THÔNG
ĐIỆP CỦA KINH VU LAN
Thích
Nhật Từ
Ân
cha hơn núi lớn
Nghĩa
mẹ hơn đất dày
Hy
sinh lòng chẳng quản
Mà
vẫn không nguôi ngoai.
Mẹ
già hơn trăm tuổi
Vẫn
thương con tám mươi.
Tình
thương nào ngơi nghỉ,
Đến
hơi thở cuối đời!
(Ân
đức thứ 10, Thích Nhật Từ trích dịch từ Kinh Báo Ân Cha
Me)
Mục
Lục
I.
Nguồn gốc của lễ hội Vu-lan trong đạo Phật
II.
Sơ lược ý nghĩa của Vu-lan
III.
Tóm tắt nội dung kinh Vu-lan
IV.
Các vấn đề Phật học trong kinh Vu-lan
1.
Đạo hiếu thảo
2.
Thần thông, tha lực và nghiệp báo
3.
Oai lực của đạo đức cộng đồng
4.
Phẩm vật và tấm lòng
5.
Đối tượng giáo dục của kinh Vu-lan
6.
Giá trị đạo đức của kinh Vu-lan
V.
Kết luận
I. Nguồn
gốc của lễ hội Vu-lan trong đạo Phật
Lễ
hội vu-lan-bồn viết tắt là lễ vu-lan có nguồn gốc từ
Kinh
Phật nói pháp vu-lan-bồn (Phật thuyết vu-lan-bồn kinh),
của Phật giáo đại thừa. Niên đại xuất hiện của kinh
này không rõ, nhưng trễ nhất là vào thế kỷ thứ 3 sau tây
lịch. Kinh này phát triển chủ yếu tại các nước theo Phật
giáo Bắc tông, truyền thống của Trung Quốc, chẳng hạn như
Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên, Đài Loan v.v… Mặc dù tính
chất nguyên thủy của bài kinh còn trong vòng nghi vấn, nhưng
giá trị giáo dục đạo hiếu và đạo đức làm người trong
kinh này là điều nổi bật và không thể phủ nhận. Đó là
đường hướng truyền bá Phật pháp chung của các kinh điển
đại thừa, nhấn mạnh đến tính giáo dục và đạo đức
chứa tải trong từng bài kinh hơn là lai lịch và xuất xứ
của các bài kinh đó.
II. Sơ
lược ý nghĩa của Vu-lan
Thuật
ngữ vu-lan viết đủ là vu-lan-bồn là từ dịch âm của người
Trung Quốc về chữ Phạn Ullambana. Một dịch âm khác nữa
là Ô-lam-bà-na tuy tương đối gần âm với chữ Phạn hơn
nhưng chữ này lại không thông dụng trong giới Phật giáo.
Ý nghĩa của chữ vu-lan-bồn còn trong vòng tranh luận. Theo
quan niệm thông thường, ullambana được ngài Trí Húc dịch
nghĩa là "giải đảo huyền" (Vạn 35/151B), về sau được diễn
dịch thành "giải đảo huyền, cứu thống khổ." Giải là
động từ có ý nghĩa là cởi trói, hay giải phóng ai ra khỏi
một cái ách nào đó. Đảo là "ngược" hay "dốc đầu xuống
đất, chân chỏng lên trời," nhằm ám chỉ cho hình thức nghiêm
khắc và đau đớn tột độ của hình phạt. Huyền là "treo."
Như vậy giải đảo huyền có nghĩa là "tháo bỏ các cực
hình treo ngược" và "cứu thống khổ" là cởi trói ách đau
khổ cùng cực của chúng sanh trong các đường dữ. Theo tinh
thần của kinh vu-lan, cái khổ nguy khốn nhất của chúng sanh
là bị sanh vào cảnh giới quỹ đói. Do đó, tháo gở cái
cực hình treo ngược là tháo gở cái ách bị đày đọa trong
cảnh giới ngạ quỹ và địa ngục. Xin lưu ý thêm rằng cách
giải thích chữ "bồn" với ý nghĩa là cái chậu, cái thau
để đựng đồ cúng dường trong ngày rằm tháng 7 của chư
tăng là cách giải thích dựa vào nghĩa chữ Hán của chữ
"bồn", vốn là từ phiên âm của thành tố "bana" chứ không
có trong ý nghĩa từ nguyên của từ ullambana. Cách giải thích
như vậy rõ ràng không có cơ sở và lạc dẫn, mặc dù trong
suốt mạch văn của kinh có đề cập đến việc sử dụng
cái thau chậu để dâng cúng phẩm vật cho các vị thánh tăng.
III. Tóm
tắt nội dung kinh Vu-lan
Phật
thuyết Vu-lan-bồn kinh là một bản kinh ngắn kể về nguyên
nhân và phương pháp báo hiếu của tôn giả Mục-kiền-liên
đối với thân mẫu của ngài. Đại ý của kinh gồm có 3
phần chính: (1) nói về nguyên nhân của pháp báo hiếu vu-lan,
(2) phương pháp báo hiếu nhờ vào đạo đức cộng đồng
và (3) báo hiếu là trách nhiệm chung của những người con.
Duyên
khởi của kinh như sau. Ngài Mục-kiền-liên vận dụng 6 phép
thần thông tìm thấy mẹ bị tái sanh trong cảnh giới ngạ
quỹ, đói khát, tiều tụy. Ngài liền lấy bát đựng cơm
đem hiến dâng cho mẹ. Do vì lòng tham, bà mẹ lấy tay trái
che lấy cái bát, tay phải vội vã vốc cơm. Nhưng cơm đã
biến thành lửa, nên không ăn được. Tôn giả sầu than trở
về thưa Phật để cầu cách cứu mẹ ngài.
Đức
Phật dạy rằng chỉ nhờ vào uy lực đạo đức tu tập của
chư tăng trong ba tháng an cư mới có thể độ được mẹ ngài
Mục-kiền-liên. Ngài Mục-kiền-liên đã y theo lời Phật dạy
thiết lập trai đàn, nhờ oai đức chuyển hóa nghiệp lực
của chư tăng mà mẹ ngài được thoát khỏi cảnh ngạ quỹ,
tái sanh về cõi trời.
Nhân
dịp đó, đức Phật đã khuyên tất cả những người con
nên học theo gương hiếu hạnh của ngài Mục-kiền-liên để
báo đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ hiện tại
và cha mẹ bảy đời qúa khứ.
IV.
Các vấn đề Phật học trong kinh Vu-lan
1.Đạo
hiếu thảo
Điểm
nổi bật và quan trọng nhất trong kinh vu-lan là đạo hiếu
như một phương pháp tu tập. Điều cần lưu ý ở đây là
đương sự báo hiếu của kinh là ngài Mục-kiền-liên, vị
đệ tử lỗi lạc với thần thông số một đã chứng qủa
A-la-hán, chứ không phải là người phàm phu. Giá trị giáo
dục của ngụ ý này rất cao: một bậc thánh nhân còn hiếu
thảo với cha mẹ như vậy thì huống hồ là người phàm phu
tục tử chúng ta mà không chịu sớm lo báo đáp. Điều đó
còn nói lên rằng đạo hiếu là nền tảng của đạo làm
người và đạo thánh nhân. Thiếu hiếu thảo, tính cách đạo
đức của con người đã bị phá vỡ và do đó không thể
trở thành các bậc hiền thánh để đời ca tụng và học
hỏi theo được. Chính vì thế mà kinh Nhẫn Nhục thuộc hệ
Đại thừa đã đẳng thức hóa "hiếu" với "điều thiện
tối cao" và "bất hiếu" là điều ác nguy hại: "Điều
thiện tối cao là chí hiếu, điều ác tối cao là bất hiếu."
Kinh điển đại thừa cũng còn khẳng định: "Tâm hiếu là
tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật" nhằm xác quyết rằng
đạo hiếu là con đường mà tất cả các bậc thánh hiền,
các bậc giác ngộ đã đi qua.
Nói
cách khác đạo hiếu thảo là đạo làm người và đạo làm
thánh. Đây là bước khởi đầu của mọi đạo lý trên đời.
Nếu tính cách thiêng liêng của đạo hiếu đã bị phá vở
thì tính cách đạo đức của một cá nhân cũng không thành
tựu được. Nghĩa là người bất hiếu không phải là người
hiền lương và đạo đức, và do đó không phải là con người
đúng với nghĩa là một động vật tiến hóa về ý thức
và đạo đức. Bằng cách đưa vai trò của chữ hiếu lên
ngang hàng với điều thiện cao cấp, Phật giáo đại thừa
đã nhấn mạnh tinh thần luân lý đạo đức của xã hội
loài người như là điều kiện tiên quyết của sự sống
nhân loại.
2.
Thần thông, tha lực và nghiệp báo 
Các
nhà Phật học Nguyên thủy dù khó tánh cách mấy cũng phải
thừa nhận điểm mấu chốt của kinh Vu-lan là "thần thông
và tha lực không thể thắng được nghiệp lực." Kinh Vu-lan
còn đề cập đến sự kiện 4 vị thiên vương hộ đời (Trì
Quốc ở phương đông, Tăng Trưởng ở phương nam, Quảng Mục
ở phương tây, Đa Văn ở phương bắc) cũng không thể giúp
mẹ tôn giả Mục-kiền-liên ra khỏi quả báo ngạ quỹ.
Đây
là điểm nhất quán giữa hai hệ tư tưởng Phật giáo nguyên
thủy và đại thừa: thần thông và tha lực không thể giúp
chúng ta thoát khỏi luân hồi sinh tử được. Với 6 phép thần
thông biến hóa và dù cho có được sự trợ giúp (tha lực)
của bốn vị thiên vương hộ đời, vậy mà tôn giả Mục-kiền-liên
đã không thể giúp cho mẹ ngài ăn được bát cơm, huống
hồ là cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ hành hình của ngạ quỹ.
Sáu
phép thần thông bao gồm thần thông biến hóa, thiên nhãn thông,
thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông và lậu tận
thông. Loại thứ nhất bao gồm các hình thức khinh thân, bay
đi đây đó, độn thổ, xuống nước lên mây không trở ngại.
Loại thứ 2 là thị giác siêu việt, vô ngại. Loại thứ ba
là thính giác siêu việt, vô ngại. Loại thứ tư là biết
được tâm lý của loài người và chúng sanh khác. Loại thứ
năm là nhớ biết chính xác kiếp trước của mình và người.
Và loại thứ sáu là nhổ sạch gốc rễ phiền não. Năm thứ
đầu không cần tu tập chánh pháp của Phật cũng có được.
Riêng lậu tận thông chỉ có các bậc A-la-hán trở lên mới
có thể thành tựu được. Đây cũng là điểm cho thấy đạo
Phật đã vượt trội lên các tôn giáo khác.
Sự
kiện sáu phép thần thông của ngài Mục-kiền-liên mà không
thể cứu được nghiệp ngạ quỹ của người mẹ cho thấy
rằng nghiệp của chúng sanh chỉ có thể được cải tạo
và chuyển hóa do chính nội tâm và hành vi thiện ích của
họ. Tất cả sự hỗ trợ nếu có của người khác cũng chỉ
là những chất xúc tác để giúp họ tự chuyển hóa nghiệp
của chính họ mà thôi. Nói khác hơn, rừng tiền biển bạc
không thể mua được sự an lạc và giải thoát. Chỉ có con
đường thiền định, phát triển đạo đức tâm linh mới
thật sự giúp chúng ta thoát khỏi các đau khổ đang hoành
hành. Đây là thông điệp của kinh Vu-lan nói riêng, kinh điển
Phật giáo (nhất là Nguyên thủy) nói chung trao tặng cho chúng
ta.
3. Oai
lực của đạo đức cộng đồng
Cách
thức mà ngài Mục-kiền-liên cứu thoát mẹ ngài khỏi cảnh
quỹ đói là nhờ vào oai đức giáo hóa qua hình thức chú
nguyện của cộng đồng tỳ-kheo thanh tịnh và có đủ giới
đức. Đây là điểm quan trọng thứ hai trong kinh vu-lan. Oai
đức của cộng đồng được xem như là biển cả bao la (chúng
đức như hải), có thể giúp chúng ta hoàn tất các Phật sự
một cách mỹ mãn: ở đây là giáo hóa và cứu độ nạn nhân
trong thế giới ngạ quỹ. Nội dung của bài kinh khuyến khích
và dạy bảo chúng ta nên sống nương tựa vào đạo đức
cộng đồng trong việc tu tập và làm Phật sự. Sự tách rời
tập thể theo tính cách cá nhân, muốn biến mình thành một
"vô thượng sư" là điều không những cấm kỵ trong giáo lý
đạo Phật mà còn là điều không thể nào thực hiện thành
công được. Đạo Phật luôn khích lệ đời sống cộng đồng.
Do đó đạo đức cộng đồng được xem là giải pháp của
mọi vấn đề đạo đức và luân lý của thời đại.
Kinh
điển Nguyên thủy và đại thừa đều có đề cập đến
6 phương pháp tạo nên sự hoà hợp, đoàn kết và sức mạnh
trong đời sống cộng đồng là "thân hòa cùng ở, lời hòa
không tranh cải, ý hòa cùng vui, giới đức hòa đồng tu, quan
điểm hòa cùng hiểu và lợi hòa phân chia bình đẳng." 6 phương
pháp này được xem là khuông vàng thước ngọc cho đời sống
tập thể. Nó một mặt hàn gắn sự đoàn kết không thể
phân ly của các thành viên trong một tổ chức, mặt khác tạo
thành sức mạnh bất khả chiến bại. Tương tự trong công
cuộc giáo hóa chúng sanh, chúng ta cần đến một sức mạnh
đạo đức tổng hợp và mang tính cộng đồng như vậy. Chính
nhờ vào đạo đức cộng đồng của các vị thánh tăng và
cao tăng nghiêm trì giới luật, mẹ ngài Mục-kiền-liên đã
được "cảm hóa" rồi đi đến "tự chuyển hóa" và nhờ đó
bà được giải thoát.
Cần
nói rõ thêm rằng, bà được thoát cảnh ngạ quỹ không chỉ
đơn thuần do sức chú nguyện của mười phương tăng. Thật
chất là do sức oai thần đạo đức của mười phương tăng
đã cảm hóa được bà, giúp bà tự chuyển hóa các
nghiệp xấu ác của ngạ quỹ, phát huy tối đa nghiệp thiện,
tái sanh về cảnh giới tốt. Đây là một quy trình vừa tâm
lý vừa đạo đức trên nền tảng nỗ lực của nội tâm.
Nói cách khác nếu bản thân mẹ của Ngài Mục-kiền-liên
không tự nỗ lực để chuyển hóa nghiệp xấu ác của chính
bà thì oai đức của chư tăng cũng vô phương cứu chữa. Đó
là mấu chốt của vấn đề cứu độ trong kinh điển đại
thừa nói chung, kinh Vu-lan-bồn nói riêng.
4. Phẩm
vật và tấm lòng
Một
vấn đề cần lưu tâm về kinh Vu-lan là vấn đề phương pháp
báo hiếu qua việc cúng dường trai tăng trong ngày rằm tháng
7. Kinh văn chép đó là ngày Phật hoan hỷ và chư tăng thanh
tịnh sau 3 tháng chuyên ròng tu tập thiền định và phát huy
giới đức. Thực ra, không phải chỉ có ngày rằm tháng 7
đức Phật mới hoan hỷ. Đức Phật luôn hoan hỷ trong mọi
tích tắc của thời gian. Nói cách khác nơi nào và lúc nào
có những người con hiếu thảo, cung kính, nuôi dưỡng cha
mẹ đúng pháp, nơi đó có sự hoan hỷ của Phật, nơi đó
có sự sống của đạo đức. Nơi nào con cái bất hiếu ngỗ
nghịch với cha mẹ nơi đó không có sự hoan hỷ, mà chỉ
có mặt của đau khổ và bất hạnh. Sở dĩ kinh văn nói đến
rằm tháng 7 là ngày Phật hoan hỷ là nhằm nhấn mạnh vào
hành vi hiếu thảo của các người con trong ngày mang tính chất
biểu tượng đạo hiếu và báo hiếu này.
Kế
đến vấn đề cúng dường chư tăng, kinh văn có nói "sắm
đủ mọi thứ phẩm vật tươi tốt và thượng hạng." Đây
là cách mô tả mang tính ẩn dụ văn học trong kinh điển đại
thừa. Cách mô tả của kinh văn phản ánh một quan niệm rằng
người con hiếu thảo phải sẳn lòng vì cha mẹ không tiếc
tiền của để báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ. Sắm
các thức ăn ngon và sang trọng phải được hiểu là cách
thể hiện lòng chí thành hay chân thành của người con đối
với việc chu lo cho cha mẹ, chứ không nhất thiết là các
phẩm vật thượng hạng trong thực tế. Một khi lòng đã chân
thành rồi thì số lượng và khối lượng vật chất dùng
vào việc hiếu thảo không còn là vấn đề nữa. Nói cách
khác, khi có đủ lòng chân thành thì cúng cho tam bảo một
nén hương, một bát nước, một cành hoa, một trái cây cũng
là báo hiếu cha mẹ được. Thế mới biết trong đạo Phật
chữ tâm quan trọng đến thế. Tâm là tiêu chí đánh giá thiện
ác và là cái cân để đo lường các trị số đạo đức
của hành vi, trong báo hiếu nói riêng trong cuộc sống nói
chung. Đạo Phật trong ý nghĩa này được xem là đạo dạy
về tâm, huấn luyện về tâm và tu tập về tâm.
5. Đối
tượng giáo dục của kinh Vu-lan
Khi
nghiên cứu kinh vu-lan có một vấn đề cần đặt ra là đối
tượng giáo dục của kinh này là ai? Ngài Mục-kiền-liên?
Mẹ ngài? hay chúng sanh nói chung? Câu trả lời ngắn gọn là
thông điệp của kinh Vu-lan dành cho tất cả loài người, những
người từng là con và do đó phải có trách nhiệm đền đáp
ân nghĩa sanh thành và nuôi nấng của cha và mẹ. Kế đến
thông điệp vu-lan còn hướng đến những chúng sanh đang bị
đau khổ, do bị nghiệp bất thiện gây ra trong đời sống
hiện tại cũng như trong quá khứ.
Do
đó việc báo hiếu không chỉ dành cho hàng đệ tử tại gia
mà còn chung cho hàng xuất gia; việc cứu độ không chỉ dành
cho người còn sống mà còn cho người quá vãng. Với tinh thần
cứu sanh độ tử, đạo Phật đã thật sự đi vào ngỏ ngách
của cuộc sống. Độ người còn sống để giúp họ sống
hạnh phúc ở hiện tại và tương lai. Độ người đã chết
để giúp họ sớm thoát khỏi cảnh giới xấu xa và đau khổ.
Nếu người hành trì đạo Phật muốn biến đạo Phật thành
đạo chỉ "độ người sống" mà không có "độ người chết"
thì họ đã làm cho đạo Phật trở nên không trọn vẹn. Ngược
lại, nếu biến đạo Phật thành đạo chỉ có độ người
chết mà không có độ người sống lại càng làm cho đạo
Phật không còn là đạo Phật nữa. Nói cách khác, đạo Phật
quan tâm đến nhiều phương diện của đời sống, bao gồm
sống và chết, để từ đó hướng tới con đường niết-bàn
chấm dứt vĩnh viễn quy trình tái sanh của sống và chết.
Các hình thức nghi lễ cúng kiến cho người chết mà không
thuyết pháp để độ người còn sống sẽ biến đạo Phật
thành một "đạo ma chay," điều mà đức Phật đã từng lên
án khi ngài còn tại thế. Mong sao những người con Phật ý
thức được việc làm của mình, không biến đạo Phật từ
một đạo vị nhân sinh sống động thành một đạo vì người
chết.
Một
ý khác cần nói thêm là quan niệm báo hiếu của đạo Phật
khác xa với Nho giáo. Theo Nho giáo có ba loại bất hiếu, loại
bất hiếu nặng nhất là không có sinh con cái để nối dòng"
(bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại). Quan niệm này thực chất
là một hệ quả của chủ thuyết thế tập, cha truyền con
nối trong chế độ phong kiến quân chủ ngày xưa. Sanh con nối
dòng để kế thừa sự nghiệp của cha ông, dù cho người
con đó không xứng đáng về phương diện đạo đức và trí
tuệ. Đạo Phật bất đồng với quan niệm thế tập như vậy.
Theo Phật giáo, người con xuất gia, nghĩa là tuyệt hẳn chuyện
nối dòng, nếu tu tập đoàng hoàng cũng là một trong những
cách tốt để đền đáp công ân của cha mẹ. Ở đây đạo
Phật khuyến khích tinh thần tự do dân chủ trong lựa chọn
và hướng nghiệp. Mọi người phải quyết định lấy số
mạng của mình, không nương tựa và dựa dẫm người khác,
không chạy theo các thế lực chính trị v.v… Đời sống đạo
đức và thiền định là những thành trì mà người Phật
tử có thể dựa vào một cách vững chắc, bền bĩ và an toàn
nhất.
6. Giá
trị đạo đức của kinh Vu-lan
Nếu
kinh Vu-lan-bồn là thông điệp hiếu kính cha mẹ thì mùa Vu-la-bồn
là mùa biểu tượng của đạo hiếu trong đạo Phật. Đó
là mùa gợi chúng ta nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ. Mùa Vu-lan do đó đã trở thành mùa báo hiếu.
Lễ hội vu-lan là lễ hội của hiếu thảo, thương cha kính
mẹ. Hiếu thảo với cha mẹ thì chúng ta phải biết kính trọng
cha mẹ, vâng lời cha mẹ dạy, phụng dưỡng nuôi nấng cha
mẹ, sớm thăm tối viếng khi cha mẹ đau ốm, hướng dẫn
cha mẹ qui y tam bảo, trở thành người Phật tử chân chánh,
nếu cha mẹ chưa trở về với chánh pháp. Nói chung, người
Phật tử phải biết đền ơn cha mẹ hiện đời cũng như
cha mẹ trong các đời quá khứ. Đạo lý của vu-lan như vậy
là đạo lý vì con người, vì sự an lạc của tất cả chúng
sinh.
Từ
phương diện xã hội, lễ vu-lan còn là dịp tốt để người
Phật tử phát tâm cúng dường tam bảo, làm việc nhân từ,
phóng sanh giúp vật v.v… Tinh thần vu-lan dạy chúng ta ý thức
độ lượng, bao dung, hướng đến và giúp đỡ người khác
trong tinh thần vô vị lợi. Ngoài ra, vu-lan còn là cơ hội
tốt cho chúng ta phát tâm bồ-đề hướng đến các chúng sanh
ngạ quỹ đang đau khổ, làm các việc công đức để hồi
hướng cho họ. Một lễ hội có nhiều giá trị đạo đức
và luân lý như vậy cần được phát huy để cho sự sống
của con người hôm nay và mai sau thật sự an lạc trong đạo
lý và tình người.
V.
Kết
luận 
Nói
tóm lại, bản kinh Vu-lan là một thông điệp gồm 3 nội dung:
(1) đề cao đạo đức chữ hiếu, (2) hướng dẫn phương pháp
độ sanh qua chuyển hóa tâm thức của đối tượng và (3)
khuyến khích các hình thức tôn kính và phụng sự tam bảo
trong các dịp thích hợp.
Đề
cao đạo đức chữ hiếu để cuộc đời có nhiều người
con hiếu thảo, bớt đi tình trạng suy thoái đạo đức trong
dân gian, xây dựng một xã hội an bình và hạnh phúc. Độ
sanh qua chuyển hóa tâm thức chúng sanh là phương pháp đề
cao giáo lý nghiệp và tinh thần tự lực của từng chúng sanh
trong ba cõi. Chỉ có con đường tự chuyển hóa tâm thức chính
mình, qua sự hướng đạo của tam bảo, hành vi và lời nói
của chúng ta sẽ trở nên thiện. Đây là con đường cứu
độ bản thân và tha nhân có hiệu quả nhất. Mọi hình thức
trông chờ vào tha lực của người khác chỉ là phản ánh
của một nhận thức sai lầm về lý nhân quả "ai làm lấy
chịu, ai tu nấy chứng" của đức Phật và tệ hơn nữa là
một sự đổ vỡ của đời sống hướng thượng của bản
thân. Khuyến khích các hình thức tôn kính và cúng dường
tam bảo một mặt gắn liền sự sinh hoạt của người con
Phật với đạo pháp, mặt khác phản ánh thái độ tôn kính
chân lý và đạo đức của những con người đã dầy công
tu tập, quảng bá chánh pháp vì lợi ích cho số đông, vì
lợi ích cho chư thiên và loài người.
Với
một thông điệp gồm ba nội dung như vậy, kinh Vu-lan và lễ
hội báo hiếu đã, đang và sẽ còn tiếp tục sống mãi trong
đạo đức chữ hiếu và đạo lý làm người, của tất cả
con người trên hành tinh này cho dù, nguồn gốc của nó còn
trong vòng tranh luận. Nói cách khác, các giá trị đóng góp
của kinh vu-lan và lễ hội vu-lan cho đạo đức cuộc sống
của nhân sinh đã lấn át hoàn toàn các nghiên cứu có tính
cách lịch sử nhưng lại không phục vụ được gì cho cuộc
sống đầy đau khổ và thương tâm của con người hôm qua,
hôm nay và mai sau. Trong bối cảnh đó, kinh vu-lan đã nghiễm
nhiên chói sáng mãi như vị cứu tinh cho đời sống đạo đức,
cho đạo lý hiếu thảo, cho tình người hôm nay và mai sau!
Mùa
Vu-lan tại Ấn Độ
12-7-2000