VU
LAN NGÀY TỰ TỨ
Hoà
Thượng Thích Thanh Từ
Hôm
nay nhân ngày lễ Vu Lan tức ngày Rằm tháng Bảy, trong đạo
gọi là ngày tự tứ của chúng Tăng. Tất cả quý Phật tử
tụ tập về chùa làm lễ cúng dường chư Tăng và cũng để
nghe quý thầy nói về ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan. Như vậy
chữ Vu Lan mang ý nghĩa gì ?
Trong
đạo Phật, ngày Vu Lan là ngày nói lên tinh thần phục thiện,
hối cải của Tăng Ni, vừa gợi lại lòng hiếu thảo của
người con Phật, vừa là ngày tha thứ mọi lỗi lầm của
chúng sinh. Đó, nó mang những ý nghĩa quan trọng như vậy.
Cho nên mỗi năm đến ngày Rằm tháng Bảy, Phật tử chúng
ta đều tụ hội về các chùa để cúng dường cầu nguyện
và để nghe, hiểu được tinh thần đạo hiếu. Bây giờ chúng
tôi sẽ giảng từng mục để quý vị thấy rõ tinh thần phục
thiện ấy như thế nào.
Ngày
lễ Vu Lan nói theo nhà đạo là ngày tự tứ của chúng Tăng.
Chữ Tự tứ nói đủ là Tự tứ thỉnh, nghĩa là thỉnh cầu
những bậc trưởng thượng chỉ dạy mọi lỗi lầm cho mình.
Những lỗi lầm đó hoặc là các Ngài thấy, các Ngài nghe
cho đến chưa thấy, chưa nghe mà chỉ nghi thôi cũng cứ chỉ.
Nếu mình thấy đó là lỗi thật thì mình thành tâm sám hối
chớ không dám cãi, không dám bỏ qua. Bởi vậy nên ngày này
chư Phật rất vui vì thấy chúng đệ tử có tâm hồn phục
thiện, biết cải hối những lỗi lầm. Do đó cũng gọi là
ngày Phật hoan hỷ. Đó là ý nghĩa thứ nhất.
Ý
nghĩa thứ hai, ngày này là ngày gợi lại lòng hiếu thảo
của người con Phật. Bởi vì theo tinh thần kinh Vu Lan, ngày
Rằm tháng Bảy chính là ngày Tôn giả Mục Kiền Liên tìm
thấy mẹ đang sanh trong kiếp ngạ quỷ khổ đau, mà tự bản
thân Ngài cứu không được. Ngài mới nhờ Phật chỉ dạy
phương pháp cứu độ mẹ. Nhân đó Phật dạy muốn cứu mẹ
thoát khỏi tai ách, phải nên cúng dường chư Tăng, Ni. Nhờ
lực gia trì của Tăng, Ni phụ giúp cho mẹ Ngài chuyển đỗi
tâm ác, thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Với lòng thành kính của
người con thảo, Ngài đã thực hiện đúng những lời Phật
dạy và mẹ Ngài cũng thoát khỏi kiếp ngạ quỷ.
Nên
ngày nay chúng ta học theo gương của Ngài. Thường những khi
tụng kinh chúng ta hay niệm "Nam mô Đại hiếu Mục Kiền Liên
Bổ tát" để tưởng niệm Ngài là một người con hiếu thảo.
Tuy xuất gia tu hành mà Ngài vẫn còn lo sợ cha mẹ không có
phước, sanh chỗ không tốt nên Ngài tìm kiếm xem mẹ đã
sanh ở đâu. Khi thấy mẹ sanh trong kiếp ngạ quỷ, động
lòng thương mẹ, Ngài liền thỉnh Phật chỉ dạy phương cách
cứu mẹ. Chính nhờ lòng thành đó mà đến Rằm tháng Bảy
là ngày tự tứ của chúng Tăng, Phật dạy chúng ta nên cúng
dường chư Tăng, nhờ chư Tăng phụ lực mà thân mẫu trong
nhiều đời được siêu thăng. Nên ngày này còn gọi là ngày
báo hiếu.
Trong
mùa này, mỗi Phật tử chúng ta nhớ lại công ơn cha mẹ sanh
thành nuôi dưỡng cực khổ, cho nên chúng ta nhờ sức chú
nguyện của chư Tăng, Ni ; nếu cha mẹ có sa vào đường khổ
thì nhờ phúc đức này được thoát khỏi. Còn nếu cha mẹ
không đi trong đường khổ thì nhờ phúc đức này mà được
tăng trưởng thiện căn. Nếu cha mẹ hiện tiền cũng nhờ
đó mà tăng trưởng tuổi thọ và phát tâm Bổ đề. Đó là
ý nghĩa báo hiếu của người con Phật.
Bởi
vậy ngày Vu Lan còn có tên là ngày xá tội vong nhân. Đó là
ngày tha thứ mọi lỗi lầm, ngày mà mọi người đều ăn
năn, xin cải đổi sám hối, mong các vị lớn tha thứ cho.
Nhờ ý nghĩa tha thứ những lỗi lầm đó nên cũng chính ngày
này chư Tăng, Ni thành tâm cầu nguyện cho các vong nhân được
khỏi những kiếp khổ đau.
Tôi
đã kể sơ qua về ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan rồi. Bây giờ
đi sâu hơn về hạnh hiếu của người con Phật. Nhiều khi
quý Phật tử thắc mắc, Phật dạy làm con phải hiếu thảo
với cha mẹ, nhưng quý thầy, quý cô lại bỏ cha bỏ mẹ đi
tu, như vậy là bất hiếu rồi, làm sao dạy Phật tử có hiếu
được ? Không phải vậy. Mới nhìn chúng ta thấy như là bất
hiếu, nhưng trái lại là chí hiếu. Tại sao ? Vì đi tu không
có nghĩa là tìm nơi an nhàn để thụ hưởng yên ỗn cho riêng
mình ; mà vì thương cha thương mẹ, thương chúng sinh, muốn
tu làm sao tự bản thân mình giải được những phiền não
khổ đau, rồi sau đó giúp cha mẹ và hướng dẫn mọi người
hướng về con đường đạo đức, bỏ đi những điều tội
lỗi. Đó là đền đáp công ơn cha mẹ.
Theo
thế gian, hiếu thảo với cha mẹ là lo đủ mọi thứ, nào
là cơm ăn, áo mặc, giường chõng, thuốc men... nhưng có người
nào lo mà cha mẹ khỏi chết không ? Dù nuôi kỹ cách mấy
rồi chết cũng phải chết. Theo tinh thần đạo Phật, chúng
ta không chỉ có mặt ở một đời này mà còn có mặt ở
vô số kiếp về trước và sau nữa, nên mất thân này sẽ
mang thân khác. Do đó nếu ngay thân này không biết làm lành
thì e rằng đời sau sẽ đọa những đường khổ. Bởi vậy
người tu phải làm sao thức tỉnh cha mẹ hướng về con đường
lành, để cho cha mẹ có mất đi thì sẽ được hạnh phúc,
an vui trong những đời sau.
Tôi
thí dụ như cha mẹ năm sáu mươi tuổi, có con mười mấy
tuổi phát tâm đi tu, ban đầu cha mẹ buồn trách nhưng sau
đó lại tự xấu hỗ. Vì nghĩ rằng con mình còn nhỏ nhưng
không ham ăn, không ham danh lợi, còn mình già rồi mà vẫn
chưa thức tỉnh. Nghĩ vậy, tự nhiên mình cũng bắt chước,
lần lần bớt ham ăn, lại tập ăn chay ; bớt ham danh lợi,
nhờ vậy mình tu từ từ. Rõ ràng, lúc đầu thì thấy con
như dở, nhưng càng về sau lại thấy càng hay. Cho nên phần
nhiều những gia đình có con đi tu thì dần dần cha mẹ và
gia quyến cũng bắt chước tu theo. Đó là tinh thần hiếu đễ
của người xuất gia.
Người
ở thế gian cứ nghĩ nuôi cha mẹ được ấm no, đầy đủ
là có hiếu, nhưng quên rằng tuổi thọ cha mẹ có giới hạn,
tới mức độ nào rồi cũng phải đi. Cho nên làm sao vừa
lo cho hiện tại được ấm no mà nghĩ tới tương lai, sau khi
cha mẹ bỏ thân này được thân sau cũng phải sáng sủa, tốt
đẹp hơn nhiều. Đó mới gọi là người biết lo chân chính,
lâu dài. Như vậy tinh thần của người tu không phải là bỏ
cha mẹ mà là thương cha mẹ. Vì muốn hướng cha mẹ về đường
lành, hướng thân quyến phát tâm Bồ đề nên mới đi tu.
Với
truyền thống người Việt Nam ta, hiếu thảo là một điều
rất thiêng liêng, rất cao cả. Ai biết hiếu thảo với cha
mẹ thì mới có thể là một con người tốt ở trong xã hội.
Cho nên hiếu thảo là một nền tảng đạo đức rất cần
thiết. Thuở xưa cha ông chúng ta cũng từng răn dạy những
điều đó. Tôi dẫn một ít đoạn trong ca dao, tục ngữ để
quý vị thấy hiếu thảo là một điều hết sức quan trọng.
-
Nuôi
con chẳng quản chi thân
-
Bên ướt
mẹ nằm, bên ráo con lăn
-
Biết
lấy chi đền nghĩa khó khăn
-
Lên non
xắn đá xây lăng phụng thờ.
Qua bốn
câu này, quý vị thấy người bình dân Việt Nam đối với
công ơn cha mẹ rất là thắm thiết. "Nuôi con chẳng quản
chi thân", khi cha mẹ nuôi con thì không nghĩ gì tới mình hết,
miễn con khỏe mạnh là cha mẹ vui. Con bệnh hoặc bị phiền
não hay tật nguyền gì đó thì cha mẹ buồn khổ. Cha mẹ muốn
hy sinh thân mình cho con được khỏe mạnh. Dù cực khổ, khó
khăn đến mấy cũng vẫn không nề, không chán. Câu sau "Bên
ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn", thật thấm làm sao ! Những
năm trước bốn mươi lăm, ở Việt Nam mình kinh tế rất là
chật vật, quý vị nào có ở miền quê mới thấy cảnh cha
mẹ nghèo ở nhà lá rách, giường chiếu chỉ có một đôi
thôi. Con nhỏ chừng một, hai tuổi ban đêm có bệnh hay đái
dầm. Khi đái dầm thì ướt, ướt mà không có chiếu thay
nên mẹ nằm bên ướt, để con chỗ khô ráo cho nó ngủ ngon.
Cái tình của người mẹ quê như vậy, người không nghĩ đến
mình mà chỉ nghĩ làm sao cho con ngủ ngon giấc, con được
khỏe mạnh, con chóng lớn lên. Người mẹ xưa đã sống trong
cảnh cơ cực đó nên mới nói lên được câu này : "Bên ướt
mẹ nằm, bên ráo con lăn". Người mẹ lúc nào cũng trải thân
mình cho con cái, quên cả mọi khổ sở, mọi đau đớn, miễn
làm sao cho con ăn ngon ngủ được, đó là yên lòng mẹ.
Cha
mẹ đối với con đã không kể thân, không nghĩ tới phần
của mình, thì làm con cái phải làm sao ? Chúng ta là con, muốn
đền được ơn đó thì phải nhớ câu : "Biết lấy chi đền
nghĩa khó khăn, lên non xắn đá xây lăng phụng thờ". Khi cha
mẹ chết rồi mình mới lớn khôn, nhớ ơn cha mẹ không biết
làm sao cho nên cạy đá, xây lăng thờ cha phụng mẹ, đó là
nói theo người thế gian. Còn nói theo tinh thần đạo Phật
thì nếu cha mẹ chết rồi, chúng ta ráng làm điều lành, điều
phước để hổi hướng cho cha mẹ. Nếu cha mẹ còn sinh tiền,
chúng ta lo lắng cho cha mẹ được ấm no, được hạnh phúc,
biết quy hướng về Tam bảo, đó là bỗn phận của người
con hiếu.
Lại
một bài nữa :
-
Công
cha nghĩa mẹ cao vời
-
Nhọc
nhằn chẳng quản suốt đời vì ta
-
Nên người,
ta phải xót xa
-
Đáp
đền nghĩa nặng như là trời cao.
Nghĩa
là công ơn cha mẹ rất cao vời, không có gì sánh được.
Cha mẹ có khi nào nghĩ rằng tôi nuôi nó chừng ba năm, bảy
năm rồi bỏ nó muốn ra sao thì ra đâu. Từ thuở còn bé,
nằm nôi cho tới khi lớn khôn, có đôi bạn, có con, vẫn cứ
lo. Hết con tới cháu, cho tới đầu bạc phơ, rồi tới ngày
tắt thở mới thôi. Như vậy để thấy thâm tình cha mẹ đối
với con không biết bao nhiêu mà kể. Như vậy bỗn phận làm
con ta phải làm sao ? "Nên người, ta phải xót xa", khi lớn
khôn rồi nghĩ đến công ơn cha mẹ như trời cao, biển rộng.
Ân nghĩa đó nặng nề sâu thẳm chớ không phải là thường.
Cho nên người Phật tử khi nghĩ tới công ơn cao siêu vời
vợi của cha mẹ, chúng ta phải hết lòng hết dạ đền đáp.
Nếu không đền đáp được nhiều ít ra cũng năm, mười phần
chớ không thể nào chúng ta bỏ mặc cha mẹ ra sao thì ra, đó
là không biết đạo nghĩa. Trong đạo Phật thường nhắc nhở,
trong năm tội ngũ nghịch thì tội bất hiếu với cha mẹ là
đầu.
Tôi
dẫn một câu chuyện hiếu thảo hơi lạ để quý Phật tử
thấy rõ ý nghĩa công ơn cha mẹ như đã nêu. Ngày xưa có
anh chàng nọ vừa dở, vừa không gặp thời, làm ăn đâu thất
bại đó. Gia đình một vợ năm bảy con, nuôi không xuể, thiếu
hụt đủ thứ. Cạnh bên có người láng giềng rất hào hiệp,
mỗi khi anh túng quẫn anh qua nhà ấy vay mượn, mượn rồi
không có tiền trả. Thời gian sau túng quẫn nữa anh lại qua
nữa, nhưng rồi cũng không có tiền trả. Tuy nhiên người
hảo tâm kia vẫn cứ cho mượn hoài, đến khi anh nhà nghèo
già và chết. Khi ấy anh bị lôi xuống Diêm Vương, ngục tốt
tra khảo sổ sách thì thấy anh nợ người láng giềng quá
nhiều, Diêm Vương ra lệnh : "Bây giờ chú mày phải sanh trở
lại làm trâu kéo cày để đền trả nợ trước". Anh chàng
đó nói :
- Không
được, cho làm trâu không đủ trả, xin cho tôi làm cha nó
mới đủ trả.
Diêm
Vương ngạc nhiên quá :
- Tại
sao đã thiếu nợ người ta mà còn đòi làm cha người ta nữa
?
Anh
chàng liền giải thích :
- Nếu
làm trâu thì sống bảy tám tuổi, cao lắm mười hai tuổi
là chết. Mười hai năm kéo cày trả nợ không đủ. Chỉ có
làm cha là tôi lo cho đến hết đời, nuôi nấng họ đến
hết đời. Hết đời tôi rồi, còn dư bao nhiêu tiền của
để lại cho họ luôn. Nếu tôi còn sống dai thì nó có cháu,
có chắt tôi cũng nuôi tất. Như vậy mới khả dĩ trả hết
bởi nợ to quá.
Như
vậy quý vị thấy làm cha còn nặng hơn làm trâu nữa. Vì
làm trâu chỉ giới hạn bảy tám năm hay chín mười năm thôi,
còn làm cha là suốt một đời, trả hoài cho đến đời cháu
nữa. Và có ai chửi mắng gì mình cũng nhận chịu luôn. Nhận
hết mọi việc như vậy mới đủ trả. Câu chuyện có tính
cách khôi hài, nhưng qua đó chúng ta thấy công ân của cha
mẹ không thể kể hết, phải không ? Cho nên người ta bảo
kiếp làm cha mẹ đối với con còn hơn kiếp trâu ngựa nữa
chớ không phải là vừa. Vậy mà nhiều khi con không nhớ,
không biết, còn phụ rẫy, bạc bẽo lại với cha mẹ nữa.
Thật là tội lỗi biết bao !
Đã
không biết ơn cha mẹ thì ơn xã hội chắc càng không biết.
Nếu người không biết ơn nghĩa gì hết thì con người đó
gọi là con người gì ? Con người vô ơn bạc nghĩa. Đã là
người vô ơn bạc nghĩa thì còn dùng được chỗ nào ? Bởi
vậy muốn thành một người tốt đối với xã hội, trước
hết chúng ta phải là người con hiếu thảo với cha mẹ. Do
biết thương cha mẹ nên mình không đánh lộn, cãi lộn, hút
thuốc, uống rượu, làm những việc hư thân khiến cha mẹ
buồn. Nhờ thế mà mình thành một người tốt trong xã hội.
Thế nên hiếu thảo là bước đầu để xây dựng gia đình
tốt đẹp, xã hội văn minh, quốc gia cường thịnh.
Đến
đây, tôi dẫn một bài phú dạy con, nếu nói đủ tên là
bài phú Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi chết, xuống âm ty bảy
ngày thấy hết các việc ở địa ngục, được sống trở
lại làm phú dạy con. Mạc Đỉnh Chi nguyên là một vị Trạng
nguyên sống ở cuối đời Trần, cũng là một nhà Nho rất
tài ba lỗi lạc. Theo truyền thuyết kể lại, có thời gian
ông chết luôn bảy ngày. Sau bảy ngày đó ông sống trở lại
và làm bài phú này dạy các con của ông. Bởi trong bảy ngày
đó, ông đã trải qua cảnh âm phủ và được thức tỉnh
nên ông muốn các con mình phải ăn ở sao cho hợp đạo lý,
khỏi bị đọa xuống địa ngục chịu những tội khổ. Bài
phú rất dài, ở đây tôi chỉ trích một ít đoạn đọc cho
quý vị nghe :
Bài
phú này là văn Nôm nên có những tiếng rất xưa :
-
Nhất
thiết thăng trầm,
-
Mệnh
sinh ngũ dục.
-
Nghiệp
nặng nhiều ngày,
-
Sinh loài
hữu trược.
-
Vì lòng
vì dạ,
-
Thương
cái thương con.
-
Chịu
khó đêm ngày,
-
Cưu mang
đùm bọc.
Đó là
phần mở đầu. Ngài nói tất cả chúng ta ở trên thế gian
này có khi thăng, có khi trầm. Thăng tức là sanh các cõi trên,
trầm tức là chìm các cõi dưới. "Mệnh sinh ngũ dục" tức
là mạng sống mình sanh trong cõi đời ngũ dục này. "Nghiệp
nặng nhiều ngày, sinh loài hữu trược", bởi vì nghiệp nặng
lâu rồi cho nên sinh trong cõi hữu trược ác thế này. Và
Ngài kết lại : "Vì lòng vì dạ, thương cái thương con. Chịu
khó đêm ngày, cưu mang đùm bọc", người cha người mẹ thương
con thương cái nên đêm ngày cưu mang, đùm bọc cho nó.
Đoạn
kế tiếp :
-
Mình
nằm địa ngục,
-
Vò võ
đêm ngày.
-
Một
mình khó thay,
-
Chịu
thương chịu bức.
-
Chị
em chẳng thấy,
-
Con cháu
hay sao ?
-
Mình
khó mình thương,
-
Ai coi
ai sóc.
-
Thuở
ngồi chưng thế,
-
Chưa
được bao chày.
-
Đến
chết bằng nay,
-
Người
thui người đốt.
-
Mệnh
sang mệnh khó,
-
Tiếng
khóc ngập ngừng.
-
Than trách
thân rằng,
-
Chẳng
hay làm phúc.
-
Bao nhiêu
của tốt,
-
Con cái
chia nhau.
-
Địa
ngục tù lao,
-
Một
mình chịu chết.
Đoạn
này ông kể khi xuống địa ngục "mình nằm địa ngục, vò
võ đêm ngày", một mình một bóng qua đêm này tháng kia không
thấy ai hết. "Một mình khó thay, chịu thương chịu bức"
tức là chịu đâm, chịu chém bao nhiêu cái khổ nhọc. "Chị
em chẳng thấy, con cái hay sao ?", có nghĩa là chị em không
thấy mà con cái cũng không có đứa nào thay thế được cho
mình. "Mình khó mình thương, ai coi ai sóc", lúc đó chỉ một
mình, mình chịu khổ chịu khó, lo cho mình chớ không ai coi
sóc, ngó ngàng mình hết.
Thuở
ngồi chưng thế, chưa được bao chày" tức là lúc mình còn
ở trên trần thế chưa được bao lâu. "Đến chết bằng
nay, người thui người đốt", đến khi mình tạo nghiệp ác
nhiều quá, mình chết đi bị thui bị đốt. "Mệnh sang mệnh
khó, tiếng khóc ngập ngừng" nghĩa là sinh mệnh mình chịu
không biết bao nhiêu khổ đau trong các cảnh địa ngục, tiếng
khóc ngập ngừng từng chặng, từng chặng. "Than trách thân
rằng, chẳng hay làm phúc", đến lúc đó tự than hồi ở dương
thế mình chẳng hay làm phúc nên bây giờ phải khổ vậy.
"Địa ngục tù lao, một mình chịu chết. Bao nhiêu của tốt,
con cái chia nhau", vì làm cho có nhiều tiền của nên có khi
phải làm ác, nhưng lúc chết để lại con cái đứa này chia,
đứa kia chia, chia cho hết, còn mình thì "Địa ngục cần lao,
một mình chịu chết", con cái có biết chút nào đâu.
Đoạn
kế :
-
Cha
đà đến đấy,
-
Biết
được lòng thương.
-
Bảo
chúng con hay,
-
Ở
đời làm phúc.
-
Lâm
chung số hết,
-
Cho
kẻo luân hồi
-
Niệm
Bụt ăn chay,
-
Diêm
vương mới phục
-
Dầu
phàm dầu thánh,
-
Miễn
được an nhàn.
-
Trọng
pháp kính thầy,
-
Thí
bần tác phúc.
-
Cơm
ăn phải bữa,
-
Ai
đói thì cho.
-
Bớt
miệng xui lòng,
-
Mỗi
người một chút.
-
Kim
Cương thường đọc,
-
Bố
thí làm duyên.
-
Nghiệp
dữ thì chừa,
-
Lành
thì tua cốc.
"Cha đà
đến đấy, biết được lòng thương", Ngài Mạc Đỉnh Chi
chết xuống đó thấy thật rõ ràng, chứng kiến được cảnh
ấy rồi, nên mới thương xót dạy con "Bảo chúng con hay, ở
đời làm phúc", dạy con sống ở trên đời ráng làm phúc,
chớ không khéo thì xuống dưới khổ. "Lâm chung số hết,
cho kẻo luân hồi", nếu làm phúc thì khi tuổi thọ hết, lâm
chung, mình khỏi luân hồi trong các đường dữ. "Niệm Bụt
ăn chay, Diêm vương mới phục", sống mà biết niệm Phật,
biết ăn chay, biết tu hành thì chết Diêm vương mới sợ mình,
chứ còn nhiều của nhiều tiền Diêm vương cũng không sợ
đâu. "Dầu phàm dầu thánh, miễn được an nhàn", mình làm
phàm hay làm thánh nhưng đến chết miễn được nhẹ nhàng
thảnh thơi là tốt. "Trọng pháp kính thầy, thí bần tác phúc",
đối với chánh pháp phải kính trọng, đối với người tu
chân chính phải tôn quý. Thí bần là giúp cho kẻ nghèo khó,
làm những điều phúc thiện.
"Cơm
ăn phải bữa, ai đói thì cho", một ngày hai bữa thôi, thấy
có ai thiếu thì chia sớt cho họ. "Bớt miệng xui lòng, mỗi
người một chút", bớt phần ăn của mình để chia xẻ với
người.Mỗi người một chút, cùng sống qua ngày qua tháng
với nhau, chớ đừng để mình dư dả quá mà người khác
đói thiếu, đó là điều không tốt. "Kim Cương thường
đọc, bố thí làm duyên", thường tụng kinh Kim Cương, làm
các việc bố thí để gieo duyên lành. "Nghiệp dữ thì chừa,
lành thì tua cốc", nghiệp dữ thì chừa còn nghiệp lành thì
nhận hiểu và vâng làm.
Tua cốc là hiểu biết. Hiểu biết
và làm chớ đừng để trôi qua suông.
Như
vậy đoạn này ông dạy con cái rất là tha thiết, nhắc nhở
con trong cuộc sống này, phải lấy việc làm lành, làm phúc
là trên. Khi còn sống biết tu, biết đạo đức thì chết
xuống Diêm vương mới sợ, chớ nhiều tiền nhiều của không
cứu được mình đâu. Đến đoạn kết :
-
Hễ
phường bạo ngược,
-
Sát,
đạo, tà dâm.
-
Tội
nặng muôn năm,
-
Phải
chừa, phải bớt.
-
Đội
ơn Trời đất,
-
Cha
mẹ sinh thành.
-
Cho
gấp chớ chày,
-
Tu
hành làm Bụt.
Ngài
dạy con cháu đừng làm bạo ngược. Phường bạo ngược là
gì ? Là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu,
tức ngũ giới. Nếu phạm ngũ giới là phường bạo ngược.
"Tội
nặng muôn năm, phải chừa phải bớt", đó là tội nặng muôn
đời nên mình phải chừa, phải bỏ. "Đội ơn Trời đất,
cha mẹ sinh thành", sống trong Trời đất, trong xã hội thì
mình phải biết mang ơn chung tất cả, nhất là ơn sanh thành
của cha mẹ. "Cho gấp chớ chày, tu hành làm Bụt", phải gấp
tu hành chớ đừng chậm trễ, làm sao thành Phật mới là hay.
Bài
phú này dài lắm, tôi không có thì giờ đọc hết cho quý
vị nghe. Bài phú này còn ghi lại trong văn chương đời Trần
chớ không phải câu chuyện truyền miệng mà thôi. Chúng ta
thấy Mạc Đỉnh Chi là một nhà Nho, không tin đạo Phật,
nhưng chết rồi sống trở lại, chừng đó ông mới tin và
khuyên con tha thiết, dạy con phải làm sao ăn hiền ở lành,
biết niệm Phật, ăn chay, tụng kinh, trọng pháp, kính quý
chư Tăng và làm những điều lành. Ông còn dạy con chỉ hưởng
một ít để chia người chứ không vì sung sướng mà thụ
hưởng riêng mình. Ông sợ nhất là những tội sát sanh, trộm
cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu vì các tội đó là tội
nặng nên muôn năm phải chừa, phải bớt.
Chúng
ta quy y với Phật, Phật bắt giữ năm giới là để trừ,
để chặn các tội bạo ngược đó, không phạm tội thì mới
không rơi vào địa ngục. Lại còn phải biết ơn Trời đất,
ơn mọi người và nhất là ơn cha mẹ. Nên gấp tu hành chớ
để chậm trễ.
Câu
chuyện trên cho chúng ta thấy việc quan trọng ở trên đời,
chúng ta phải tu làm sao tránh khỏi tội cho mình mà cũng là
tránh khỏi những tội khổ cho người thân của mình nữa.
Tôi kể một câu chuyện khác để quý vị nhớ thêm.
Hồi
xưa lúc Đức Phật trở về thành Ca-tỳ-la để giáo hóa trong
quyến thuộc. Sau đó bà Di mẫu phát tâm xuất gia, bà tìm
tới Phật xin xuất gia thì Phật không cho, nên bà buồn bà
khóc. Tôn giả A Nan thấy Di mẫu khóc Ngài xót xa quá, lại
nghe Di mẫu kể lể bà quyết tâm xuất gia mà Phật không chịu
nhận nên bà tủi thân lắm. Ngài A Nan nói : "Để con xin cho,
con xin chắc được". Tôn giả liền vô xin với Phật, Phật
cũng lắc đầu. Lúc ấy, Ngài mới kể ơn rằng :
- Lúc
Như Lai còn làm Thái tử, sinh ra bảy ngày thì Mẫu hoàng mất,
từ đó về sau Di mẫu nuôi Ngài cho tới khôn lớn. Công ơn
nuôi nấng đó rất nặng nề, tại sao Như Lai không cho Di mẫu
xuất gia để đền ơn khó khổ của Người ?
Đức
Phật liền trả lời :
- Ta
đã đền ơn Di mẫu rồi.
Ngài
A Nan hỏi :
- Như
Lai đền ơn bằng cách nào ?
Đức
Phật nói :
- Khi
ta về thành Ca-tỳ-la-vệ, ta đã khuyến hóa Phụ vương và
Di mẫu quy y Tam bảo và thọ trì năm giới. Quý vị đã thọ
trì năm giới thì ta đã đền công ơn nuôi dưỡng rồi.
Theo
lời Phật dạy, chúng ta thấy người giữ năm giới bảo đảm
không sa vào đường dữ. Thế nên, thương cha mẹ không gì
quý hơn là làm sao cho cha mẹ phát tâm quy y Tam bảo, biết
giữ gìn năm giới để mai kia cha mẹ trăm tuổi không đi vào
con đường khổ. Đó là lòng thương song thân của người
Phật tử. Chỉ cần khuyên cha mẹ biết giữ năm giới, biết
quy y Tam bảo là đã đủ đền ơn. Cho nên đền ơn cha mẹ
không phải bằng những hình thức vật chất mà đền ơn bằng
tinh thần tu hành. Chúng ta thấy Mạc Đỉnh Chi khuyên con cái
tránh đường bạo ngược là sát, đạo, dâm, vọng và uống
rượu ; đâu khác Đức Phật nói Ngài thương cha mẹ, giúp
cha mẹ giữ được năm giới là đã đền ơn rồi.
Trước
tiên, mình phải hiếu thảo với cha mẹ, thì sau con cái mới
hiếu thảo với mình. Nếu mình không hiếu thảo với cha mẹ
mà bắt con cái hiếu thảo với mình thì điều đó không bao
giờ có. Tục ngữ có câu :
-
Nếu
mình hiếu với mẹ cha,
-
Chắc
con cũng hiếu với ta khác gì.
-
Nếu
mình ăn ở vô nghì,
-
Đừng
mong con hiếu làm gì hoài công.
Đó,
"nếu mình hiếu với mẹ cha, chắc con cũng hiếu với ta khác
gì", nếu mình hiếu thảo với cha mẹ thì chắc rằng con mình
sẽ hiếu thảo với mình, không có gì khác hết. "Nếu mình
ăn ở vô nghì" tức là ăn ở bất hiếu với cha mẹ, "đừng
mong con hiếu làm gì hoài công", nếu ăn ở bất hiếu với
cha mẹ, mà lại mong con hiếu thảo với mình thì đó là chuyện
hoài công, vô ích, không bao giờ có. Đến đây tôi kể
một câu chuyện vui nữa :
Hồi
xưa, có một anh chàng còn trẻ, mới mười tám đôi mươi
thôi mà anh bất hiếu với cha mẹ quá chừng nên thiên đình
bắt tội, sai Thiên lôi đánh anh một cái cho nát thây để
trị tội bất hiếu. Nhưng Thiên lôi vừa cầm búa chực đánh
thì anh thấy, anh chụp tay Thiên lôi lại và hỏi :
- Ngài
là Thiên lôi cũ hay Thiên lôi mới ?
Thiên
lôi ngạc nhiên quá :
- Cũ
mới gì chuyện của tao, không có quan hệ đến mày. Mày bất
hiếu thì tao đánh mày.
- Không.
Nếu Ngài là Thiên lôi mới thì đánh tôi, tôi chịu ; còn
Ngài là Thiên lôi cũ thì cho tôi nói chuyện.
Không
biết chuyện gì, Thiên lôi ngừng tay lại nghe hắn nói :
- Ba
tôi bất hiếu với ông nội tôi bằng ba lần của tôi mà
ba tôi không bị ông đánh, bây giờ tôi bất hiếu mới bằng
một phần ba của ba tôi mà ông đánh tôi, vậy không hợp
lý rồi.
Thiên
lôi đành buông búa đi về.
Quý
vị thấy câu chuyện có vẻ tiếu lâm, nhưng nói lên được
ý nghĩa cha bất hiếu thì sanh con cũng bất hiếu, không thể
nào khác hơn được. Tất cả chúng ta ai cũng muốn con cái
sau này hiếu thảo thì bản thân mình phải là những người
con hiếu thảo. Có nghĩa là chúng ta vừa làm bổn phận của
mình mà vừa làm gương cho con noi theo. Đó là một đức tính
tốt, lợi mình lợi người. Nếu chúng ta không hiểu, chỉ
một bề sống cho được thỏa thích riêng mình, mà quên ơn
lớn của cha mẹ thì về sau chắc chắn sẽ bị con cái phụ
rẫy.
Cha
mẹ về già thường có những việc dễ làm mình buồn lắm.
Thứ nhứt là già hay bệnh hoạn. Già với bệnh theo nhau, bệnh
hoạn chừng năm bảy bữa thì con cháu còn sốt sắng, chứ
bệnh hoạn tháng này qua năm nọ thì con cháu lo lắng lâu ngày
dễ sanh buồn chán. Thứ hai, già yếu hay đau nhức nên thường
sanh bực bội, phiền não. Phiền não nên dễ giận, dễ quạu
lắm. Con cháu đụng chút liền giận laá; mà la hoài thì nó
cũng chán nữa. Thứ ba là cha mẹ già bệnh hoạn ít đi đâu
được, cứ ngồi trông đứa này, trông đứa kia. Nếu con
cháu chậm về thăm thì buồn phiền, trách móc. Như vậy, con
cái thường chán cha mẹ vì bệnh hoạn, vì hay rầy rà, vì
hay buồn trách. Do chán nên sanh ra coi thường, vì vậy trở
thành bất hiếu.
Tôi
xin hỏi tất cả quý vị, mai này chúng ta có già không ? Có.
Nếu bây giờ mình chán ông mình, cha mình, mẹ mình già sanh
tật khó, hay trách cứ nên mình không vui. Không vui nên mình
bỏ lãng, mà bỏ lãng thì thành bất hiếu. Ngày nay mình bỏ
lãng cha mẹ được thì mai này con mình cũng bỏ lãng mình
luôn. Bởi vì khi già mình cũng có những tật y như vậy. Người
trước thế nào thì người sau cũng thế ấy thôi. Cho nên
dù cha mẹ có khó tính mấy, có bệnh hoạn nhiều, có rầy
trách bao nhiêu đi nữa chúng ta cũng vui chịu. Vì nghĩ rầng
công ơn cha mẹ không làm sao đền đáp cho cân. Bổn phận
làm con phải lo cho cha mẹ, dù chết thân, dù hết của mình
cũng làm chớ không vì cái vui riêng, cái lợi riêng mà bỏ
cha bỏ mẹ. Như vậy là trái với đạo lý.
Hôm
nay nhân ngày lễ Vu Lan chúng tôi dẫn một ít đoạn, vừa
ca dao tục ngữ, vừa những lời phú của Mạc Đỉnh Chi để
nhắc cho tất cả quý Phật tử biết thế nào là tội, thế
nào là phước, thế nào là nên làm, thế nào không nên làm.
Nhất là suốt đời không bao giờ mình dám bất hiếu. Người
Phật tử có hiếu phụng thờ, lo lắng cho đến ngày nào cha
mẹ qua đời mà lòng vẫn còn thương mến, như vậy mới đúng
tinh thần Phật dạy. Chúng ta không chỉ lo ăn mặc thôi, nếu
cha mẹ còn sinh tiền phải khuyến hóa làm sao cha mẹ phát
Bồ đề tâm, biết làm điều phúc, tránh điều tội và biết
hướng về Tam bảo tu hành. Đó mới là gốc của hiếu đạo.
Nếu cha mẹ đã phát tâm biết làm phúc, biết tu rồi thì
chúng ta trợ lực cho sự tu hành đó càng ngày càng tinh tấn
hơn, đó là tinh thần của người con hiếu thảo trong đạo
Phật.
Quý
vị đã có mặt trong hội Vu Lan này, tôi mong rằng chúng ta
không đặt việc gì trên cha mẹ, cha mẹ là trên tất cả.
Suốt đời chúng ta phục vụ thờ kính cha mẹ cũng chưa xong,
đừng nói gì năm năm bảy năm, cho nên phải tu tập hiếu
hạnh. Đó là chúng ta đã tạo một nền tảng phúc đức cho
mình mà cũng là tạo dựng duyên lành cho con cháu bắt chước
ở mai sau. Mong rằng quý vị nhớ và cố gắng thực hành theo.
Được vậy mới thật xứng đáng người con hiếu thảo, là
người Phật tử chân chính trong đạo.