ĐẠO
HIẾU TRONG NHÀ THIỀN
TT.
Thích Minh Thông
Từ
khi lạy biệt mẹ cha, từ giã xóm làng bà con thân thuộc,
người chọn con đường xuất gia học đạo lòng chỉ ôm ấp
một mối là mau chóng thành tựu sự nghiệp trí tuệ để
làm lợi ích quần sinh. Song con đường bừng sáng cõi tâm
linh xa hay gần, mau hay chậm tùy thuộc vào nghiệp lực và
khả năng công phu của mỗi người. Để trở thành người
học đạo vững chãi, có năng lực vượt thoát những trần
lao phiền não, có đời sống thanh tịnh vô nhiễm thì ngoài
nội lực tự thân ra còn chịu tác động bởi những người
chung quanh, trong đó phải kể đến Thầy, người trực tiếp
theo dõi quá trình gội rửa phàm tính của học trò để chuyển
thành đời sống của một người xuất gia học đạo.
Vừa
được vào trong biển Phật pháp, Thầy là người đưa cánh
tay ra nâng đỡ em đầu tiên. Nếu "đồng chơn" nhập đạo,
nghĩa là em vào chùa lúc còn nhỏ tuỗi thì Thầy phải vất
vả đóng vai một người mẹ coi sóc sự ăn sự ngủ, tập
cho em lời ăn tiếng nói, cử chỉ oai nghi ; phải đóng vai
người cha để dỗ dành lúc em bất hòa huynh đệ hay nghiêm
trị khi lơ đễnh biếng lười. Cũng từ việc làm trách nhiệm
của những bậc cha mẹ, nhưng thầy đã khéo léo đưa em vào
khuôn phép của một người học đạo nơi chốn nhà thiền.
Tâm hổn em nhờ thế mà ngày một lớn lên. Hai mươi tuỗi,
nếu hạnh kiểm và công phu tu tập của em khả dĩ thì thầy
sẽ cho em thọ giới Cụ túc, một giai đoạn chuyển mình quan
trọng và khẳng định sự trưởng thành trong em. Từ ấy em
càng được thầy quan tâm và nhắc nhở thường xuyên hơn,
vì em còn phải học ở Thầy rất nhiều về những điều
giới mà em đã lãnh thọ, để em ý thức được giá trị
quan trọng của giới luật mà hết lòng tuân thủ. Trong mỗi
tư thái dung nghi, cách tiếp xúc ứng xử của thầy đều là
những bài học rất cần thiết cho em sau này. Nếu như cha
mẹ cho em đôi mắt đẹp để nhìn đời thì thầy cho em đôi
mắt chánh kiến để đi vào đạo. Đây là một thứ tài sản
quý báu mà em phải trân kính giữ gìn, đừng bao giờ để
những tà thuyết dụ dẫn tạp nhạp làm lu mờ. Từ những
bài giáo lý vỡ lòng đến những chân lý cao siêu Đại thừa,
sự lãnh hội của em đều có sự kiểm chứng của thầy.
Suốt thời gian ở gần bên thầy, những nội kết, khúc mắc
tâm tư của em đều phải nhờ thầy tháo gỡ. Sở đoản,
sở trường của em bao giờ thầy cũng biết để kịp thời
chỉnh lý và nâng đỡ cho em tiến bộ. Thật vậy, sự thịnh
suy của Phật pháp có liên quan mật thiết đối với việc
giáo dục đệ tử của những bậc làm thầy. Đức Thế Tôn
đã từng răn nhắc : "Thà làm một tên đổ tể gây nghiệp
sát hại chứ không thu nhận đệ tử xuất gia mà không biết
dạy dỗ , khiến cho chánh pháp vì thế mà sớm bị diệt vong".
Làm Thầy quả thật khó hơn làm cha mẹ nhiều lắm. Nếu cha
mẹ sinh con mà không có khả năng giáo dục hay chỉ dạy con
mình đến chừng ấy nên người thì sẽ bị láng giềng cười
chê, hoặc không mang được lợi ích cho xã hội. Song, làm
Thầy mà không có trí huệ, không đủ sức để mở con mắt
chánh kiến cho đệ tử là gián tiếp trợ sức cho ma quân
tiêu hoại Phật pháp và trực tiếp nhận chìm đệ tử mình
xuống ác đạo muôn kiếp triền miên. Tội nghiệp như thế
đương nhiên là nặng hơn tên đổ tể tạo nghiệp sát sinh
chỉ chịu quả báo trong một đời gây ác nghiệp mà thôi.
Thế nên trong luật nghi qui định đủ 10 hạ mới được thu
nhận đệ tử xuất gia và một năm chỉ nên nhận một người
để dạy dỗ cho tốt. Phương pháp này xem ra có vẻ khe
khắt quá ! Song, rèn luyện một con người trở thành có ích
đã là khó, mà chuyển hóa một con người từ nghiệp nặng
sâu dày, thay đỗi chất để trở thành một bậc mô phạm
cho đời quả là lao công khỗ lực. Hiện nay có nhiều trường
Phật học mọc lên, có thể thay những vị Thầy bổn sư đào
tạo những chổi xanh cho Phật pháp, nên làm Thầy có thể
thâu nhận nhiều đệ tử hơn. Dù vậy, những Tăng Ni sinh
đến trường thường rời vòng tay bảo hộ của Thầy quá
sớm, rất dễ có cơ hội sa ngã và hư hỏng. Nhà trường
Phật học dù cố gắng hết sức mà vẫn không thể nào kiểm
soát nỗi tư tưởng từng Tăng Ni đối với Thánh giáo đã
truyền đạt, càng không thể chăm sóc chu đáo cho từng cá
nhân mang "bệnh tật". Cho nên trách nhiệm làm thầy không thể
đưa đệ tử của mình đến trường Phật học rồi qui tất
cả trách nhiệm cho nhà trường. Đó là chưa nói đến những
bậc thầy không quan tâm đến việc tu học của đệ tử,
chỉ biết cung cấp những phương tiện cho nhu cầu sinh hoạt
mà không hề lo lắng đến sự tiến bộ hay lui sụt. Có khi
trong quyết định học thế học của đệ tử mà thầy vẫn
hoàn toàn không biết ! Có khi thấy đệ tử có được mảnh
bằng thế tục trên tay thì tỏ ra hãnh diện và khuyến khích
nữa là đằng khác. Thầy quên luôn cả việc chu cấp chi phí,
để đệ tử nhẹ dạ yếu lòng tìm đến sự giúp đỡ của
người, tin người, thọ ân với người, rồi khi hoàn tất
khóa học phải khăn gói "làm dâu làm rể", hoặc con nuôi hay
em nuôi nhà người. Đệ tử vì vậy mà oán giận thầy, vĩnh
viễn không muốn về gặp thầy nữa (?).
Tốt
nghiệp một khóa học, khi nhìn lại thì không bao nhiêu Tăng
Ni được xếp vào loại ưu tú để phân bố công tác Phật
sự. Ưu tú là phải kiện toàn cả tài lẫn đức. Tăng Ni
không ưu tú vì ngại về gặp thầy tỗ nên lang thang đây
đó khắp tự viện để rồi tìm một chỗ an thân. Thầy ở
quê xa nào có hay biết gì, chỉ tin đệ tử ở đô thị học
hành chắc thế nào cũng hơn đệ tử người ta...! Trách nhiệm
làm thầy đâu chỉ dừng lại ở đấy, thời gian phía sau
mới bắt đầu ảnh hưởng tốt xấu đến Phật pháp. Lỡ
không may người đệ tử vì bị ảnh hưởng sâu cứng bên
ngoài mà trở lại tìm mùi thế tục, tập tành nếp sống
xa hoa trụy lạc, đã không tuyên dương được Thánh giáo đôi
khi còn là tà kiến phân biệt chê bai. "Giáo bất nghiêm, sư
chi đọa". Phật giáo nếu vì những người đệ tử như thế
mà bị người đời chê khinh, hay hư thủng giềng mối thì
tất cả trách nhiệm sẽ thuộc về thầy.
Bộ
Căn bản tạp sự ghi : "Có người nương tựa nơi thầy, xuất
gia trong giáo pháp của Phật, tâm hồn trong trắng đầy đủ
lòng tin, gọi là xuất gia như pháp. Người ấy đối với
thầy, cho đến trọn đời tứ sự cúng dường, cũng chưa
có thể trả hết được" . Thế mới biết chữ hiếu trong
nhà thiền đã đặt nặng vào bổn phận của người đệ
tử trong quan hệ sư đồ. Pháp thờ thầy em đã được học
ngay từ khi còn làm Sa di. Đó là khi em còn nhỏ, chưa thấm
tương chao, em chưa quen hành xử cho hợp với đạo. Khi thọ
đại giới là coi như em đã lớn khôn rồi, nhưng thật ra
còn rất nhiều điều em phải kề cận thọ học với thầy.
Năm năm ở bên thầy mà em vẫn chưa đủ lớn để tự mình
định hướng tương lai thì không nên rời thầy sớm. Nên
nhớ là em không chỉ có bổn phận đối với thầy bổn sư
thôi (thầy xuất gia kiêm Hòa thượng truyền thập giới, kiêm
luôn HT Đàn đầu truyền giới Cụ túc), mà còn phải thờ
kính thầy A-xà-lê, vị thầy y chỉ vô cùng quan trọng. Ngày
nay, vấn đề thọ đại giới có khác nên có khi em cũng chẳng
biết Hòa thượng Đàn đầu là ai ? Ở đâu ? Hoặc có biết
nhưng không quan tâm đến việc phụng sự phép tắc vì em đâu
ngờ rằng vị Hòa thượng ấy mới đúng danh nghĩa là vị
thầy
bổn sư của em, là người sinh ra giới thân cho em.
Thời
nay, việc học hành được dễ dàng và tiện nghi hơn nhiều
so với thời của những bậc làm thầy còn ôm gói tha phương,
tìm sư học đạo. Chính vì mọi thứ đã trở nên thuận lợi
nên các em đâm ra hư hỏng, quên đi phép tắc kỷ cương, khinh
khi thầy tỗ. Em xin thầy lên tỉnh thành tham dự vào các lớp
Phật học để mở mang kiến thức cho "kịp với người ta".
Thầy rộng lòng ưng thuận, rồi năm tháng chắt chiu tiền
bạc để cung cấp cho em đi học phương xa, lòng chỉ nuôi
mơ ước nho nhỏ là sau khi thành đạt em sẽ trở về giúp
thầy cán đáng mọi việc trước sau trong bản tự. Được
một thời gian, xem như công thành danh toại, lâu lâu về thăm
chùa em nỡ lòng chê thầy cũ quê hèn, ăn nói thô kệch, cố
chấp luật nghi...Có khi em còn dám lên mặt chỉnh sai, đối
đáp dùng luôn cả ngoại ngữ cho thầy ngớ ngẩn ra rồi giễu
cợt cười đùa. Có khi em ở biệt luôn đô thị, chê chùa
nhỏ thầy quê không chịu về báo đáp một ngày, để những
bậc thầy tội nghiệp cứ ngày ngày ngóng chờ đứa đệ
tử đã hết lòng tin tưởng... Còn biết bao tệ nạn xảy
ra dẫy đầy trong quan hệ sư đồ giữa chốn thiền gia hiện
nay, nghe qua xót xa biết chừng nào !
Khinh
Sư thì ắt sẽ diệt Tổ, lời người xưa không phải không
căn cứ. Giờ em tỏ ra không hiếu thuận thờ thầy, thì tương
lai thế nào gia tài của Đức Thế Tôn để lại em cũng làm
cho khánh tận chẳng còn gì, mạng mạch Phật pháp chắc sẽ
nghẽn tắc ngay từ thế hệ của em bước tới.
Quan
hệ thầy trò trong nhà thiền quả là một đạo lý tối cần
thiết để sản sinh ra những bậc chân tu. Xin thắp nơi đây
một ngọn nến lung linh từ niềm thao thức của cõi tâm thức
diệu huyền, mong sao đạo hiếu trong chốn nhà thiền mãi mãi
được đón nhận, tôn thờ và trường tồn cùng với mạng
mạch Phật pháp.
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan