CHỮ
HIẾU THEO QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO NAM TÔNG
Tỳ
Kheo Thiện Minh
Nói
đến Vu Lan là phải nói đến mùa báo hiếu; mùa mà những
người con nam nữ nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ và muốn làm việc gì đó để đền ơn đáp nghĩa.
Bởi vì công ơn cha mẹ quả thật trên đời này không có
gì thiêng liêng bằng. Công ơn ấy đã thấm trong ta từ thuở
tượng hình, đến với ta qua hơi ấm, qua bàn tay trìu mến,
qua dòng sữa bổ dưỡng và qua giọng hát ngọt ngào. Cha mẹ
là hình ảnh đầu tiên mà ta nhìn thấy khi ta mở mắt chào
đời và cũng là người làm cho ta nhớ mãi nụ cười, ánh
mắt và hương vị yêu thương của cha mẹ dành cho mình. Hơn
nữa, nói đến cha mẹ là phải nói đến sự hy sinh cho các
con cả cuộc đời và cả tâm hồn lẫn thể xác. Chính vì
tình thương và lòng hy sinh cao cả như thế, phận làm con chúng
ta phải hiểu rõ tình thương và sựy sinh của cha mẹ; hiểu
để đền ơn đáp nghĩa với đấng sinh thành dưỡng dục
ta nên người. Về phương diện đền ơn cha mẹ, Đức Phật
có dạy: "Dù là tại gia hay xuất gia, dù là Thanh Văn hay chư
Phật đều có bổn phận đền ơn cha mẹ. Vì tâm hiếu là
tâm Phật".
Do
đó, theo quan điểm của Phật giáo Nam tông, không hẳn chỉ
là ngày Rằm tháng 7 ÂL mới là ngày mà những người con phải
làm cái gì đó cho cha mẹ đã quá văng, mà bất cứ lúc nào,
giờ nào, ngày tháng năm nào đều cũng có thể làm cha mẹ
vui lòng hoặc làm việc tích đức để hồi hướmg cho họ
ở bên kia thế giới. Nên đối với người tại gia cư sĩ,
trong một đoạn kinh, Đức Phật có dạy cách báo hiếu cha
mẹ: "Với đôi cánh tay, với những giọt mồ hôi mặn và
có tạo được ít nhiều tài sản, nên sử dụng hợp lý,
hợp tình". Tức là đối với gia đình, trên phải cung dưỡng
cha mẹ, dưới phải giáo dưỡng vợ con. Mặt khác, còn phải
làm tròn 5 bổn phận của người con đối với cha mẹ như
sau:
1.
Phụng dưỡng cha mẹ (Bhavana): Tức phải hết lòng cung kính
cha mẹ, không làm cho cha mẹ buồn khổ, không nói lời vô
lễ mà thể hiện sự phụ dưỡng bằng tinh thần như thăm
viếng cha mẹ trong những khi họ cô đơn, bệnh hoạn xế chiều;
hoặc là sự cung phụng bằng vật chất như vật thực, thuốc
thang, chỗ ngụ, y phục...
2.
Làm việc thay thế cho cha mẹ (Kicca kavana): Là chúng ta phải
gánh vác tất cả những việc gì mà trước đây cha mẹ đã
vì ta mà gánh chịu. Đây cũng là lẽ thưòng tình của đời
sống xã hội, không riêng gì Phật giáo. Đã là người con
trưởng thành thì cần phải làm thay thế cho cha mẹ, để
cho cha mẹ có thời gian thụ hưởng những ngày nhàn rỗi cuối
cuộc đời.
3.
Gìn giữ gia phong tốt đẹp (Kùlavam sathapana): Là gìn giữ
gia phong đạo đức tốt đẹp; lược bỏ đi những phong tục
cổ hủ vô bổ cho gia tộc cũng như cho xã hội. Chẳng những
thế, cần phải làm phát huy thêm những truyền thống tốt
đẹp để làm vang xa tiếng tốt của gia tộc.
4.
Bảo quản tốt tài sản thừa sự (Dàyai jàpati pajjana): Đã
là tài sản của cha mẹ thì bổn phận người con là cần
phải bảo quản tốt, thậm chí còn cần phải làm cho chúng
sinh sôi nảy nở. Vì tài sản đó rất đặc biệt, chúng không
phải tự dưng mà có, cũng không phải do vị Trời nào ban
thưởng cả, mà chúng có được là do chính máu, mồ hôi nước
mắt của chạ mẹ đã tạo ra chúng, nên bổn phận làm con
phải tỏ lòng trân trọng hiếu kính gìn giữ chúng.
5.
Tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng (Đakkinànuppadana):
Theo Phật giáo, khi cha mẹ còn hện tiền thì người con phải
làm sao cho cha mẹ luôn sống trong niềm an lạc hạnh phúc.
Ngược lại, khi cha mẹ đã quá vãng thì người con cần phải
tạo thật nhiều công đức để hồi hướng phần công đức
đó đến cha mẹ. Có như vậy cha mẹ mới thật sự sống
trong sự an lạc, vì nếu như họ đã quá cố không may mà
tái sanh cõi khổ, thì sau khi tùy hỷ theo cái phước mà người
con đã hồi hướng nơi cõi khổ ấy để tái sanh.
Về
phương diện của người xuất gia, Đức Phật cũng cho phép
nuôi dưỡng cha mẹ. Có một vị Tỷ kheo chuyên đi khất thực
nuôi cha mẹ; câu chuyện được bạch lên Đức Phật. Sau khi
phán hỏi sự tình, Đức Phật chẳng những không quở trách
mà còn hết lời tán thán hiếu hạnh của vị Tỷ kheo. Ngài
kết luận "Người nào muốn đạt đến cứu cánh Phật đạo,
người ấy phải tuyệt đối hiếu kính cha mẹ".
Lịch
sử chép rằng, Đại đức Xá Lợi Phất, trước khi Niết
bàn, cũng chọn căn phòng ngày nào Ngài đã chào đời và tìm
đủ mọi cách để giảng đạo độ mẫu thân - vốn là tín
đồ của Bà La Môn giáo - quay về quy ngưỡng chánh pháp. Và
sau đó bà đắc quả Tu Đà Hườn. Còn Đại đức A Nan Đa
thì chọn dòng sông Kohinì làm nơi tịch diệt và Xá lợi của
Ngài lại được chia đôi như ý nguyện, một phần đưa về
hữu ngạn nội tổ, phần còn lại đưa về tả ngạn ngoại
tổ. Thật là một đời sống hiếu hạnh trọn vẹn, người
đời khó làm được!.
Tiêu
biểu nhất là Đức Phật của chúng ta. Sau khi thành đạo,
hay tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng quay về
hoàng cung cùng với chúng Tăng đệ tử ngự tại vườn Thượng
Uyển; và mỗi ngày Đức Phật vào cung vấn an phụ hoàng ba
lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Cuối cùng vua cũng
đắc quả vị A La Hán. Lúc này chính tự thân Đức Phật
đã tắm rửa phụ hoàng, thay đổi xiêm y, làm lễ nhập kim
quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng cung tống kim quan với
sự tiếp tay của chư Thánh tăng thuộc hàng Thích tộc và
sự hỗ trợ của Tứ Thiên vương. Sau lễ trà tỳ Ngài thu
nhặt Xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.
Đối
với Phật mẫu, lòng hiếu thảo của Ngài lại càng đặc
biệt hơn. Ngài đã dùng thần lực lên cõi trời Đao Lợi
để tiếp độ Phật mẫu. Nơi đây Ngài an cư kiết hạ trong
suốt ba tháng ròng rã, Đức Phật đã thuyết giảng tạng
A Tỳ Đàm (Abhidhamma) cho mẫu thân nghe, và khi được thuyết
pháp, người đã chứng quả Tu Đà Hườn.