Australia,
25 July 2001
VU LAN, MỘT
CÕI VỀ
Trí
Nguyệt
Không
biết từ bao giờ trong tôi có một cảm giác nhẹ khi nghe ai
nhắc tới Vu Lan. Ý nghĩa sâu sắc theo từ nguyên thì tôi không
biết, nhưng có một điều chắc chắn tôi cảm nhận được
là khi nghe hai từ đó thì tức khắc tôi nghĩ tới người
mẹ bất hạnh của tôi đã ra đi biền biệt hơn ba mươi năm
khi tôi hai tuổi. Vu Lan – Má, hai từ đó bỗng nhiên hóa làm
một trong ý tưởng của tôi. Má tôi ra đi khi người vừa
tròn hai mươi hai tuổi. Cũng có thể nói má tôi bất hạnh,
mà cũng có thể nói tôi là thằng bé bất hạnh. Cả hai đều
đúng.
Năm
xưa, khi còn bé, tôi thường theo nội đi chùa vào những dịp
lễ lớn, trong đó có lễ Vu Lan. Trong những lễ lớn đó,
nội tôi ít khi bảo tôi phải đốt hương, người chỉ bảo
tôi quỳ lạy Phật thôi, nhưng đặc biệt là lễ Vu Lan, người
thường khuyên tôi nên đốt ba nén hương dâng lên đức Phật
để nhờ phép mầu của Ngài cứu má tôi ra khỏi địa ngục.
Nội nói rằng má tôi mất đi không biết đã tiêu diêu miền
cực lạc chưa. Những lần như thế thì tôi được dịp đốt
hương và chính đôi bàn tay nhỏ bé của tôi dâng hương lên
đức Phật. Tôi không biết cúng vái như thế nào, chỉ nhờ
nội bồng tôi lên để cắm hương vào lư một cách vội vã.
Ba cây hương xiêng vẹo thật buồn cười. Nội tôi phải sửa
lại cho ngay ngắn. Khói hương nhẹ tỏa, tiếng chuông ngân
vang, giọng kinh thanh thoát trong ngày lễ Vu Lan đã quây quanh
tôi. Tôi quỳ kế bên nội, len lén nhìn khuôn mặt từ bi của
đức Phật hy vọng rằng ngài sẽ hiểu những gì tôi muốn
nói như lời nội tôi khuyên tôi, chứ thật ra tôi chẳng có
một chút xíu van xin gì trong lòng tôi cả. Tôi nhớ má, tôi
nghe lời nội và chỉ nhìn đức Phật. Ðó là những gì tôi
có thể làm được trong ngày lễ Vu Lan.
Năm
tháng cứ dần trôi, tóc nội gần như nhuộm trắng cả. Một
hôm nọ, nội nhìn tôi với một vẻ vừa vui vừa buồn, bảo:
Con đã thực sự lớn, nội càng già yếu không thể chăm sóc
được nữa. Bao năm qua nội đã nuôi con thay má con. Ngày nội
ra đi không còn lâu nữa. Trước khi ra đi, nội muốn thấy
con phải tự tay mình đốt hương dâng lên đức Phật hàng
ngày, tự miệng mình cầu xin hàng ngày cho má con và cho nội
nữa, cho nên nội quyết định cho con ở chùa. Từ đó tôi
trở thành một chú tiểu trong một ngôi chùa vùng quê yên
tĩnh. Một vài năm sau đó, chính tay tôi đốt hương đưa cho
nội cúng vái trong những dịp lễ Vu Lan và cắm hương dùm
cho nội, vì lúc đó tay nội hơi run. Sau những lần đó, tôi
không còn được hầu nội đốt hương cúng Phật nữa, người
đã thực sự ra đi như má tôi đã ra đi năm nào.
Những
dịp lễ Vu Lan kế tiếp trong đời tôi là những dịp tôi
nhớ má và nội một cách hoàn toàn nhất. Cứ sau mỗi lần
theo quý thầy tụng kinh Báo Hiếu trong dịp lễ Vu Lan, tôi
thường ra sau chùa ngồi dưới một gốc cây suy nghĩ miêng
mang về má và nội. Hai người thương yêu tôi nhất lại ra
đi biền biệt cả. Nội, thì tôi còn nhớ rõ khuôn mặt, giọng
nói, dáng đi và nhất là đôi mắt từ từ đẫm ướt khi
quyết định cho tôi ở chùa. Còn má, tôi hoàn toàn không nhớ
gì hết. Tôi chỉ biết má tôi qua tấm hình nhỏ xíu trong
Thẻ Căn Cước với khuôn mặt tròn đầy phúc hậu, mặc chiếc
áo dài đen cài nút bên phải giống như kiểu vạt khách mà
tôi được mặt khi vào chùa. Má tôi chụp hình không tươi
cười, nét mặt người vừa nghiêm trang vừa hiền hậu, đôi
mắt nhìn thẳng vào tôi như có ý bảo với tôi rằng có nhận
ra người là ai chăng. Có một lần nội kể cho tôi nghe rằng:
ngày xưa, má và nội đi chợ, đến trưa mà chưa về tới
nhà. Nội bảo má thuê xe xích-lô máy về, tốn khoảng 3-4
đồng thôi. Má nói với nội rằng "mình ráng đi bộ một
chút, để dành tiền ấy mua vài cây kẹo cho thằng Thắng
nó mừng". Khi nội kể đến đó thì nội thường xoa đầu
tôi nói thêm "Má con thương con như thế đó, nhưng tiếc thay,
con người hiền lương mà lại xấu số". Ðó là những gì
mà tôi có thể nhớ má thôi.
Ngày
đó, đứng hầu chuông cho tín đồ bốn phương lạy Phật
trong những dịp lễ Vu Lan, tôi thuờng nhìn những bà mẹ dẫn
con nhỏ lạy Phật mà thèm, mà nhớ, mà ước ao, nhưng chẳng
biết ước ao gì cụ thể. Cũng bảy tuổi như tôi lúc đó,
mà bọn nhỏ được mẹ nuông chìu, tung tăng trong bộ quần
áo mới, còn tôi, phải đứng nghiêm trang thỉnh từng tiếng
chuông trong chiếc áo Nhựt bình nâu cũ. Tôi không còn đốt
hương cho nội hay cho tôi để dâng lên đức Phật cúng vái
cho riêng má tôi nữa, mà tôi phải đốt hương cho mọi người
để họ cúng vái cho ông bà, cha mẹ của họ. Tôi chỉ nghĩ
đơn giản là má và nội tôi bây giờ tức là thầy, là sư
huynh đệ của tôi. Khi nghe quý thầy dâng lời cầu nguyện,
họ thường cầu nguyện chung cho những hương linh đã qua đời
trong nhiều kiếp. Như vậy thế nào cũng có vong hồn của
má và nội hưởng phước. Tôi yên tâm như vậy.
Lễ
Vu Lan ngày nay có vẻ nhộn nhịp hơn ngày xưa. Mọi người
dường như vui vẻ, ăn mặc sang trọng và cúng kiến có vẻ
thịnh soạn hơn, lại còn có ca nhạc giúp vui nữa. Có một
điều mà từ nhỏ tôi chưa được thấy bao giờ, đó là lễ
Bông hồng cài áo. Những ai mà trên áo của họ đính chiếc
hoa màu hồng là nói lên rằng người đó còn cha và mẹ. Chiếc
hoa màu trắng là dấu hiệu người con mồ côi bất hạnh.
Thường thì trên áo tôi luôn nở hoa màu trắng lạnh lùng
trong mỗi độ Vu Lan về. Tôi thật sự đau buồn cho tôi và
cho những ai cùng số phận, nhưng nhìn xung quanh, tôi thấy
ai cũng vui cười, cũng ca hát, chẳng có chút gì thương nhớ
má, thậm chí những người đang mang hoa trắng. Tôi cũng vui
khi thấy những cô chú lớn tuổi mà trên áo còn rung rinh cánh
hoa màu hồng tươi, nhưng đau buồn nhất là khi tôi thấy một
em bé còn bồng trên tay của một bà cụ mà ai đó đã gắn
cho nó chiếc hoa màu trắng trinh nguyên như nét mặt ngây thơ
của nó. Tôi tự nói cho chính tôi nghe: "Này em bé, em không
thể nào ngây thơ như thế khi chiếc hoa màu trắng lạnh đó
theo em suốt cuộc đời này."
Dù
cho lễ Vu Lan mỗi thời mỗi khác, hình ảnh bà cụ dắt bé
mồ côi lên chùa, làn khói hương, giọng tụng kinh và tiếng
chuông ngân trong ngày rằm tháng bảy vẫn như xưa. Vu Lan là
đề tài để người ta suy tưởng về các đấng sanh thành,
để ôn lại, nhớ lại Ba, Má. Vu Lan là thời gian đạo đức
để người con đưa suy tư của mình trở về quá khứ. Những
thời gian khác, người ta thường tự cho mình có một vị
trí đáng kể trong xã hội, nhưng trong mùa Vu Lan, ai cũng thấy
mình còn bé bỏng lắm, vì người đáng kể thật sự là Ba,
Má, chứ không phải mình. Dù sống đến bao nhiêu tuổi, đến
ngày lễ Vu Lan cũng phải nghĩ về thuở ấu thơ để nhớ
về Ba, nhớ về Má của mình. Cho nên Vu Lan là cõi đời thật
sự để trở về của người con lang thang trong kiếp sống
mênh mang này. Hình thức lễ Vu Lan là thế, ý nghĩa Vu Lan là
thế, không thay đổi, nhưng nếu có bị thay đổi thì sự
thay đổi đó bắt đầu từ những ai vẫn còn tiếp tục vui
cười để cố quên đi cành hoa màu trắng trên ngực áo của
mình nhuộm trắng một bầu trời tang tóc đau thương của
thân phận mồ côi.
(Vài
dòng cho những ai không còn mẹ trong ngày Vu Lan)
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan