7. Tri Kiến Tịnh.
Có
ba Ðặc Tướng:
1.
Ðặc tướng Vô Thường (25), 2. đặc tướng Ðau Khổ (26),
và 3. đặc tướng Vô Ngã (27).
Có
ba pháp Quán Niệm:
1.
Quán niệm đặc tướng Vô Thường, 2. quán niệm đặc tướng
Ðau Khổ, và 3. quán niệm đặc tướng Vô Ngã.
Có
mười loại Tuệ Giác:
1.
Tuệ quán trạch (28), 2. Tuệ sanh diệt, liên quan đến sự
phát sanh và hoại diệt (của những sự vật được cấu tạo),
3. Tuệ diệt, liên quan đến sự phân tán (của sự vật),
4. Tuệ kinh hãi, nhận thức rằng (tình trạng phân tán của
sự vật) là đáng kinh sợ, 5. Tuệ hiểm nguy, nhận thức rằng
sự vật (đáng kinh sợ) là tai hại, hiểm nguy, 6. Tuệ chán
nản, nhận thức rằng (các sự vật hiểm nguy) là đáng nhờm
chán, 7. Tuệ muốn giải thoát, liên quan đến ý muốn thoát
ra khỏi các sự vật ấy, 8. Tuệ suy tư, suy gẫm và quán xét
(29), 9. Tuệ Xả đối với các vật cấu tạo (30), và 10.Tuệ
thuận thứ (31).
Có
ba đường lối Giải Thoát (32):
1.
Giải Thoát xuyên qua đường lối quán niệm về Hư Không (33),
2. Giải Thoát qua đường lối quán niệm về Vô Hình Tướng
(34), và 3. Giải Thoát qua đường lối suy niệm về Vô Nguyện
(35) .
Có
ba cửa Giải Thoát:
1.
Quán tưởng về Hư Không, 2. Quán tưởng về Vô Hình Tướng,
và 3. Quán tưởng về Vô ước Nguyện.
Bằng
cách nào?
Giới
Tịnh (36) bao gồm bốn loại giới tuyệt hảo [1] là:
1.
Giới luật liên quan đến những Giới Căn Bản, 2. Giới luật
liên quan đến sự tự chế, 3. Giới luật liên quan đến sự
sinh sống trong sạch, 4. Giới luật liên quan đến bốn vật
dụng cần thiết.
Tâm
Tịnh (37) bao gồm hai loại trụ tâm, đó là "cận định" và
"toàn định" hay pháp hành nhằm "hoàn toàn kiên cố an định
tâm".
Kiến
Tịnh (38) là sự hiểu biết danh và sắc liên quan đến những
đặc tướng, đến cơ năng, đến phương cách hiện khởi,
và đến nguyên nhân kế cận.
Ðoạn
Nghi Tịnh (39) là sự thấu triệt nguyên nhân của chính danh
và sắc ấy.
Sau
khi đã thấu triệt những nguyên nhân, vị hành giả quán xét
các phương thức hợp thành từng uẩn v.v.., trình bày từng
nhóm các sự vật cấu tạo trong tam giới. Các pháp hữu vi
nầy phát sanh do nguyên nhân, khác biệt nhau tùy quá khứ v.v..
và đã được thấu hiểu như trên. Giờ đây hành giả quán
tưởng đến ba đặc tướng --vô thường trong ý nghĩa hoại
diệt, đau khổ trong ý nghĩa đáng kinh sợ, và vô ngã trong
ý nghĩa không có thể chất -- bằng cách nhận xét thời gian
tồn tại, sự liên tục không gián đoạn, và tánh cách tạm
bợ nhất thời (của các pháp ấy). Người hành thiền dựa
vào sự nhận xét các nguyên nhân và tánh cách tạm bợ (của
các pháp hữu vi), để quán tưởng về hiện trạng sanh, diệt
của sự vật bằng trí tuệ như trên. Lúc bấy giờ phát sanh
đến hành giả: -- một vầng hào quang, lòng hoan hỷ thỏa
thích, tâm yên tĩnh, đức tin mãnh liệt, tinh tấn chuyên cần,
trạng thái an lạc hạnh phúc, trí tuệ sáng suốt, tâm niệm
vững chắc, và tâm xả quân bình, và tâm ưa thích (trạng
thái ấy).
Kiến
Tịnh, quan kiến trong sạch, trong công trình phân biện chân
chánh cái nào là Con Ðường (Ðạo) và cái nào không-phải-Con-Ðường
(40), là xác định cái nào là những đặc tính của Con Ðường
và cái nào không phải là đặc tính của Con-Ðường, bằng
cách hiểu biết rằng (những ấn chứng như) hào quang v.v..
là chướng ngại của tuệ minh sát. Loại bỏ những chướng
ngại trên, hành giả suy niệm về ba Ðặc Tướng. Giờ đây,
phát sanh đến vị hành giả, bắt đầu bằng tuệ sanh diệt,
tiến dài đến tuệ thuận thứ, trong một luồng quán niệm
không gián đoạn, chín loại Tuệ Minh Sát. Kiến Tịnh, phân
biện chân chánh phương thức (41), có nghĩa là chín loại tuệ
giác ấy.
Sự
Chứng Ngộ
Khi
thực hành quán niệm như vậy, do tình trạng thuần thục chín
mùi của tuệ minh sát (hành giả cảm nhận), "Giờ đây sự
phát triển (con đường) (42) sẽ khởi sanh". Vào lúc ấy luồng
hộ kiếp ngưng lại, ý môn hướng tâm khởi phát, tiếp theo
sau là hai hoặc ba (sát-na) minh sát tâm, lấy bất luận Ðặc
Tướng nào như vô thường v.v.. làm đối tượng. Những chặp
tư tưởng nầy được gọi là "sơ khởi", "cận hành", và
"thuận thứ" (43). Tuệ xả đối với các pháp hữu vi nầy
(tức tâm xả trước các hành), cùng với tuệ thuận thứ,
khi đã thuần thục tuyệt hảo, cũng được gọi là "Tuệ
giác hiện khởi dẫn đến Con Ðường (44)". Sau đó khởi sanh
chặp tâm Chuyển Tánh (Gotrabhū-consciousness) (45), lấy Niết
Bàn làm đối tượng, vượt thoát ra khỏi dòng phàm tục,
và chuyển bước vào dòng dõi các bậc Thánh. [2]
Tức
khắc sau chặp tư tưởng ấy, Ðạo (Con Ðường của tầng
thánh Nhập Lưu), chứng ngộ Chân Lý về sự Ðau Khổ, đoạn
diệt Chân Lý về Nguyên Nhân sanh Khổ, chứng ngộ Chân Lý
về sự Chấm Dứt Ðau Khổ, và phát triển Con Ðường Diệt
Khổ, nhập vào tiến trình định tâm siêu thế.
Sau
chặp tâm Ðạo, hai hoặc ba chặp tâm Quả phát sanh và tan
biến trở lại trong chặp hộ kiếp (bhavaṅga)(46). Ðến đây,
chặp tâm hộ kiếp dừng lại và tuệ suy tư khởi phát.
Vị
hành giả có đủ trí tuệ bấy giờ suy tư (47) về Ðạo,
Quả, Niết Bàn, về những ô nhiễm mà mình đã diệt trừ,
và hoặc suy tư hoặc không, về những ô nhiễm còn lại.
Như
vậy Con Ðường gồm bốn giai đoạn cần phải được tuần
tự phát triển bằng sáu pháp thanh tịnh được gọi là "Ðạo
Tri Kiến Tịnh".
Ðây
là phần đề cập đến "Thanh Tịnh", tức trạng thái trong
sạch.
Ghi
chú:
[1]
Bốn loại giới tuyệt hảo ấy là Pātimokkhasaṁvara, thường
được gọi là Tứ Thanh Tịnh giới.
[2]
Lộ trình tư tưởng của vị Nhập Lưu diễn tiến như sau:
***
***
***
***
***
***
***
***
Manodvārāvajjana
(Ý
môn hướng tâm)
parikamma
(sơ
khởi)
upacāra
(cận
hành)
anuloma
(thuận
thứ)
gotrabhū
(chuyển
tánh)
magga
(đạo)
phala
(quả)
bhavaṅga
(hộ
kiếp)
Chú
Giải
24.
Vipassanā, Minh Sát
là
giai đoạn thứ ba và là giai đoạn cuối cùng của Thánh Ðạo
(Giới, Ðịnh, Tuệ). Mục tiêu cứu cánh của Minh Sát là thấu
triệt sự vật đúng như sự vật thật sự là vậy.
25.
Anicca, Vô Thường
là
bản chất phù du tạm bợ của cả hai, danh và sắc. Biến
đổi là đặc tính của những sự vật được cấu tạo.
Tất cả các pháp hữu vi [*], tức những vật được cấu
tạo, đều không ngừng biến chuyển, không thể ở yên bất
động trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Trong thực tế, tâm
biến đổi càng nhanh hơn vật chất. Thông thường sắc tồn
tại trong thời gian mười bảy chặp tư tưởng. Các Chú Giải
ghi rằng trong thời gian một chớp nhoáng trên trời, hằng
tỷ, tỷ chặp tư tưởng có thể phát sanh.
(Lời
người dịch). Các pháp hữu vi -- cũng được gọi là các
"hành", hay những sự vật được cấu tạo (conditioned things),
là những gì cần phải có nhân duyên nào khác tạo điều
kiện mới hiện hữu. Trên thực tế trong thế gian hiện tượng
nầy, tất cả các pháp, tinh thần hay vật chất, đều là
pháp hữu vi, phải được cấu tạo mới hiện hữu. Vạn pháp
do duyên sanh.
26.
Dukkha, Khổ
Tất
cả các pháp hữu vi đều phải chịu đau khổ. Sanh là khổ,
già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Sống chung với
những gì (người hay vật) mình không thích là khổ. Xa lìa
những gì thân yêu là khổ. Không thành đạt những gì mình
mong muốn là khổ. Tóm tắt, ngũ uẩn thủ (tức bám níu vào
ngũ uẩn) là khổ.
27.
Anattā, Vô Ngã
Là
điểm nòng cốt của Phật Giáo. Cũng như không có một thực
thể thường còn trong sắc, cùng thế ấy, không có một thực
thể không biến đổi trong danh, được nghĩ đến như một
"tự ngã" hay "linh hồn". Trong tất cả những gì tại thế
và siêu thế, hữu vi và vô vi, không có một linh hồn trường
cửu. Vì lẽ ấy trong kinh Dhammapada (Pháp Cú) Ðức Phật tuyên
ngôn "sabbe dhammā anattā" -- tất cả các pháp đều vô ngã.
Ðối với hai đặc tướng Anicca và dukkha (vô thường và khổ)
Ðức Phật dạy rằng tất cả các pháp "hữu vi" (saṅkhāra)
đều vô thường, .. đều khổ. Nhưng với đặc tướng vô
ngã, Anattā, Ðức Phật dùng danh từ "dhammā" chỉ rằng tất
cả các pháp -- dầu hữu vi hay vô vi -- đều vô ngã.
Ta
có thể ghi nhận rằng chính sau khi nghe bài kinh "Anattalakkhana
Sutta", Vô Ngã Tướng, đề cập đến lý vô ngã, mà năm vị
đệ tử đầu tiên của Ðức Phật đắc Quả A La Hán. Thông
thường, hành giả không hành cả ba đặc tướng cùng một
lúc. Trong ba, hành giả chỉ chọn đặc tướng nào thích hợp
với mình nhất. Lối giải thoát thành đạt được nhờ áp
dụng đặc tướng nào có tên tùy trường hợp.
28.
Sammasanañāṇa, Tuệ Quán Trạch
Theo
nghĩa đen là "vận dụng tuệ giác", trạch quán, sự quán xét,
tìm hiểu các uẩn hổn hợp (kalāpavasena).
29.
Paṭisaṅkhāñāṇa, Tuệ Suy Tư
Suy
gẫm và quán xét trở lại các pháp hữu vi nhằm tìm hiểu
ý nghĩa và thoát ra khỏi đó.
30.
Saṅkhārupekkhāñāṇa, Tuệ Xả Hành
Là
tâm xả, hoàn toàn bình thản đối với các "hành" (saṅkhārā),
tức đối với pháp hữu vi. Không luyến ái bám níu cũng không
phiền muộn giận hờn. Ðây là kết quả của công trình phát
triển các Tuệ Giác trên.
31.
Anulomañāṇa, Tuệ Thuận Thứ
Tuệ
giác nầy được thành tựu nhờ đã viên mãn hoàn tất chín
loại tuệ trước đó. Ðuợc gọi là thuận thứ bởi vì một
đàng, chính nó phù hợp với 37 Yếu Tố của sự Giác Ngộ
(37 bồ đề phần) và đàng khác nó giúp cho hành giả hội
đủ khả năng để tiến lên con đường cao hơn.
32.
Vimokkha, Ðường Lối Giải Thoát
Ðược
gọi như vậy bởi vì pháp nầy giúp giải thoát chúng sanh
ra khỏi mười Thằng Thúc (tức mười dây trói buộc cột
chúng sanh vào vòng luân hồi) v.v..
33.
Suññata, Hư Không
Không
có một linh hồn. Sự giải thoát thành tựu được do nhờ
hành thiền, quán niệm về lý "vô ngã" (anattā) được gọi
là Suññatavimokkha.
34.
Animitta, Vô Hình Tướng
Không
có những dấu hiệu của sự thường còn, v.v.. Sự giải thoát
thành tựu được do nhờ hành thiền, quán niệm về lý "vô
thường" (anicca) được gọi là Animittavimokkha.
35.
Appaṇihita, Vô Nguyện
Không
có sự khát khao ham muốn, không ước nguyện điều gì. Sự
giải thoát thành tựu được do nhờ hành thiền, quán niệm
về lý "đau khổ" (dukkha) được gọi là Appaṇihitavimokkha.
36.
Sīlavisuddhi, Giới Tịnh.
Giới
đức trong sạch là "Thanh Tịnh" đầu tiên trong bảy "Thanh
Tịnh". Giới thanh tịnh gồm bốn loại, Tứ Thanh Tịnh Giới,
tất cả đều liên quan đến đời sống của một vị tỳ
khưu.
Loại
giới thanh tịnh đầu tiên là Pātimokkha- saṁvarasīla, Giới
Bổn Thanh Tịnh. Những gì nâng đỡ cứu giúp, không để cho
người nghiêm chỉnh hành trì rơi vào bốn khổ cảnh" là ý
nghĩa của danh từ "Pātimokkha". "Pā" cũng đuợc các nhà chú
giải giải thích là giáo huấn của Ðức Phật. Atipamokkha
là cực kỳ quan trọng. Như vậy Pātimokkha có nghĩa là giới
luật căn bản, nền tảng cốt yếu của giáo huấn, thường
được gọi là "Giới Bổn", bao gồm 220 giới luật [*] mà
tất cả các vị tỳ khưu, và mỗi vị, đều phải nghiêm
túc giữ gìn trong sạch. Vì những giới nầy giúp tiết chế,
tránh có những hành động bất thiện v.v.. nên được gọi
là "saṁvara". "Sīla" được dùng trong nghĩa "bình tĩnh" (samādhāna)
và "nâng đỡ" (upadhāraṇa). Ðược gọi như vậy vì Giới
Bổn có chiều hướng ghép những hành động bằng thân, khẩu,
ý vào khuôn khổ kỷ cương, và cũng vì Giới Bổn tác hành
như yếu tố nâng đỡ những phẩm hạnh khác.
[*]
Nếu tính luôn bảy phương cách giàn xếp những cuộc tranh
cãi (adhikaraṇa samatha dhamma) thì có 227 giới.
Giới
thứ nhì là Indriyasaṁvarasīla, Thu Thúc Căn Tịnh, giúp thu
thúc lục căn. Giới thứ ba là Ājīvapārisuddhi- sīla, Chánh
Mạng Giới Tịnh, giúp vị tỳ khưu giữ gìn chánh mạng cho
được trong sạch. Trong khi thọ lãnh bốn món vật dụng cần
thiết cho đời sống, vị tỳ khưu không nên có những phong
độ không thích nghi. Paccayasannissitasīla, giới thanh tịnh thứ
tư, liên quan đến việc xử dụng bốn vật dụng cần thiết
là y, thức ăn, chỗ ở và thuốc men, một cách không ích kỷ
mà với tâm rộng lượng, nghĩ đến việc chia xẻ với người
khác.
37.
Cittavisuddhi, Tâm Tịnh,
là
"Thanh Tịnh" thứ nhì. Ðây là tâm trong sạch mà hành giả
thành đạt nhờ công phu trau giồi và phát triển các tầng
Thiền, tạm thời đè nén các Triền Cái, những chướng ngại
tinh thần. Tâm trong sạch cũng giống như mặt gương được
lau chùi bóng loáng, có thể phản chiếu sự vật một cách
trung thực, đúng trong bối cảnh của nó. Với tâm thanh tịnh
hành giả có thể nhìn thấy sự vật đúng thật như sự vật
là vậy.
38.
Diṭṭhivisuddhi, Kiến Tịnh,
là
"Thanh Tịnh" thứ ba. Ðược gọi như vậy vì sự trong sạch
nầy thanh lọc, không để cho tâm có những ý tưởng sai lầm
dung nạp lý thuyết về một linh hồn trường cửu. Sự hiểu
biết chân chánh nầy là kết quả của công trình quán trạch
phần tâm linh và phần cơ thể vật chất nầy theo những đặc
tướng (lakkhaṇa), theo cơ năng và những đặc tính chánh yếu
(rasa), theo phương cách biểu lộ (paccupaṭṭhāna), và theo
nguyên nhân kế cận (padaṭṭhāna) của danh và sắc.
39.
Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi, Ðoạn Nghi Tịnh,
là
"Thanh Tịnh" thứ tư. Trạng thái trong sạch nầy có chiều
hướng vượt qua khỏi những mối hoài nghi về nhân và quả,
về quá khứ, hiện tại, và vị lai. Ðược gọi là thanh tịnh,
hay trong sạch, bởi vì nó gội rửa bợn nhơ của những ý
niệm lầm lạc về sự "rủi may", "không nhân, không quả"
v.v..
Nhằm
thành tựu trạng thái thanh tịnh nầy hành giả hành thiền
quán tưởng về những nguyên nhân khác nhau có chiều hướng
tạo nên danh và sắc hiện tại, và những nguyên nhân nuôi
dưỡng bảo trì nó trong hiện tại. Hành giả hiểu biết rằng
vào lúc được thọ thai vào bụng mẹ, danh và sắc hiện tại
được vô minh, ái, thủ và Nghiệp tạo duyên, và trong đời
sống sắc nầy được nghiệp, tâm, hiện tượng thời tiết
và vật thực tạo điều kiện để sống. Còn danh, phần tâm
linh, đuợc bảo trì nhờ lục căn, những giác quan, và lục
trần, những đối tượng của giác quan. Như vậy hành giả
chứng ngộ được chân lý thâm diệu thứ nhì về nhân sanh
khổ của Tứ Diệu Ðế và tự mình vượt thoát ra khỏi mọi
hoài nghi.
40.
Maggāmaggañāṇadassanavisuddhi, Ðạo Phi Ðạo Tri Kiến Tịnh,
là "Thanh Tịnh" thứ năm.