VOI
CHÚA HIẾU DƯỠNG MẸ
Nguyên
Tâm Trần Phương Lan
Dịch
theo bản tiếng Anh của Hội Pàli Text Society Lodon
Câu
chuyện này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Jetavana (Kỳ
Viên) về một Tỳ kheo còn mẹ phải cấp dưỡng. Nhân dịp
này, bậc Đạo Sư nói chuyện với tăng chúng, Ngài bảo :
"Này các Tỳ kheo, chớ giận người này; ngày xưa bậc hiền
trí ngay khi còn ở kiếp súc sanh mà bị xa lìa mẹ, cũng không
chịu ăn uống gì, cho nên cứ héo mòn dần cho đến lúc gặp
lại mẹ". Nói vậy xong, Ngài liền kể lại một câu chuyện
quá khứ.
Một
thủa nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Benares (Ba La Nại),
Bồ-tát thọ sanh làm Đại Tượng ở vùng Tuyết Sơn (Hymalaya).
Toàn thân voi màu trắng thật tuyệt mỹ, Ngài là chúa đầu
đàn của tám mươi ngàn con voi vây quanh Ngài; song mẹ Ngài
bị mù. Ngài thường đưa cho bầy voi những quả rừng thật
ngon ngọt, để đem về dâng mẹ. Tuy nhiên chúng chẳng cho
voi mẹ chút nào mà chúng ăn hết cả. Khi Ngài hỏi thăm và
biết được chuyện ấy, Ngài bảo :"Ta muốn rời đàn để
nuôi dưỡng mẹ ta". Thế là vào một đêm thuận lợi, các
voi kia không biết, Ngài đem mẹ cùng đi đến núi Candora; tại
đó Ngài để mẹ trong một hang dưới đồi, gần một hồ
nước và chăm sóc mẹ thật chu đáo.
Lúc
bấy giờ một người thợ rừng ở Ba-la-nại đi lạc đường,
không thể nào kiếm lối ra được, nên bắt đầu than khóc
ầm ĩ. Nghe tiếng ồn này, Bồ-tát nghĩ thầm :"Có một người
đang cơn hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà người ấy gặp
tai họa thật không hợp lý". Vì thế, Ngài đến gần gã,
song gã vội chạy trốn vì kinh hãi. Thấy vậy, voi chúa bảo
gã :"Này người kia, ngươi không cần sợ ta. Đừng chạy trốn,
mà hãy nói tại sao ngươi cứ đi quanh mà khóc lóc ?" - "Tâu
chúa tể, tiểu tử lạc đường đã bảy ngày qua".
Chúa
voi bảo :"Này ngươi đừng sợ, vì ta sẽ đưa ngươi ra đường
cái của dân chúng". Sau đó Ngài bảo người ấy ngồi lên
lưng Ngài, và mang gã ra khỏi rừng, xong trở về.
Song
con người độc ác này lại quyết vào thành báo cho vua biết.
Vì thế gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi, rồi tiến
về Ba-la-nại. Lúc ấy vương tượng của nhà vua vừa qua đời.
Nhà vua cho truyền lệnh bằng một chầu trống :"Nếu kẻ nào
thấy ở?nơi đâu có con voi xứng đáng cho Hoàng Thượng ngự
lên thì hãy báo ngay ! ". Thế là người này xin triều kiến
nhà vua và nói :"Muôn tâu chúa thượng, hạ thần đã thấy
một con voi tuyệt mỹ, một bạch tượng tối thắng, xứng
đáng để Chúa thượng ngự. Hạ thần xin chỉ đường, song
xin đưa các người quản tượng cùng đi với hạ thần và
bắt voi". Nhà vua chấp thuận, cho một người thợ rừng cùng
đi với gã và một đoàn tùy tùng đông đảo.
Người
cùng đi với gã ấy bắt gặp Bồ-tát đang ăn uống trong hồ
nước. Khi bồ tát thấy người thợ rừng kia, Ngài suy nghĩ
:" Mối hiểm họa này chắc chắn chẳng phát xuất từ ai khác
ngoài gã kia. Song ta rất mạnh, ta có thể đánh tan tành cả
ngàn con voi, trong cơn thịnh nộ, ta lại có khả năng tiêu
diệt hết đoàn voi cầm quân của một vương quốc. Tuy thế,
nếu ta bị lòng phẫn hận lôi cuốn thì công đức của ta
sẽ bị tổn hại. Vì vậy, hôm nay ta sẽ không nổi giận,
cho dù bị gươm giáo đâm vào mình". Vớ? quyết định này,
Ngài đứng bất động, đầu cuối xuống.
Người
thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ mỹ lệ của
các chóp ngà voi, gã bảo :"Này con, hãy đến đây !". Rồi
vừa nắm lấy vòi voi giống như nắm lấy một sợi dây thừng
bằng bạc, gã vừa dẫn voi đến thành Ba-la-nại trong vòng
bảy ngày.
Khi
mẹ Bồ-tát thấy con mình không trở về, bà nghĩ chắc hẳn
đã bi quan quân nhà vua bắt rồi. Bà than khóc :"Giờ đây cây
cối vẫn mọc lần, song con ta đã đi xa rồi". Và bà ngâm
hai đoạn kệ : Dù cho voi ấy phải đi xa,
Dược
thảo thiện lành vẫn mọc ra,
Lúa,
cỏ, trúc đào cùng huệ trắng,
Kèn
xanh chỗ khuất vẫn ra hoa
Tượng
vương hẳn đến tận nơi cao
Sung
túc nhờ bao kẻ quý cao.
Trang
điểm ngọc vàng vua chúa cởi
Dũng
thắng thù nhân mặc giáp bào.
Bấy
giờ người luyện voi, trong lúc còn đang đi đường, đã gởi
về một tờ sớ dâng vua. Nhà vua bèn ra lệnh trang hoàng kinh
thành thật đẹp. Người luyện voi dẫn Bồ-tát vào cái chuồng
đã được tô điểm bằng đủ loại dây tua cùng các vòng
hoa, rồi vây quanh chúa voi một bức màn màu sắc rực rỡ,
xong tâu trình nhà vua. Nhà vua đem đến các món cao lương mỹ
vị và bảo đưa cho Bồ-tát. Song Ngài không ăn một chút nào
:"Nếu không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì cả", Ngài bảo.
Nhà vua vừ? van nài Ngài ăn, vừa ngâm kệ thứ ba : Ăn đi
một miếng hỡi voi này,
Đừng
để tàn phai với úa gầy.
Phụng
sự nhà vua còn lắm việc
Mà
voi đảm trách một mai đây
Nghe
thế Bồ-tát liền ngâm kệ thứ tư :
Không,
bên ngọn núi Chiên-đồ-la
Khốn
khổ bà kia, mắt tối lòa,
Nơi
gốc cây rừng, chân dậm xuống,
Vì
không voi chúa, ấy con bà.
Nhà
vua ngâm kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời Ngài :
Ai
bên kia núi Chiên-đồ-la,
Khốn
khổ là ai, mắt tối lòa,
Nơi
gốc cây kia, chân dậm xuống
Vì
không voi chúa, ấy con bà ?
Voi
chúa đáp lời qua kệ thứ sáu :
Mẹ
tôi bên núi Chiên-đồ-la,
Khốn
khổ, mù lòa, thật xót xa,
Nơi
gốc cây kia chân dậm xuống
Vì
tôi vắng bóng, ấy con bà.
Khi
nghe vậy, nhà vua liền cho Ngài được tự do, và ngâm kệ
thứ bảy : Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,
Nên
thả tự do, để mặc tình,
Thôi
để voi đi về với mẹ,
Và
cùng sum họp cả gia đình.
Đoạn
kệ thứ tám và thứ chín là kệ của đức Phật phát xuất
từ lối thắng trí của Ngài: Khỏi cảnh giam cầm, được
thoát thân,
Tự
do, voi dứt mọi dây ràng.
Thốt
lời khuyên nhủ cùng vua nọ,
Voi
lại trở về chốn núi hoang.
Hồ
nước là đây, mắt trong ngần,
Nơi
voi vẫn đến đã bao lần,
Dùng
vòi hút nước rồi quay lại
Phun
vẫy khắp mình đấng mẫu thân.
Song
mẹ Bồ-tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên bà ngâm kệ
thứ mười để trách móc cơn mưa : Ai đó đem mưa thật phi
thời,
Thần
nào độc ác quá, trời ơí!
Vì
nay con trẻ đà đi vắng,
Con
trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.
Lúc
ấy Bồ-tát mới ngâm kệ thứ mười một để trấn an mẹ
già :
"Sao
mãi nằm kia, dậy mẹ ôí!
Này
con của mẹ đã về rồí!
Chúa
Ca-thi, ngài Thông Tuệ,
Cho
trẻ bình an, được tái hồi.
Và
bà mẹ đáp lời cảm tạ nhà vua qua đoạn kệ cuối cùng
:
Vạn
tuế trường tồn bậc Đại vương
Cầu
Ngài đem lại nước vinh cường.
Tự
do Ngài trả cho con đó,
Với
mẹ, con tròn vạn kính thương!
Nhà
vua rất hoan hỷ vì đức độ của Bồ-tát nên nhà vua truyền
xây một thị trấn không xa hồ ấy và thường xuyên đến
phụng sự Bồ-tát cùng mẹ Ngài. Sau đó, khi mẹ Ngài từ
trần và Bồ-tát đã cử hành tang lễ mẹ trọng thể, Ngài
đi thật xa đến một tịnh xá tên là Karankaka. Nơi đây, năm
trăm bậc trí giả đã đến an trú, và nhà vua cũng cúng dường
chư vị như trước. Nhà vua lại truyền tạc một bức tượng
bằng đá có hình Bồ-tát và bày tỏ lòng tôn sùng chiêm bái
nơi thờ hình tượng Ngài. Tại đó dân chúng khắp cõi Thiên
Trúc dần dần tụ tập lại hằng năm cùng nhau cử hành đại
lễ hội gọi là hội voi.
Khi
bậc Đạo Sư đã chấm dứt pháp thoại, Ngài tuyên thuyết
Tứ Đế và nhận diện Bổn sanh (bấy giờ, lúc kết thúc
Tứ Đế, vị Tỳ kheo phụng dưỡng mẹ đã được an trú
vào Sơ quả Dự lưu) :"Vào thời ấy, Ananda là nhà vua, mẫu
hậu Mahamayà là mẹ voi và Ta chính là chúa voi đã phụng dưỡng
mẹ mình vậy.".
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan