THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan
.
VU LAN MÙA BÁO HIẾU
 Cư Sĩ, Nguyễn Ðức Can

Thời gian đi nhanh quá, thấm thoát đến nay đã mười một  năm lưu vong nơi xứ  lạ quê người, cách xa quê nhà cả nửa vòng trái đất, thế là cuộc đời tôi phải nhận nơi đây làm quê hương thứ  hai và có lẽ cũng là nơi gửi nắm xương tàn ở một đất nước mà hàng triệu người hiện đang muốn đến  lập nghiệp.  Mặc dầu nước Mỹ là một nước hiện tại có đầy đủ về vật chất, văn minh và dân chủ nhất thế giới, nhưng đối với tôi và có lẽ hầu hết những người Việt Nam đã sinh ra và trưởng thành nơi quê nhà đều cảm thấy buồn về phong tục, tập quán của nhân dân Hoa Kỳ, nó trái ngược hẳn với dân tộc Á Châu nói chung và truyền thống của dân tộc Việt Nam nói riêng.

Ðường lối giáo dục của Chính Quyền Hoa Kỳ chỉ nhắm vào Trí-Dục và Thể-Dục mà không có phần Ðức Dục, ngược lại tập quán của dân tộc Việt Nam từ  ngàn xưa, các cụ tiền nhân đã để lại một nền văn hoá hết sức phong phú nhất là Ðức Dục, phải được đặt lên trên hết. Nền giáo dục cuả Nho giáo, Lão giáo, Khổng giáo và Phật-giáo luôn luôn lấy Ðức Dục làm đầu rồi mới đến Trí Dục và Thể Dục.  Do đó; mọi người trong lúc thiếu thời mới cắp sách đến trường đã được học thuộc lòng câu đầu- tiên là : “Tiên học lễ, hậu học văn” hay với những lời khuyên dậy của Oâng Bà, Cha- Mẹ để lại là : “Có Học mà không có Hạnh hoặc có Tài mà không có Ðức con người đó sống cũng vô dụng đối với gia đình và xã hội”. Những người con gái được giáo dục từ trong gia đình là “Cái nết đánh chết cái đẹp”, phải lấy Tiết Hạnh làm đầu, có nhan sắc đẹp lộng lẫy nhưng cái tính nết lãng mạn, hỗn xược, ăn nói không nhu mì, nhã nhặn, hiền hậu và ý tứ  thì người đó cũng là những kẻ bị mọi người khinh bỉ và ghép cho một danh từ  là “Con nhà vô giáo-dục” Cha Mẹ cũng hổ thẹn với bạn bè, họ hàng và làng xóm.

 Ðức Phật đã dậy cho ta rằng “Hiếu Tâm tức là Phật Tâm, Hiếu Ðạo vô phi  Phật Ðạo” “ Tâm hiếu là tâm Phật, đạo hiếu là đạo Phật” vì vậy mà đạo Phật xác định “cùng cực điều thiện, không có gì hơn hiếu”. Trong nền giáo dục Việt Nam từ  bao thế  hệ trước đây cũng đã đề cao chư hiếu, mà ta khi còn thiếu thời, cắp sách đến trường ta đã được học thuộc lòng bài học :

Công cha như núi thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Thế thì một người có chút lương tri, làm sao lại không biết công ơn sinh thành, dưỡng dục cuả cha mẹ. Mỗi người chúng ta chỉ có một cha, một mẹ sinh ra. Trong kinh  nhà Phật cũng đã truyền lại rằng : Từ  vô lượng kiếp đến nay, chúng ta lang thang trong nẻo luân hồi, bỏ thân này, nhận thân khác, sinh đi sinh lại bao lần. Trong kinh Mục Liên Sám Pháp, Ðức Phật đã nói “. Trong con người ta có mười hai bệnh, bệnh căn sâu nặng không được thấy Phật. A nan hỏi Phật : Ðó là bệnh gì ? Ðức Phật trả lời : “Không kính cha mẹ, đó là một bệnh; ngu si tạo ác; đó là hai bệnh, gian sảo điêu ngoa; đó là ba bệnh, lời nói hại người, đó là bốn bệnh; hay tìm lỗi người, đó là bệnh thứ  năm; giết hại chúng sanh, căn bệnh thứ sắu; không biết hổ thẹn, đó là bẩy bệnh; ham mê sắc dục, đó là bệnh thứ tám; kiêu ngạo  khinh người, đó là chín bệnh; phạm tội không hối, là bệnh thứ  mười; khen mình chê người, là bệnh thứ mười một; không biết lợi hại, là bệnh thứ mười hai”. . .Chúng ta nên tâm niệm lời Ðức Phật nêu trên, để lấy đó làm kim chỉ nam cho mình, tự  tu sửa hàng  ngày hầu loại trừ  được những căn bệnh như lời Phật dậy. Ta sẽ trở thành người tốt.

Mỗi năm cứ gần  đến ngày trăng tròn tháng 7 âm lịch và cũng là cuối mùa hạ, bắt đầu sang thu, lá vàng rụng xuống, lá xanh trồi lên, bông hoa lá bắt đầu chớm nở, său một mùa oi bức nóng nực của cái nắng mùa  hè. Thời tiết thay đổi,  lòng người cũng đổi thay  để chuẩn bị lễ Vu Lan, đó là mùa báo ân cha mẹ, lễ VULAN đã truyền lại từ  ngàn xưa có Ðức Mục Kiền Liên là tiêu biểu, gương mẫu, suốt cả nghìn đời mà Ðức Phật đã để lại cho hàng Phật Tử   lấy đó làm gương noi theo. Nhưng bây giờ ngày lễ Vu Lan không còn là một đặc thù riêng của người Phật Tử, mà là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người, không phân biệt tôn giáo, đảng phái hay bất cứ một tổ chức nào, từ các thánh hiền đến người thường dân, đã là con người ai cũng có cha, mẹ sinh ra, chính cha, mẹ đã san sẻ một phần mắu, thịt để tạo nên hình hài của mỗi người con. Tình thương của cha mẹ đối với con là thứ  tình thương tuyệt vời, không bút nào tả xiết, không có bất cứ tình thương nào trên cõi đời này có thể so sánh được. Do đó; báo  hiếu cha mẹ chính là nghĩa vụ cao quý, thiêng liêng nhất, mà không nghĩa vụ nào bằng.

Dân tộc Việt Nam từ  ngàn xưa đã truyền lại, để nhắc nhở cho các con chắu của các thế hệ său này phải lấy chữ “HIẾU” làm đầu, vì công ơn mẹ cha thăm thẳm như trời cao, vằng vặc như sông dài, rực rỡ như mặt trời, tỏ rõ như ánh trăng rằm. Lúc thiếu thời tôi đã đươc học thuộc lòng các câu ca dao, truyền bá trong dân gian như său:

“Ơn cha cao như núi thái sơn
Ðức mẹ hiền sâu rộng bể khơi
Dù cho dâng cả một đời
Cũng không trả được ơn trời sinh ra”.

Còn có những câu ru con cuả các bà me :

dậy con từ thuở còn thơ như :
“Ru hời, ru hỡi, ru hơi
Công cha như núi ngất trời
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông
Núi cao, biển rộng mênh mông
Làm con trước phải đền công sinh thành”.

Hay là :

 “Ðố ai đếm đươc lá rừng
Ðố ai đếm được mấy tầng trời cao
Ðố ai đếm được những vì sao
Ðố ai đếm được công lao mẹ hiền”.

Sẵu đây người viết bài này xin ghi lại một đoạn truyền khẩu trong thế kỷ thứ 10-13 về tình thương con qua Phạm Công Cúc Hoa, với tác phẩm sâu xa và truyền cảm nhất. Tác phẩm đưa ra cảnh tình mẫu tử, cảnh mẹ ghẻ, con chồng, cảnh hối caỉ của kẻ ác độc đúng là :

Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng.

Theo học giả Ðào Duy Anh và Ðặng Thái Mai (tư liệu Văn Học Bình Dân 1976) thì truyện này dựa theo một truyền thuyết Aán Ðộ thời Raja Varman đệ tam. Nàng Cúc-Hoa bị bạo bệnh, lâm chung để lại 2 đưá con thơ dại : Một trai tên là Tấn Lực, còn một gái tên là Nghi Xuân. Trong khi Phạm Công được Vua Lý (?) đưa đi trấn nhiệm ở vùng thượng du (sách chép lại tại Cao Bằng) để đánh dẹp loài thảo khấu, cường độ thường quấy phá, trong khi đó người vợ kế (là Tào Thị) ở nhà, thì lại hành hạ hai đứa con chồng quá tàn nhẫn. Hai trẻ không chịu nổi, đành bỏ nhà ra đi. Nhưng đi đâu ? Chúng còn quá nhỏ dại. Nghi Xuân, Tấn Lực quá bé thơ, său 10 ngày lang thang, đói khổ thì tìm ra ngôi mộ của mẹ mình ngày trước.  Tâm sự của đôi trẻ thật đáng thương tâm :

“Ðoái nhìn thấy mả Cúc Hoa
Ngậm ngùi nhớ mẹ - Châu sa ròng ròng.

Hai anh em chỉ còn biết ngồi khóc ròng, hết canh một, thì bỗng nhiên, có sự kiện xẩy ra :

Cúc-Hoa phách quế, hồn ma,
Lòng thương con dại aí hoài xót xa
Bên mồ : Nàng hiện hồn ra,
Oâm con, than thở, xót xa tấm lòng.
Bấy lâu, mẹ những nhớ trông,
Con ơi ! Có biết mẹ trong mả này !”

Hai anh em Nghi Xuân - Tấn Lực bèn kể tất cả đàu đuôi câu truyện cho mẹ nghe. Từ khi mẹ chết, Phạm Công lấy Tào Thị. Rồi thái độ khắc nghiệt, ác độc cuả người dì ghẻ..”Ăn thì bữa đói bữa không. Suốt ngày hành hạ ra nông nỗi này !”

Cúc Hoa đău xót vô cùng :

 “Cúc Hoa nghe nói, lệ sa !
Nhìn đôi con dại,  nghĩ mà đớn đău ...
Bồng con cho bú hồi lâu,
Càng thương con trẻ –
càng sầu tình xưa.”

Chẳng bao lâu, mẹ con bịn rịn, thì thời gian cũng đã trôi qua. Trời cũng vừa lúc sáng - Cúc Hoa đành phải giã từ :
Chúc con, ở lại bình an,
Mẹ về Âm cảnh đôi đàng cách xa.

 Tấn Lực - Nghi Xuân bấy lâu nay xa cha, thiếu tình mẹ, nay lại được gặp (dù chỉ là hồn mẹ hiện về) vuốt ve âu yếm, thì không muốn xa cách nữa :

 “ Nghi Xuân ôm mẹ khóc oa,
Mẹ ơi, sao nỡ, chối mà bỏ đi !”

Thời gian đã hết. Cúc Hoa không thể nào lưu lại. nàng đành giỗ con :

Hai con quay mặt trở ra
Cho mẹ bắt chí, rồi mà chia ly
Hai con vâng lệnh một khi,
Cúc Hoa vội vã, biến thì mất tung”.

Hai con Nghi Xuân - Tấn Lực thì vậy.  Ðến cả Phạm Công  chồng nàng cũng được báo mộng :
Chàng ơi ! sao bỏ lời thề ,
Hai con thơ dại, lất lê dọc đường
Suốt ngày hành khất thảm thương
Ai gây nên nỗi đọan trường thế kia ?

Phạm Công đã hiểu mọi sự : Chính Tào Thị đã đầy đọa, hành hạ hai đứa con mình :

“Trẻ thơ, có tội tình chi.
Cớ sao ăn ở bất nghì thế kia.
Thì thôi cắt nghĩa xướng tuỳ,

Nếu không cải tính, còn gì gia phong !Tào Thị phải cho người đi tìm hai đứa con chồng trở về, thay đổi cách cư xử, nếu muốn xum họp với Phạm Công. Thật ra, tất cả các tác phẩm tình cảm trên thế giới, không có một tác phẩm nào diễn tả tình cảm của người mẹ đối với con sâu sắc và tràn đầy tình thương như vậy.  Vu  Lan  mùa Báo Hiếu, đây là cơ hội để cho các con chắu, mỗi năm một lần báo hiếu mẹ cha, người Mỹ họ có ngày Father’s day, Mother’s day, còn Việt Nam mình có cả một mùa Vu Lan để báo ân  Ong Bà, Cha Mẹ, mà còn là dịp để thực hiện các công-đức khác bằng cách xin lễ  cầu siêu ở các chùa cho các vị tiền nhân quá vãng được siêu sinh, tịnh-độ, vĩnh viễn thoát khỏi cảnh trầm luân, và những người còn sống được Trượng thừa công  đức, Tam bảo gia ân, thân tâm khang thái, gia đình thịnh vượng, được sống trong cảnh yên vui hạnh phúc. Ngoài ra, cũng trong mùa báo hiếu, mọi người phải phát tâm cúng dường. Về công đức cúng dường Ðức Phật đã dậy khá rõ ràng trong kinh Vu-Lan.  Tôi xin dẫn giải một vài đoạn để quý độc giả cùng suy ngẫm và noi theo :”Ðức Phật đã huấn thị cho Vua Ba Tư Nặc, khi vua bạch với ngài : Bạch Thế Tôn từ  nay con cấm người ngoại đạo vào lãnh thổ cuả con, con xin cúng dường chư tăng tất cả những thứ  cần dùng “ Phật dậy : “Ðại Vương đừng nói như vậy, cho các sinh vật khác còn được phước huống chi là cho người ngoại đạo, hãy cho đúng lúc, cho với tâm thanh tịnh, cho một cách giải thoát chứ  không cần được phước báo hay trả ơn, cho để được niết bàn chứ không cầu sinh cõi trời, cho rồi đem cái công đức ấy hồi hướng cho tất cả mọi loài, mọi người chứ không  cầu riêng cho mình”.

Ðức Phật còn dậy cho Sư Tử Trưởng Giả về phước báo của hạnh bố thí bình đẳng, khi ông đến bạch với ngài :” Bạch Thế Tôn con nghe Thế Tôn dạy hãy bố thí bình  đẳng, do đó khi bố thí con không có lòng lựa chọn phải trái, cao thấp, con cúng dường và bố thí cho tất cả, hễ ai giữ  được giới thì phước bắu vô cùng , ai phạm giới thì tự  chịu tai họa, con chỉ nghĩ ai cũng phải ăn mới sống.  Ðức Phật ; “Ðó là cái nguyện rộng rãi, cái tâm bố thí của Bồ Tát Trưởng Giả đã theo đúng đường lối của hạnh Bồ Tát,  hãy bố thí bình đẳng thì phước đức vô tận.”

Theo quan niệm của người Việt Nam bình dân cho là :

Tu đâu không bằng tu nhà.
Thờ Cha kính Mẹ mới là chân Tu..

Trong dân gian cũng đã truyền tụng tình mẫu tử như sau :

Mẹ cho con tất cả
Hết quãng đời tuổi xanh
Cả thương yêu dịu ngọt
Rộng hơn biển ttrời xanh.

Trên đây tôi dẫn giải mấy đọan của Ðức Phật truyền dậy cho các hàng Phật Tử liên quan đến ngày lễ Vu Lan và một vài quan  niệm theo dân gian Việt Nam. Vậy chúng ta là hàng Phật Tử  phải lấy đó làm kim chi nam cho bản ngã đã có trong tâm đạo, để thực thi cho cuộc đời cuả mình.

Ðây cũng là một dịp để cho mọi người con có dịp đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục cuả Mẹ Cha và cũng có cơ hội biểu lộ tinh thần hiếu thảo. Mọi người chúng ta dốc lòng  làm tròn  bổn phận của người con hiếu hạnh./.

Cư Sĩ  Nguyễn Ðức Can
Tel & Fax : (714) 896-0786
E-Mail : ndcan2000@yahoo.com 
 


Ý NGHĨA ĐẠI LỄ VU LAN
 Cư Sĩ : Nguyễn Đức Can

Hằng nàm  cứ gần đến ngày rằm (15) tháng bẩy âm lich thi tôi lại nhớ đến những kỷ niệm của thời thơ ấu. Lúc đó tôi thấy các cụ trong dân làng thường cúng ở ngoài cổng làng và các ngã ba đường, tôi thấy cúng toàn các bánh kẹo và nấu cháo đổ vào các lá đa đã được cuộn tròn lại,  đổ cháo vào trong đó mang cắm dọc hai bên đường, nhang đèn và vàng mã để cúng cô hồn, đó là những linh hồn của những người chết đói hoặc chết oan uổng không có nơi nương tựa thường hay vất vưởng ở ngoài những nơi hoang vu. 

Đó là truyền thống của dân gian từ ngàn xưa. Nhưng hôm nay tôi đã được đọc và nghiên cứu các kinh sách Phật Giáo cũng như truyền thống dân tộc tôi thấy mục đích có phần giống nhău nhưng hình thức tổ chức và ý nghĩa khác nhău với trình độ hiểu biết của người dân và Phật Tử có sự ø tiến bộ hơn. Do đó, tôi xin cống hiến quí độc giả bốn phương và nhất là người Phật Tử hiểu rõ vể “Ý Nghĩa của ngày Lễ Vu Lan Bồn” nhân dịp đại Lễ Vu Lan năm nay.

Danh từ Vu Lan là phiên âm từ chữ Phạn Ullambana, người Trung Hoa dịch là Giải Đảo Huyền, có nghĩa là giải cứu tội khổ bị treo ngược. Người Trung Hoa còn gọi lễ này là VU LAN BỒN, chữ Bồn nghĩa là chậu đựng thức ăn dâng cúng. Vậy lễ Vu Lan hay Vu Lan Bồn có nghĩa là lễ dâng cúng thức ăn lên Tam Bảo để xin chú nguyện cho ông bà, cha mẹ những người quá cố trong bẩy đời gọi là cửu huyền thất tổ, nếu ai đã làm những điều tội lỗi ở trần gian, khi ngủ dấc ngàn thu thì bị đầy vào địa ngục, sẽ được nhờ ân đức Tam Bảo được thoát khỏi cảnh địa ngục, được sanh về các cõi an lành khác. 

Trong dân gian dựa vào đó, nên có một niềm tin vào các vong hồn  bị đầy đọa vào cảnh ngục tù ở dưới âm phủ đã được cứu thoát ra khỏi địa ngục, nên các vong hồn này đang đói ăn, khát uống, bởi vậy người trên trần gian có bổn phận mua sám các lễ vật, thức ăn, cúng các vong linh đang bơ vơ đói khát. Nhưng đây chỉ là một ý nghĩa còn ý nghĩa quan trọng hơn hết đó là lòng hiếu thảo của những người con đối với các bậc sinh thành. 

Dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã truyền lại, để nhắc nhở cho các con chắu của các thế hệ său này phải lấy chữ “HIẾU” làm đầu, vì công ơn mẹ cha thăm thẳm như trời cao, vằng vặc như sông dài, rực tỡ như mặt trời, tỏ rõ như ánh trăng ràm. Lúc thiều thời tôi đã được học thuộc lòng các câu ca dao, truyền bá trong dân gian như său :

“Ơn cha cao như núi thái sơn
Đức mẹ hiền sâu rộng biển khơi 
Dù cho dâng cả một đời 
Cũng không trả được ơn trời sinh ra.”

Hay là 
Công cha như núi thai sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đức Phật đã dậy cho ta ràng : “Tâm hiếu tức là Phật tâm. Hiếu Đạo vô phi Phật Đạo”. Tâm hiếu là tâm Phật, đạo hiếu là đạo Phật.” vì vậy mà đạo Phật xác định : Cùng cực điều thiện không có gì hơn hiếu, cùng cực điều ác không có gì hơn bất hiếu.

Trong các hàng đệ tử của Đức Phật có Ngài Mục Kiền Liên tiêu biểu cho sự hiếu thảo vô biên, nên còn được tôn xưng là “Đại Hiếu Mục Kiền Liên”, ngài có thần thông cao nhất trong số 10 đại  đệ tử  đầu tiên của Đức Phật.. Ngài đã chứng đươc sắu phép thần thông : 1)-Thấy mọi vật trong vũ tru. (thiên nhãn thông). 2)-Nghe được mọi thứ tiếng ở kháp nơi, (thiên nhĩ thông). 3)-Biết chuyện đời trước, hiện tại và său này của mình cũng như của mọi người, (túc mạng thông)- 4)-Biết trong lòng người khác đang nghĩ gì, (tha tâm thông). 5)-Biết đi đến khắp nơi, biến hóa nhanh như chớp mắt, (thần túc thông). 6)-Trong sạch hoàn toàn, dứt bỏ hết các trìu mến, không còn chấp ngã. (lậu tận thông).

Một hôm Ngài nhớ đến mẹ, ngài dùng thiên nhãn thông tìm thấy mẹ sanh vào ngã quỉ, không được ăn uống, ngài đem cơm vượt qua chín tầng địa ngục để dâng cho mẹ, bà Thanh Đề lòng vẫn còn bủn xỉn, lấy tay trái che miệng bát cơm, tay phải bôc cơm ăn, nhưng cơm chưa đưa tới miệng thì cơm hóa thành lửa, ăn không được. Ngài Mục Kiền Liên trở về Bạch với Phật. Đức Phật dậy rằng, tội của bà Thanh Đề quá nặng. Mục Kiền Liên “tự lực” không thể cứu được, muốn cứu mẹ, con phải nhờ đến “ tha lực” của mười phương chư tăng mới giải thoát được, muốn được vậy phải làm như său :

Đến ngày rằm tháng bẩy là ngày mãn hạn tự tứ của chư tăng, hãy vì ông bà, cha mẹ  bẩy đời nhiều kiếp hay các bậc sinh thanh hiện tiền, vì những người đang trong vòng tai nạn, sám sửa trai soạn, hương hoa và thức ăn tịnh soạn để vào trong BỒN, dâng cúng cho các chư tăng, và lập đại giới đàn để các chư Tăng nhất tâm đảnh lễ cùng hiệp lực cầu nguyện chư Phật mười phương, thì mới giải thoát được cho mẹ. 

Đức Mục Kiền Liên vâng lời Đức Phật dậy về làm y như thế , Bà Thanh Đề liền được thoát khỏi kiếp ngã quỉ, được sanh lên cõi trời. Do đó, Đại lễ Vu Lan xuất phát từ thời gian đó cho đến ngày nay hàng năm cứ đến ngày rằm tháng bẩy là mọi người dân Việt, nếu những ai hiểu và sống trong một gia đình có truyền thống dân tộc thì đều tham gia tổ chức lễ Vu Lan để có dịp báo ân sinh thành, cha mẹ hiện tiền, cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà đã quá vãng được siêu sanh cực lạc quốc và xoá tội vong nhân.

Theo truyền thống của Phật Giáo hàng năm quí chư Tăng, Ni nhập hạ trong thời gian ba tháng kể từ ngày Đản Sanh của Đức Phật cho đến ngày rằm tháng bẩy âm lịch với mục đích vân tập về một nơi để tu tập đó là mùa kiết ha trong dịp ba tháng kiết hạ có dịp ôn tập lại các giới luật, tu tập đạo hạnh và tu học kiến thức phật pháp. ngày hạ nạp (mãn hạ)  gọi là ngày Tự Tứ có nghĩa là Pravaranà (thuật ngữ) tiếng Phạn là Bát-thích-bà cách dịch cũ là Tự tứ, cách dịch mới là Tuỳ ý. Nghi thức vào ngày cuối cùng của thời kỳ an cư kiết hạ, ngày đó mọi ngưiời đều tự nêu ra các tội lỗi mà mình đã mác phải (tự kiểm) trước các tỳ kheo khác và tự xám hối nên gọi là Tự Từ.. 

Trên đây là ý nghĩa của ngày lễ Vu Lan, một ngày lễ quan trọng của dân tộc Việt Nam và nhất là những người phật tử cần phải thể hiện ra chữ  “HIẾU” trong dịp đại lễ Vu Lan hàng năm để đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ hiện tiền và cửu huyền thất tổ nhiều đời nhiều kiếp của mỗi người con hiếu hạnh../. 

Cư Sĩ, Tuệ Minh Đạo NGUYỄN ĐỨC CAN

MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap