BÓNG MẸ
HIỀN
Trần
Dật & Lê Ngô Ái Lan
Chiều,
một buổi chiều xuân thật êm đềm. Dưới rừng thông
tu viện Diệu Viên, tôi dạo bước quanh chùa với tâm hồn
thanh thản, vắng lặng và hạnh phúc, sau khi tham dự lễ khánh
thành nhà dưỡng lão của ni viện Diệu Viên. Qua bao năm
xa quê, mỗi lần trở về, gia đình chúng tôi luôn luôn ước
ao làm được một việc gì đó có thể giúp ích cho đời,
cho đạo, làm vơi bớt phần nào sự khổ đau cho những kẻ
khốn cùng.
Trong
không gian tĩnh lặng của cảnh chùa, lòng tôi cảm thấy thanh
thoát và trầm tư làm tôi nhớ đến mẹ tôi tha thiết.
Hình ảnh mẹ tôi vẫn trĩu nặng trong tôi suốt 57 năm trời.
Mẹ ơi! mẹ có biết rằng con nhớ mẹ vô vàn. Mẹ đã
bỏ con ra đi vĩnh viễn trong một đêm trăng tròn của mùa
Thu năm ấy, năm 1947. Tôi mất mẹ như mất cả cuộc
đời. Kỷ niệm miên man xôn xao trở về trong ký ức
tôi như nước lũ tràn dâng.
*
*
*
Ngày
ấy chiến tranh tràn về quê tôi, gieo bao nhiêu đau thương
tang tóc cho thôn xóm. Lệnh di tản được ban ra, dân làng
Trúc Lâm hốt hoảng kéo nhau vào Đồng Chầm lánh nạn.
Cảnh đồi núi hoang vu, hẻo lánh. Chỉ thấy xa xa vài
đám ruộng còn trơ gốc rạ, khiến lòng người cảm thấy
thê lương hiu quanh.
Tất
cả sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Gia đình tôi
và gia đình bà Huyện Đài may mắn thay còn được tạm trú
ở hai túp lều tranh, hoang vắng vốn dành cho những tá điền
của gia tộc chúng tôi từ nhiều năm qua, ẩn giữa rừng thông
bát ngát đồi núi chập chùng, sương mù bao phủ ở khe Đồng
Chầm. Chạy giặc trong một đêm sương gió se lạnh, tiết
trời hè đã chuyển sang thu. Đến đây vào lúc rạng
sáng, mọi người quá mệt mỏi đã thiếp đi một giấc ngủ
dài, cho đến khi trời ngã về chiều, nắng vẫn còn một
mầu vàng dịu mát, đủ sáng cho buổi cơm chiều, trước khi
màn đêm buông xuống. Sau bữa cơm đạm bạc, cả nhà
tôi cùng nhau ra ngồi bên bờ suối, trong sương thu, gió hây
hây mát lạnh, mảnh trăng thượng tuần màu trắng bạc lung
linh trong tiếng súng “tạch đùng” từ xa dưới làng vọng
lên từng hồi. Trong không khí im lặng nặng nề, bỗng
nghe cất lên tiếng Cô Đốc Trinh, bạn láng giềng của mẹ
tôi, con dâu của bà Huyện Đài – êm ái ngọt ngào:
- Mẹ
ơi, để nhà con đỡ mẹ lên, con hầu cơm nước cho mẹ.
Từ chiều đến giờ, mẹ chưa dùng gì cả, cố gắng ăn đi
mẹ ạ...
Mẹ
tôi tỏ vẻ cảm động, ánh mắt mơ màng xót xa... và kể
lại rằng: Ngày xưa bà Huyện Đài nổi tiếng cả một vùng,
không chỉ vì nhà bà giàu “nứt đố đổ vách” mà còn
nổi tiếng bởi vì bà là người đàn bà đanh đá, chanh chua,
khắc nghiệt đối với tất cả các tá điền, người ăn
kẻ ở trong nhà. Bà Huyện chỉ biết làm giàu từ việc
phát canh thu tô đến cầm cố, cho vay nặng lãi. Cả đời,
bà chỉ biết tiền bạc, thóc lúa là trên hết. Bà đặc
biệt đối với nàng dâu – Cô Đốc Trinh – hết sức cay
nghiệt. Nàng dâu càng hiền thục bao nhiêu, bà càng lên
tay múa ngón bấy nhiêu. Cô Đốc Trinh cam chịu cảnh đời
bất hạnh, chỉ biết sống chịu đựng đắng cay một mình.
Vào
vụ lúa chiêm năm 1944, bà Huyện Đài theo tá điền đi thu
lúa ở Đồng Chầm. Tính bà vẫn thế, phải tự đi thu
để khỏi bị vãi rơi dọc đường. Bà cho cha con chú
Cùi, gia nhân của bà đi theo để “mót” lúa. Khi đò
chở đầy lúa về, trời bỗng giáng một trận mưa tầm tả,
cơn phong ba nổi lên tứ phía, sống cuồn cuộn mênh mang, đò
ngập nước rồi chìm. Mọi người hốt hoảng, trong nỗi
kinh hoàng phải lo tự cứu lấy mình. Bà Huyện Đài kêu
thất thanh: Cùi ơi, Cùi ơi... cứu tao với... Chú Cùi đang
cố tìm thằng Lụa, liền chạy quay lại túm mớ tóc dài của
bà Huyện để kéo bà lên bờ. Xong chú hốt hoảng nhào
xuống nước, bơi mãi tìm con, may thay thằng Lụa cũng được
cứu sống.
Lên
đến bờ, chú Cùi đuối sức, nằm bất tỉnh trong chiếc
quán tre trống lốc bên đường làng. Sau kiếp nạn đó,
bà Huyện ngã bệnh suốt tháng. Trong cơn mê sảng, bà
gọi tên nhiều người, trong đó có người con gái duy nhất
của bà đang hư hỏng lưu lạc tha phương. Ba tháng chập
chờn cơn tỉnh cơn mê, đối diện với cái chết, bà được
sự chăm sóc chu đáo của người con trai, nàng dâu và cả
chú Cùi nên bệnh thuyên giảm dần. Nàng dâu hiền thảo
không chỉ tận tình: “lấy ân báo oán” mà còn thỉnh mời
quý Sư ở Chùa Tổ Khánh Vân về tụng niệm cầu an, thuyết
pháp cho bà được thấm nhuần đạo lý từ bi, nhân ái.
Cuối cùng, bà Huyện Đài như được “cải tử hoàn sinh”...
Mẹ
tôi ngừng câu chuyện và chép miệng. Tất cả chúng tôi
lặng lẽ thở phào rồi mẹ tiếâp tục kể:
Sau
cơn bệnh thập tử nhất sinh đó, cận kề cửa tử, bà Huyện
Đài đã thay đổi hoàn toàn. Trong những ngày nằm liệt
giường, bà đã suy nghĩ nhiều về chú Cùi là kẻ ăn người
ở, sao lại có tấm lòng cao cả, ân nghĩa này làm sao trả
hết! Bà bứt rứt xót xa và ôm niềm ân hận muốn chuộc
lại những lầm lạc ngày xưa. Việc đầu tiên, bà nhận
chú Cùi làm con nuôi, cắt một mảnh đất vườn và làm cho
gia đình chú một mái lều nhỏ ấm cúng, thằng Lụa được
bà xem như cháu nội, cho ăn học hẳn hoi. Đối với tá
điền, bà giảm tô và xóa nợ cho những người nghèo khó,
neo đơn, đồng thời ân cần khuyên bảo họ chí thú làm ăn.
Riêng với nàng dâu Cô Đốc Trinh hiền thục, đảm đang, nhẫn
nhục, bà Huyện Đài đã giao cho việc quản lý toàn bộ gia
sản, cơ ngơi một cách đáng tin cây. Có lẽ sau lần
thoát chết, bà đã hồi tâm, cảm nhận được lẽ vô thường
trong trời đất mà tu tâm, dưỡng tánh. Chắc hẳn những
lời thuyết giảng của Chư Tăng trong thời gian bà nhuốm bệnh
đã giúp bà ít nhiều hiểu thấu được lẽ nhiệm mầu của
đạo Từ Bi. Cuối cùng cô con gái hư hỏng của
bà cũng đã trở về trong nổi nhớ thương mòn mỏi của người
mẹ nay trở nên thật đáng thương đáng kính...
Từ
đó, gia đình bà Huyện Đài sống trong êm ấm thuận hòa,
hạnh phúc. Cô Đốc Trinh là người phụ nữ đức hạnh,
nhân hậu luôn hết lòng săn sóc phụng dưỡng mẹ chồng,
nhất là trong những lúc ốm đau như các con đã thấy đó.
Mẹ tôi thực sự xúc động khi thuật lại câu chuyện nầy
cho chúng tôi được nghe, như muốn chúng tôi nhìn thấy ở
đây tấm gương sáng xứng đáng cho người đời noi theo.
Mười
hai năm sau, bà Huyện Đài thanh thản nhắm mắt ra đi.
Bà cũng tìm lại được nhiều năm tháng hạnh phúc bên con
cháu và người thân yêu, trước khi qua đời.
Đau
đớn thay! sau nhiều ngày đêm chạy loạn kham khổ, mẹ tôi
nhuốm bệnh và đột ngột qua đời. Thiếu vắng mẹ,
những ngày êm đềm tuổi thơ của tôi không còn nữa.
Tôi thấm thía thấy cảnh mất mẹ từ đây. Trong tâm
trí tôi, từ non nớt đến trưởng thành, mẹ luôn luôn là
một hình ảnh cao cả, bao dung, vị tha, nhân đức. Bà
sống mãi trong tim tôi, thiên thu rực rỡ.
*
*
*
Vợ
chồng cô Đốc Trinh có hai người con, con trai trưởng là anh
hai Long, trạc tuổi tôi, và cô Loan kém tôi độ hai tuổi.
Ngoài ra còn Lụa, con chú Cùi được bà Đốc nuôi nấng coi
như con ruột và dạy dỗ ăn học nên người.
Thời
gian thấm thoát trôi qua, hai mươi năm vèo đưa như chiếc lá
thu rơi. Rồi biến cố mùa Xuân năm 1975 xảy tới,
người Việt chúng ta trải qua cuộc chạy nạn chưa từng có.
Tôi, bạn Hai Long, Lụa và cô Loan gặp lại nhau trong những
ngày cuối thật căng thẳng ở Sài Gòn. Lụa và hai Long
đều không muốn ra đi, vì ai sẽ là người chăm sóc mẹ,
bà Đốc Trinh nay đã già yếu. Tình mẫu tử thật thiêng
liêng, càng thêm bịn rịn, quyến luyến. Trách nhiệm
làm con cũng như ơn sâu nghĩa nặng không cho phép bỏ mặc
mẹ già. Cuối cùng, Hai Long quyết định hy sinh để em
nuôi ra đi tìm cuộc sống mới. Đêm từ biệt anh, một
đêm thật buồn thảm, trời không trăng sao. Lụa đã
đem hết tiền dành dụm được trao lại cho nghĩa huynh để
anh ở lại lo việc phụng dưỡng mẹ già. Trong giờ phút
chia ly, hai anh em đều không cầm được nước mắt, xót xa
từ biệt nhau. Riêng Loan, em ruột thịt giàu có, chẳng
đoái hoài gì đến mẹ, lặng lẽ theo chồng ra đi không một
lời giã từ.
Sau
một thời gian ổn định trên đất khách quê người, Trời
trớ trêu đã ưu đãi người tệ bạc... Cô Loan làm ăn khấm
khá nhưng không hề đoái hoài thương tưởng đến mẹ già
đau yếu, người anh cật ruột đang sống trong cảnh lao tù
tuyệt vọng giữa rừng vắng ở quê nhà.
Đến
ngay bố mẹ chồng của cô ở cái tuổi bát tuần, cũng bị
cô bạc đãi. Ông bà theo con trai qua đây, nào ngờ để
rồi phải nghe cô con dâu ngày đêm đay nghiến than vãn, âm
thầm cam chịu đắng cay cũng không xong. Cuối cùng cô
tống khứ cha mẹ chồng vào nhà dưỡng lão, mặc xác họ
với số tiền trợ cấp. Chúng tôi, mọi người đều
cảm thấy bất bình, xót xa cho hai cụ già cô đơn gần đất
xa trời, xa quê hương làm sao sống nổi ở một nơi xa lạ,
lạc lỏng giữa những người không cùng ngôn ngữ tập quán.
Hằng ngày phải trực diện với cảnh ốm đau bệnh tật triền
miên, vừa cô đơn, và tuyệt vọng, trầm uất, xót tủi sẽ
sớm tiễn họ về bên kia thế giới. Nuôi con khôn lớn,
chả có ai nghĩ đến sự đền đáp, song đón nhận một sự
hững hờ, lạnh lùng, vô cảm đến thế thì thật xót xa,
phải chăng đây là một hậu quả của một kiếp người.
Ôi, những cha mẹ bất hạnh, ôi những đứa con vô ơn, cõi
ta bà thế giới nầy liệu có tồn tại mãi để dung chứa
những nghịch cảnh như thế này không?
Ở
quê nhà, bà Đốc và cô con dâu nương tựa dìu dắt nhau về
với vườn rau, góc chuối, an phận thủ thường để sống
qua ngày đoạn tháng, mẹ chồng giúp nàng dâu, giữ gìn cháu
nhỏ, không quản nhọc nhằn lặn lội đường xa thăm nuôi
con tù tội... tất cả các công việc đó khiến bà Đốc chẳng
còn thì giờ để thương tiếc bóng vàng son của dĩ vãng.
May thay có chút tiền của Lụa gởi về giúp họ vơi bao phiền
não trong cảnh cơ hàn kham khổ. Những cánh thư đầy
tình yêu thương của Lụa, làm họ tràn ngập niềm hân hoan
và hạnh phúc. Khiến bà Đốc Trinh cảm thấy được an ủi
và còn tin rằng cuộc đời này vẫn còn chút tình người.
Mỗi
ngày, mỗi tháng qua đi, bà Đốc cảm nhận nổi niềm cô đơn
thấm thía, khao khát mòn mõi, mong được tin người con gái
duy nhất ở tận trời Âu, dù qua điện thoại hay vài ba chữ
“quều quào” gởi về thăm mẹ. Hy vọng theo ngày tháng
chồng chất nhuộm bạc mái tóc của bà Đốc. Đôi khi
bà Đốc lại tự trách mình vì đã chẳng gầy dựng cho con
gái một chút quan hoài đến bố mẹ và người thân yêu.
Về
phần cô Loan có ba người con, đứa con trai lớn vì công việc
làm ăn, có khi xa nhà đến cả tháng dài, hai cô con gái thường
vắng nhà đi hoang. Một hôm, cô Loan thình lình ngã bệnh
rồi rơi vào hôn mê. Hai ngày đêm mê man đã khiến cho
người chồng tuổi đời đã ngoài 60 một mình đơn độc
vô cùng lo lắng, bối rối. Mỗi lần hồi tỉnh, mở
mắt nhìn quanh bốn bức tường bệânh viện với một cảm
giác xa lạ. Lần đầu tiên cô cảm nhận nổi cô đơn
thấm thía, lạc lõng, bơ vơ giữa chợ đời. Những lời
hỏi han an ủi của chồng không làm cô bình tâm. Tất
cả những gì cô đang có trước mắt, tiền tài, danh vọng,
vật chất không làm diïu được nổi lo sợ của một người
đang trên giường bệnh. Các bác sĩ đang hội chẩn để
tìm ra nguyên do, căn bệnh của cô, nhưng đó không phải là
cái chính cô đang mong chờ, cô đang nghĩ về đại gia đình
thân yêu mà cô đã lãng quên từ lâu, đúng, gia đình mới
chính là liều thuốc cho căn bệnh tâm thần của cô.
Cô loáng thoáng thấy bóng người mẹ già và đứa con trai
thấp thoáng sau khung cửa kính phòng bệnh. Sóng hối hận
dâng tràn trong lòng cô . Cô quyết tâm nhìn lại chính mình
và thoát bỏ được những sai lầm, lạc hướng mà cô đã
phạm.
May
thay, người con trai trưởng của cô, sau công tác, điện về
thăm nhà mới được người láng giềng cho biết mẹ anh đã
vào bệnh viện cấp cứu. Anh hốt hoảng báo tin cho bà
ngoại, ông bà nội, các em và những người thân. Chúng
tôi tề tựu ở bệnh viện, mọi người vây quanh giường
bệnh an ủi, thăm hỏi như chẳng ai nghĩ đến những việc
làm sai trái của cô Loan ngày trước. Cô Loan nước mắt
ràn rụa nói chẳng nên lời. Sự ăn năn hối hận đang
dày vò tâm hồn cô, cô không đủ can đảm nhìn vào bố mẹ
chồng, cả mẹ ruột mình. Các bác sĩ cho hay bịnh tình
của cô đã qua khỏi thời kỳ nguy hiểm, thì cô không mừng
mà lại tiếc tại sao ông trời không hành hạ cô đau đớn
triền miên, để hầu trả nợ được lỗi lầm ngày xưa.
Cô cảm thấy đau xót hối hận và hiểu thấu được bổn
phận làm con, rồi cô hối thúc căn dặn người con trai lo
sắp xếp nhà cửa để đón ông bà nội về hầu hạ, có
cơ hội báo hiếu lúc các cụ tuổi đã về già, để họ
có những ngày xuân nắng ấm trong quãng đời còn lại.
Chính cô Loan đã đánh đổi được hạnh phúc trọn vẹn của
gia đình cô đang có. Anh Hai Long, Lụa và tôi ngỡ ngàng
như sống trong cơn mộng. Duyên lành ơn Phật đã đến
sau bao năm tháng mọi người mong chờ.
Kể
từ dạo ấy, gia đình cô Loan sống trong chan hòa, đầm ấm,
hạnh phúc, đầy thương yêu ngọt ngào. Không những vợ
chồng chúng tôi thường đến hầu thăm, vấn an sức khỏe
của bà mà còn có lớp đàn con đàn cháu của bà thường
nhật lần lượt về tổ ấm xúm xít, quây quần bên bà
và luôn mang lại niềm vui tươi. Đã ngoài 95 tuổi
đời, nhưng bà Đốc không yếu, trí óc vẫn còn minh mẫn,
luôn yêu đời, đặc biệt những chuổi cười dài vô tận
đã đem đến cho mọi người niềm an lạc. Bà chính là
cột trụ hạnh phúc của gia đình cô Loan. Bà thật là
một hiền mẫu, đức độ, cao quý, bao dung, không những chỉ
dành được sự kính trong của xã hội mà còn dành được
sự tôn kính của gia đình.
*
*
*
Gần
28 năm qua, cô Loan lưu lạc nơi viễn xứ, vì bổn phận, chưa
có cơ hội về thăm lại quê hương, bà Đốc hiểu được
sự ước mong và tấm lòng của cô con gái, năm nay xuân Quí
Mùi (2003) bà khuyến khích gia đình cô Loan, chú Lụa hãy về
thăm quê cũ, cùng với đại gia đình chúng tôi, để cô tìm
lại quê cha đất tổ.
Chiều
nay, một buổi chiều cuối Đông Nhâm Ngọ (2002). Trong
bầu không khí miền quê trong lành, êm ả, mát dịu, Xuân đang
đến trên những cánh mai vàng, hé nụ nhà ai. Gia đình
chúng tôi cùng gia đình cô Loan, chú Lụa từ phương xa về
cùng đi thăm viếng mộ phần ông bà tổ tiên. Những
ai có xa quê hương lâu, mới thấy lòng mình tràn ngập một
nỗi niềm cảm xúc thiết tha khi tưởng nhớ người xưa.
Đứng trước mộ, mà lòng bâng khuâng rưng rưng với những
kỷ niệm xa xưa hiện về. Đốt nén hương thơm trên
mộ cụ Huyện Đài để nhớ người quá cố bao chuyện bể
dâu. Mộ mẹ tôi, cách đó không xa, đã hơn nửa thế
kỷ mẹ tôi yên nghĩ nơi đây. Bao lớp hưng phế của
thời gian và cuộc đời chìm nổi vẫn không thể nào làm
tôi nguôi khuây hình bóng của mẹ. Trong tiếng lòng thổn
thức, chị cả tôi đã kể lại những câu chuyện ngày xưa
đến nay trải dài ba thế hệ. Chuyện gia đình cụ Huyện
Đài, chuyện nhà bác Đốc Trinh, chuyện cô Loan... với bao
sóng gió cuộc đời. Rất may con cháu trong gia đình chúng
tôi hiểu thế nào là nét đẹp của đạo lý, biết cách ứng
xử, tôn kính ông bà, cha mẹ, biết sống thân ái, hoà nhã
với mọi người chung quanh, và sẵn sàng giúp đời. Mẹ
ơi! Bấy nhiêu năm vắng bóng mẹ ở cõi đời này, ở thế
giới bên kia chắc hẳn mẹ cũng mĩm cười mãn nguyện, bởi
lớp lớp con cháu đã không bao giờ phụ lòng mong ước của
mẹ. Với nén hương lòng, con xin cầu nguyện mẹ vãn
sanh miền tiên cảnh...
Hoàng
hôn xuống dần, hơi sương trên giòng sông Bạch Yến mờ mờ
xa xa. Ánh nắng chiều trải dãi trên đồi Trúc Lâm chưa
muốn tắt, chúng tôi rời mộ mẹ và cụ Huyện Đài trong
sự bùi ngùi nổi nhớ mênh mang. Nghĩ về sự hồi tâm
của cô Loan mà cảm động, đặc biệt là cảm tình mặn nồng
chí hiếu của chú Lụa mà mến phục ngợi ca. Giao thừa
đêm nay, chúng tôi trân trọng gọi điện chúc mừng bà Đốc
Trinh sống trường thọ, suốt một đời bà tận tụy thay
chồng nuôi con cháu khôn lớn nên người, hy sinh vì chồng,
vì con, vì cháu, bà thật xứng đáng là người mẹ hiền dâu
thảo là tấm gương đức hạnh tuyệt vời cho hậu thế noi
theo.
*
*
*
Thời
gian không đọng lại, ngày vui chóng qua, thế đã gần nữa
tháng ở quê nhà, ngày mai tôi cùng con cái, dâu rễ sẽ tạm
rời quê hương xóm làng thân yêu về Mỹ.
Ánh
trăng non thượng tuần chiếu chênh chếch xuống sân nhà.
Tôi ngồi trên hiên nhà nhìn ra quang cảnh xóm làng như cố
thu vào trí óc những hình ảnh thân yêu mà ngày mai đây phải
xa cách. Mọi vật đều có đổi thay, riêng vành trăng
thì vẫn vậy. Đây là ánh trăng của đêm tản cư năm
nào, khi tôi mới mười hai tuổi đầu. Cảnh vật hoang
sơ, giữa núi rừng đẫm sương bên hồ suối vàng. Ánh trăng
xưa dạt dào cảm xúc nghĩa tình mẹ cha.
Dưới
ánh trăng nay giữa quê hương, gia đình chúng tôi cảm thấy
hạnh phúc con cháu dâu rể quây quần dưới bóng nhà xưa.
Làng Trúc Lâm muôn đời hiền hòa như ánh trăng xuân bàng
bạc trên ngàn cây xanh. Tiếng gió lao xao chuyện trò với
giòng sông Bạch Yến như giải lụa bộc bạch bao nổi niềm.
Hàng cau xanh cao vút lung lay trước gió, hương bưởi, hương
lan tỏa mùi thơm thấm dậm tình người. Cảnh và người
giao hòa trong một cảm quan thiêng liêng. Bao năm tháng
xa quê, nơi đất khách, chúng tôi vẫn cảm nhận được niềm
vui của một đời người: Vợ chồng, con ngoan, dâu hiền rễ
thảo, cháu thương nhưng nào đâu có ai hiểu được một khoảng
trống trong lòng tôi, đã vắng bóng mẹ hiền. Ôi cha
mẹ yêu dấu xin hãy về đây chứng kiến cảnh đoàn tụ đại
gia đình. Giá như trong ánh trăng xuân viên mãn ngày hôm
nay, ánh trăng mát lành như tình mẹ nghĩa cha có được sự
xum vầy của bốn thế hệ, tứ đại đồng đường thì tuyệt
vời biết bao!
Nhưng
làm sao có được sự viên mãn đó? Tôi quá tha thiết,
tham lam tình cảm quá chăng? Không, bởi vì tôi vẫn tiếc cho
người đời có được mẹ cha mà không biết trân trọng,
yêu thương, gìn giữ, đền đáp... Tiếc thay!
Ánh
trăng trong làng Trúc Lâm lung linh mờ ảo như đồng cảm với
những cảm xúc của tôi. Thấy tôi đang thẩn thờ suy
tư, đứa con gái của tôi nhỏ nhẹ:
- Con
biết ba đang nghĩ gì rồi! Ba ơi...
-
Vâng, con ạ.
- Ba
đang nghĩ về ông bà, và mong sao các con cũng sống hiếu thuận
như ba mẹ hằng ao ước. Bóng mẹ hiền luôn luôn là
nỗi niềm khôn nguây trong cuộc đời ba, như ánh trăng Thu
vằng vặc kia.
Trần
Dật & Lê Ngô Ái-Lan
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan