ĐẠO
HIẾU CỦA PHẬT GIÁO QUA KINH THIỆN SANH
Thích
Nhật Từ
Vài
lời dẫn nhập
Đạo
làm cha mẹ
Đạo
làm con
Thay
lời kết
I. Vài
lời dẫn nhập
Thông
thường khi đề cập đến đạo hiếu trong đạo Phật người
ta chỉ nói đến việc hiếu thảo của người con, mà không
đề cập nhiều đến vai trò đạo đức và giáo dục của
các bậc cha mẹ. Đó là một sự thiếu sót rất lớn. Thật
ra theo tinh thần của lời Phật dạy trong kinh tạng Pali và
Đại thừa, đạo hiếu của người Phật tử được thể
hiện đầy đủ về hai mối quan hệ giữa cha mẹ với con
cái, và giữa con cái với cha mẹ. Trong bài viết này, người
viết sẽ đề cập sơ lược về 2 mối quan hệ đạo hiếu
đó, được mệnh danh là đạo làm cha mẹ và đạo làm con.
Trong
các mối quan hệ con người, có thể nói mối quan hệ cha mẹ
và con cái là thiêng liêng nhất. Sự thiêng liêng không chỉ
đơn thuần nằm ở mối quan hệ di truyền và huyết thống,
mà đó còn là tất cả tình người, tính giáo dục, đạo
đức của hai thế hệ trước và sau, thế hệ sanh và thế
hệ được sanh ra. Một người con phá vở mối quan hệ thiêng
liêng này đối với cha mẹ, nghĩa là bất hiếu, báo đời,
hại cha mẹ, làm mất thanh danh và truyền thống tốt đẹp
của gia tộc, làm các việc phạm pháp v.v… thì người con
đó không còn là một người con đúng nghĩa, mà chỉ là một
người tội lỗi và đáng trách. Trái lại, cha mẹ không làm
tròn bổn phận của mình, chẳng hạn như giáo dục con cái
trưởng thành về thể chất, thể trí, tự lập trong đời
sống chân chánh (chánh mạng) thì hàng cha mẹ đó cũng không
xứng đáng là các bậc cha mẹ. Cả hai hạng cha mẹ và con
cái như vậy đều được xem là không tương thích trong tinh
thần giáo pháp của đức Phật.
Lập
cước trên tinh thần xây dựng và phát huy một xã hội an
bình và hạnh phúc trong chiều hướng thượng, các lời dạy
của đức Phật trong ba kho tàng kinh điển Nam tông và Bắc
tông, đã trực tiếp và gián tiếp ca ngợi về mối quan hệ
thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái này. Trong bài viết ngắn
này, chúng tôi xin giới hạn tinh thần đạo Hiếu của Phật
giáo qua kinh Thiện Sanh (hay Giáo Thọ Thi-ca-la-việt, Singalovada
Suttanta) thuộc Trường Bộ Kinh của kinh tạng Pali. Đây là
một bài kinh được xem là tiêu biểu cho đạo hiếu trong truyền
thống Phật giáo Nam tông.
Điều
cần nói ở đây là trong lời Phật dạy về đạo hiếu, các
giá trị giáo dục và đạo đức được thể hiện theo mối
quan hệ song phương, đa chiều. Đạo hiếu do đó không chỉ
dành cho các những người con đối với cha mẹ mà quan trọng
không kém đó là quan hệ của cha mẹ đối với con cái. Nói
khác hơn đó là mối quan hệ của đạo làm cha mẹ và đạo
làm con cái.
II. Đạo
làm cha mẹ hay hối quan hệ của cha mẹ đối với con cái
Nói
đến mối quan hệ cha mẹ đối với con cái là nói đến tinh
thần trách nhiệm và bổn phận của các bậc cha mẹ đối
với một phần máu thịt mà mình đã sinh ra. Theo lời Phật
dạy, cha mẹ sinh con cái không phải để thỏa mãn dục tính
mà là thể hiện tình thương yêu đối với một phần máu
mủ và sự sống của chính mình. Ở đây, chúng ta thấy đạo
Phật đã nhấn mạnh đến đạo đức trong mối quan hệ giới
tính của các bậc cha mẹ. Chính do tính chất đạo đức này
mà các bậc cha mẹ cảm thấy cần phải có trách nhiệm đạo
đức về việc nuôi nấng cho con cái trưởng thành và có lợi
ích cho xã hội. Mối quan hệ của cha mẹ như vậy được
xem là nền tảng ban đầu, là cơ sở phát sanh các mối quan
hệ đạo đức xã hội về sau.
Kinh
Thiện Sanh đã đề cập đến mối quan hệ đạo đức như
vậy của các bậc cha mẹ đối với con cái qua năm tiêu chí
căn bản sau đây:
Các
bậc cha mẹ phải có lòng thương tưởng đến con cái theo
năm cách: (1) ngăn chặn con cái làm việc ác (2) khuyên dạy
con cái làm việc thiện, (3) tạo dựng nghề nghiệp cho con
cái, (4) tạo dựng gia thất cho con cái, và (5) truyền trao gia
tài cho con cái đúng thời. [Trường Bộ Kinh II. 542, Bản dịch
của HT Minh Châu, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1991].
1.
Ngăn chặn con cái làm việc ác
Như
vừa nói mối quan hệ giới tính của các bậc cha mẹ trong
đạo Phật được đặt trên cơ sở đạo đức, do đó, sự
sanh sản con cái không nhằm nhu cầu thỏa mãn các khoái lạc
giác quan thuần túy. Chính vì thế các bậc cha mẹ xem việc
nuôi nấng con cái không chỉ là trách nhiệm mà còn là luân
lý đạo đức không thể thiếu được.
Trong
trách nhiệm thiêng liêng thứ nhất này, các bậc cha mẹ ngoài
việc nuối nấng con cái về thể chất, còn phải nuôi con
cái bằng đạo đức và trí tuệ chân chánh. Đó là sự giáo
dục con cái không được làm các điều ác. Điều ác ở đây
chỉ chung cho các hành vi, lời nói và cả tâm tư ý nghĩ có
hại cho bản thân chúng, cho cha mẹ chúng và cho các mối quan
hệ con người và xã hội khác. Nói khác hơn, theo đức Phật,
giáo dục con trước nhất và hơn hết là giáo dục chúng không
làm các điều ác. Bởi lẽ một người dù cho có khỏe mạnh
và giàu sang đến đâu nhưng nếu hành vi và cuộc sống của
họ không đem lại lợi ích cho người khác mà còn đem lại
đau khổ thì chắc chắn rằng đời sống đó là vô nghĩa
cho bản thân ngay hiện tại và nguồn tội lỗi và đau khổ
cho cả đời này và đời sau. Dạy con thành người do đó
là dạy con xa lánh các điều tội ác. Đó là không giết người,
trộm cướp, lưà gạt, không quan hệ giới tính phi pháp và
không nghiện ngập say sưa để thần mê trí mờ. Ngoài ra,
không làm các điều ác còn là sự tuân thủ luật pháp xã
hội, tôn trọng thuần phong mỹ tục của quốc gia, duy trì
truyền thống tốt đẹp của gia đình. Sự giáo dục con cái
như vậy rõ ràng là sự giáo dục của người có trí: không
nuông chìu con cái, không để chúng có cơ hội đi vào con đường
tội lỗi. Các bậc cha mẹ nuôi con mà không biết dạy con
tránh xa tội ác như vậy sẽ trở thành chướng ngại cho đời
sống gia đình và xã hội và do đó cần phải loại khỏi
mối quan hệ của cha mẹ đối với con cái.
2.
Khuyên dạy con làm việc thiện
Không
có gì tích cực cho bằng con đường giáo dục của các bậc
cha mẹ theo đạo Phật bao gồm dạy con cái làm điều thiện,
đạo đức. Nói khác hơn, giáo dục con cái từ bỏ điều
ác là cơ sở nền tảng để từ đó giáo dục chúng làm điều
lợi ích cho xã hội. Nội dung trách nhiệm thứ hai của các
bậc cha mẹ trong lời dạy này là khuyến khích con cái vào
các hoạt động lợi ích cho cộng đồng, cho nhân quần xã
hội. Đây là cách giáo dục vô cùng tích cực cho một xã
hội an bình và thạnh trị.
Từ
một gốc độ khác, việc dạy con từ bỏ các thói hư tật
xấu, các hành vi bất chánh và bất thiện mặc dù là tốt
nhưng chỉ mới tốt có phân nửa: đó là tốt cho bản thân
chúng và gia đình. Đây là giáo dục đạo đức cho bản thân
con cái, cơ sở nền tảng cho sự trưởng thành đạo đức
của chúng về sau. Giáo dục con quan trọng hơn là giáo dục
tính chất vi tha, vô ngã trong từng hành vi lời nói, cử chỉ
và việc làm. Đây là lối giáo dục dấn thân để phục vụ
cho tha nhân. Cách giáo dục như vậy rõ ràng không thể tìm
thấy trong bất cứ tôn giáo nào, từ hữu thần cho đến vô
thần.
Nói
khác hơn, giáo dục đạo đức cho con cái bao giờ cũng bao
gồm 2 bước, đó là giáo dục đình chỉ ác và giáo dục
phát huy thiện. Đình chỉ ác thôi chưa đủ mà còn phải phát
triển thiện. Có như vậy thì xã hội không những vắng mặt
các tệ nạn và khủng hoảng đạo đức, mà còn trổ hoa trái
của hạnh phúc và an lạc từ những hành vi đạo đức tích
cực của thế hệ những người con, thế hệ nền tảng và
tinh hoa của mọi tầng lớp xã hội. Đó là giáo dục con cái
theo tinh thần của bậc giác ngộ, để tạo dựng một gia
đình và xã hội vắng ác đầy thiện, vắng cái xấu xa tội
lỗi, tràn đầy cái chân thiện mỹ.
3.
Tạo dựng nghề nghiệp chân chánh cho con cái
Giáo
dục theo tinh thần đạo Phật luôn bắt đầu và đặt nền
móng trên giáo dục đạo đức. Các bậc cha mẹ nào không
đặt tầm quan trọng của giáo dục đạo đức ắt sẽ gặp
phải cảnh người con bất hiếu, ngỗ nghịch và tạo ra cảnh
mất đầm ấm hạnh phúc trong gia đình ở hiện tại và về
sau, cho dòng tộc và tha nhân. Nói như thế không có nghĩa đạo
Phật bỏ rơi sự giáo dục con cái trưởng thành về thể
chất.
Tạo
dựng nghề nghiệp cho con cái không những bao gồm sự nuôi
nấng theo tinh thần khoa học mà còn chăm lo đến nghề nghiệp
tương lai của chúng. Điều này có nghĩa là giao cho con cái
cả gia tài sự nghiệp sẳn có của mình không bằng truyền
thụ cho chúng kiến thức để có được nguồn tài sản đó.
Ở đây, giáo dục Phật giáo nhấn mạnh đến giáo dục nhân
để sinh ra quả. Vun bồi nhân là cách tốt nhất để gặt
hái quả tốt. Do đó giáo dục trong đạo Phật luôn là giáo
dục con đường chứ không ban cho con đường. Đây là lối
giáo dục vô cùng sáng suốt vì đã loại bỏ yếu tố tha
lực trong các hoạt động và phát triển nhân cách đạo đức
bản thân.
Kế
đến lời dạy này còn nhắm đến tính giáo dục tinh thần
tự lực cho con cái, theo quy luật của cuộc sống và theo đạo
đức của cuộc đời. Chỉ có tinh thần tự lực, dưới sự
hướng đạo của cha mẹ, con cái mới thật trưởng thành
trong xã hội như một trường đời đầy cạm bẩy và chông
gai.
Một
ý nghĩa khác có thể rút ra từ lời dạy trên là để khắc
chế nạn lêu lỏng và buông thả của đời sống thanh thiếu
niên trong xã hội nhiều cám dỗ, các bậc cha mẹ phải dạy
chúng ý thức về một nghề nghiệp ổn định cho bản thân.
Sự sống nhờ vả, dù đó là nhờ vào cha mẹ, cũng chỉ là
tạm thời và có ý nghĩa rất ít; trong khi sự tự lập bằng
mồ hôi, sức lực, trí khôn trong chiều hướng đạo đức
của bản thân mới là con đường tự tồn tại lâu dài và
bền bĩ. Chính sự giáo dục này giúp cho con cái thoát khỏi
các cạm bẩy ăn chơi xa đọa của xã hội, góp phần ổn
định đời sống tập thể và cộng đồng, nhất là hạn
chế nạn thất nghiệp và những nghề nghiệp phi pháp.
4.
Xây dựng gia thất xứng đáng cho con cái
Trách
nhiệm của các bậc cha mẹ không chỉ dừng lại ở giáo dục
đạo đức tránh ác làm lành, ổn định nghề nghiệp mà còn
chăm lo đến đời sống lứa đôi cho con cái. Cần nhấn mạnh
ở đây rằng xây dựng gia thất cho con cái không có nghĩa
là ép buộc con cái phải làm chồng / vợ một người nào
đó mà mình thích, thay vì người mà chúng yêu thương. Đạo
Phật không khuyến khích một tập tục "bắt đâu ngồi đó"
như trong truyền thống Ấn giáo cổ và hiện đại, cũng như
truyền thống "phụ vi tử cương" của Nho giáo. Đạo Phật
đề cao tinh thần bình đẳng trong nhận thức của cha mẹ
và con cái. Khi chưa đến tuổi thành niên, con cái tùy thuộc
vào sự quyết định đúng đắn của cha mẹ. Khi con cái đã
đến tuổi trưởng thành, việc quyết định đời sống hôn
nhân của chúng phải tùy thuộc vào sự lựa chọn của chúng.
"Ép dầu ép mở ai nở ép hôn" là một phương châm rất phù
hợp với tinh thần của lời dạy này. Ngoài ra, một ý nghĩa
giáo dục khác là nếu cha mẹ có thể dạy và tạo dựng nghề
nghiệp chân chánh và ổn định cho con cái thì các bậc cha
mẹ cũng có thể cố vấn tình yêu và hôn nhân cho chúng. Lời
dạy ở đây mang tính giáo dục rất cao. Cha mẹ không chỉ
là người sanh ra con cái mà còn là người thầy, người cố
vấn, người hướng đạo đời sống yêu đương và hôn nhân
cho con cái. Ở đây, ngoài yếu tố truyền trao kinh nghiệm
yêu đương và hôn nhân cho con cái, các bậc cha mẹ còn phải
đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn con cái chọn
lựa người bạn đời thích hợp. Không có gì thiêng liêng
và cao quý cho bằng khi cha mẹ còn đóng vai trò của người
thầy và người cố vấn hôn nhân.
Nói
rõ hơn, ở đây, cha mẹ chỉ làm chức năng tư vấn cho con
cái biết rõ tiêu chuẩn của một người vợ hay người chồng
lý tưởng cũng như, thế nào là trách nhiệm và bổn phận
của đôi vợ chồng mới hòa minh loan phụng v.v… Hoàn toàn
không có chuyện ép buộc và sắp đặt của cha mẹ trên con
cái. Đây là tinh thần giáo dục rất phù hợp đời sống
hôn nhân hiện đại.
Một
điểm cần lưu ý ở đây là khái niệm "xứng đáng" trong
cụm từ "xây dựng gia thất xứng đáng cho con cái." Xứng
đáng ở đây không có nghĩa là "môn đăng hộ đối" như phong
tục Nho giáo. Xứng đáng ở đây mang tính đạo đức và xã
hội. Ở gốc độ đạo đức, người con khôn ngoan nên biết
chọn cho mình người bạn đời có đủ phẩm chất đạo đức
ít nhất như mình. Đây là sự tương thích về nhân phẩm
giữa hai người. Kế đến, về phương diện xã hội, sự
xứng đáng còn mang ý nghĩa chọn người bạn đời có cùng
tánh tình, chí hướng và hạnh nguyện. Không có gì đau khổ
cho bằng khi vợ chồng lâm vào cảnh "đồng sàng dị mộng"
hay vợ nắng chồng mưa hay vợ mặt trăng, chồng mặt trời
v.v… Để tránh các tình trạng đau lòng có thể dẫn đến
sự đổ vỡ mối quan hệ tình yêu và hôn nhân như vậy, con
cái rất cần đến sự cố vấn của cha mẹ chúng, những
người ít nhất đã một lần trải qua.
Trên
tinh thần giáo dục trên, việc dựng vợ gả chồng xứng đáng
cho con cái không chỉ tránh được các đổ vỡ do mối quan
hệ đơn thuần "môn đăng hộ đối" về vật chất nhưng lại
không thích hợp về tánh tình, đạo đức, trí tuệ và hạnh
nguyện, mà còn hướng đến một căn bản tương thích của
đời sống lứa đôi. Nói cách khác, hạnh phúc hôn nhân không
chỉ có được từ sự giàu sang mà phải đặt nền tảng
trên sự tương thích về phẩm chất đạo đức, lý tưởng
và hạnh nguyện. Trong bất kỳ cuộc hôn nhân nào nếu có
sự tương thích về đời sống đạo đức và lý tưởng thì
tất nhiên sẽ kéo theo sự hạnh phúc lứa đôi.
Ngoài
ra, lối giáo dục cố vấn con cái trong hôn nhân trong tinh thần
lời Phật dạy có những giá trị đạo đức sau đây:
--
Chận đứng hoặc hạn chế một cách tối đa tình trạng tự
tử của những đôi uyên ương do cha mẹ không đồng ý gả
họ cho người họ yêu say đắm.
--
Chận đứng tình trạng ly thân, ly dị, đổ vỡ hôn nhân do
đôi uyên ương không tương đồng về đạo đức, trí tuệ
và lý tưởng.
--
Hướng đến một xã hội mà các phần tử của nó có tinh
thần tự chủ, độc lập trong nhận thức và hành động nhất
là trong việc chọn người bạn đời thích hợp.
5.
Truyền trao gia tài cho con cái đúng thời
Trách
nhiệm thứ năm này mang ý nghĩa pháp lý và đạo đức rất
cao. Về phương diện pháp lý, việc truyền trao này bao gồm
di chúc và tài sản thừa tự cho con cái. Có nhiều bậc cha
mẹ đã không nghĩ tới chuyện này khi còn khỏe mạnh. Do đó,
một khi nhắm mắt xuôi tay, con cái bất hiếu đã gây cảnh
nòi da xáo thịt về quyền thừa tự, tranh dành tài sản của
cha mẹ để lại. Chính vì thế, để tránh các tình trạng
trên, đức Phật đã dạy các bậc cha mẹ phải di chúc và
trao truyền gia tài khi mình còn sáng suốt và khỏe mạnh. Chỉ
có trong tình trạng khỏe mạnh và sáng suốt, người ta mới
có thể chọn người xứng đáng vá thích hợp để mà ủy
thác.
Về
phương diện đạo đức, sự truyền trao gia tài không chỉ
có nghĩa đơn thuần là phân chia tài sản cho con cái mà còn
có ý nghĩa truyền trao di sản văn hóa của dân tộc, của
truyền thống gia đình. Gia tài đó hẳn không phải là "một
nước Việt buồn" mà phải là một nước Việt thoát khỏi
thực trạng khổ đau (khổ đế) hướng đến an lạc và giải
thoát trong tinh thần đạo Phật. Một gia tài như vậy, vàng
bạc không thể mua được, đô-la không thể đổi được.
Do đó cần phải cẩn trọng chọn lựa người xứng đáng
mà truyền trao. Đức ngũ tổ Hoằng Nhẫn đã không truyền
trao y bát cho ngài Thần Tú mà trái lại truyền cho ngài Huệ
Năng. Đức Phật Thích-ca đã không trao chánh pháp nhãn tạng,
niết-bàn diệu tâm cho ngài A-nan bác học đa văn mà giao cho
tổ Ca-diếp đạo cao đức trọng. Sự chọn lựa ở đây bao
hàm nội dung đạo đức rất lớn. Chọn lựa sai lầm thì
kết quả đau thương sẽ không thể tưởng tượng. Chính vì
thế sự chọn lựa đối tượng trao gia tài cần phải cẩn
trọng, hợp thời, hợp cơ. Chỉ khi nào đối tượng xứng
đáng về đạo đức và trí tuệ được chọn lựa và giao
phó, sự truyền trao sẽ trở nên vô nghĩa và nguy hiểm cho
cả nhiều thế hệ về nhiều phương diện của cuộc sống.
Ở
mức độ đơn thuần hơn, sự truyền trao gia tài hợp thời
còn có ý nghĩa giúp cho xã hội tránh được sự truyền thừa
không xứng đáng, những tình trạng cha truyền con nối, những
truyền thống thế tập "con vua thì được làm vua, con sải
ở chùa thì quýet lá đa." Nói chung, nếu tinh thần này được
áp dụng ở xã hội thì lo gì xã hội không có đủ người
tài đức, đất nước không có được minh quân. Mọi sự
phân biệt mang tính cách bè phái, cục bộ cho "con ông cháu
cha" sẽ không còn cơ hội để sống tồn trong một xã hội
mà tinh thần giáo dục của đức Phật được truyền thừa
và phát huy triệt để.
Nói
tóm lại, mối quan hệ giữa cha mẹ đối với con cái là mối
quan hệ mang tính đạo đức và giáo dục rất cao. Các bậc
cha mẹ không chỉ chăm lo về đời sống vật chất cho con
cái mà còn và quan trọng hơn hết chăm lo và phát triển đời
sống đạo đức và trí tuệ của chúng. Về đời sống đạo
đức, cha mẹ phải huyến luyện và dạy dổ con cái các phẩm
chất đạo đức, tránh ác làm lành, từ bỏ con đường xấu
xa phát huy đời sống chánh mạng và chánh nghiệp. Kế đến
cha mẹ còn dạy cho con cái ý thức trách nhiệm cao độ của
người con, tinh thần tự lập qua việc ổn định nghề nghiệp
trong xã hội. Ngoài ra, cha mẹ còn phải cố vấn cho con cái
trong việc lựa chọn một người bạn đời lý tưởng, để
đời sống gia thất về sau được bền bỉ và hạnh phúc.
Chỉ có những người con như vậy mới xứng đáng tiếp hưởng
gia tài được đúc kết bằng mồ hôi và xương máu của cha
mẹ, của những thế hệ cha anh đi trước. Thiết nghĩ tinh
thần giáo dục cao thượng này nên được các hội bô lão,
các hội phụ huynh học sinh nghiên cứu và áp dụng triệt
để, để tình thương, sự phát triển và hạnh phúc nở hoa
trên sự sống của con người hôm nay và mai sau.
III. Đạo
làm con hay mối quan hệ của con cái đối với cha mẹ 
Theo
tinh thần duyên khởi của đạo Phật, bất cứ mối quan hệ
nào cũng phải có sự đối lưu của ít nhất hai thành phần.
Ở đây sự đối lưu là giữa cha mẹ và con cái và ngược
lại. Tinh thần giáo dục của đức Phật không đơn thuần
và một chiều, mà đó là sự đối lưu của ít nhất 2 trị
số con người trong quan mối quan hệ vừa đạo đức và giáo
dục. Nói cách khác, nếu các bậc cha mẹ sanh con cái không
vì sự thỏa mãn các khoái lạc giác quan, nhưng thể hiện
tinh thần trách nhiệm và giáo dục cao độ cho con cái trưởng
thành về thể chất, thể trí và sống vững vàng trong xã
hội thì đối lại người con cũng phải có trách nhiệm đạo
đức đối với hai đấng sanh thành ra mình, nuôi nấng mình
trưởng thành và trở nên hữu dụng cho bản thân và xã hội.
Sự hiếu thảo của người con như vậy được trình bày qua
5 trách nhiệm đạo đức sau đây:
Có
năm trường hợp người con phải phụng dưỡng cha mẹ, đó
là, (1) tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ, (2) tôi sẽ làm tròn bổn
phận đối với cha mẹ, (3) tôi sẽ giữ gìn danh dự gia đình
và truyền thống, (4) tôi sẽ bảo vệ tài sản thừa tự,
và (5) tôi sẽ lo chu toàn tang lễ của cha mẹ đúng pháp. [Trường
Bộ Kinh II. 542, như trên]
1.
Tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ
Trách
nhiệm đạo đức trước tiên của một người con đối với
2 đấng sanh thành ra mình theo đức Phật là nuôi dưỡng cha
mẹ. Hay nói cách khác người con phải lấy sự báo đền cha
mẹ bằng cách chăm sóc cha mẹ về đời sống vật chất,
cũng như chính cha mẹ đã lo cho chúng ta trưởng thành, tron
suốt 18 năm vị thành niên. Cần lưu ý ở đây rằng mệnh
đề "tôi sẽ" biểu thị một ý thức trách nhiệm cao độ,
chứ không đơn thuần là một lời hứa cụi. Như chúng ta
đã biết đức Phật định nghĩa nghiệp là những hành vi
có ý thức và ý thức là chất xúc tác và dẫn đạo các
hành vi của lời nói và việc làm. Do đó, chỉ có với một
ý thức sâu sắc về bổn phận làm con "tôi sẽ nuôi
dưỡng cha mẹ" mới có thể giúp người con duy trì tốt truyền
thống hiếu thảo đối với cha mẹ được.
Sự
chăm lo đến đời sống vật chất của cha mẹ ở đây cho
thấy đạo Phật rất thực tiễn. Người con hiếu thảo không
chỉ biết vâng lời cha mẹ, làm việc tốt cho gia đình và
xã hội mà trước tiên và hơn hết lo phần đời sống vật
chất cho cha mẹ mình. Chăm lo đời sống vật chất ở đây
bao gồm việc dâng tặng cho cha mẹ tiền chi tiêu, quà quý,
thuốc thang, sự thăm viếng khi cha mẹ đau ốm hay không còn
sức lao động.
Lời
dạy này ngoài việc khích lệ con cái hiếu kính đối với
cha mẹ còn nhắm vào việc xóa bỏ các quan niệm sai lầm cho
rằng cha mẹ sinh con là để thoả mãn dục vọng cho nên con
cái không cần phải có trách nhiệm lo lắng trở lại. Nếu
lời dạy cao qúy này được áp dụng chắc chắn rằng xã
hội sẽ không còn tình trạng các cha mẹ già phải tủi phận
vào sống các nhà dưỡng lão, chỉ vì các người con bất
hiếu. Kế đến, lời dạy còn có ý nghĩa cao quý khác, đó
là, sẽ không còn cảnh những đứa con ngỗ nghịch "báo đời"
cha mẹ dưới nhiều hình thức và về nhiều phương diện.
2.
Làm tròn bổn phận đối với cha mẹ
Ý
thức trách nhiệm làm tròn bổn phận của một người con
là điều quan trọng thứ hai trong đạo hiếu thảo của người
Phật tử. Lời dạy này mặc dù rất bao quát nhưng có ý nghĩa
đạo đức rất lớn. Khái niệm bổn phận ở đây cần phải
được hiểu là sự thực thi những điều trách nhiệm của
người con đối với cha mẹ tùy theo hoàn cảnh và điều kiện
cho phép. Nghĩa là công việc hiếu thảo không bao giờ là một
sự bắt buộc mà trái là một ý thức cao độ, ý thức làm
người có đạo lý.
Có
nhiều trường hợp người con vì thương cha kính mẹ mà làm
nhiều điều tội ác để chu cấp tài sản cho cha mẹ. Đạo
Phật chống lại sự hiếu thảo phi pháp như vậy. Nói cách
khác làm trọn bổn phận tùy theo hoàn cảnh và điều kiện
cho phép là một trong những cách thể hiện chữ hiếu hợp
lý nhất. Ví dụ khi còn ngồi dưới mái trường, việc làm
trọn bổn phận của người con đối với cha mẹ là vâng
lời thầy cô, học hành chăm chỉ, thu hoạch kiến thức để
làm nền tảng trí thức và đạo đức cho bản thân, hiện
tại và về sau. Khi đã xây dựng gia thất riêng, việc làm
tròn bổn phận của người con là sống đúng, sống theo và
sống hợp với các nguyên tắc đạo đức của đạo Phật,
không làm các điều ác, phát huy các điều thiện, chăm lo
cho vợ/chồng con chu đáo, thăm viếng cha mẹ khi có thời gian,
phụng dưỡng đời sống vật chất cho cha mẹ v.v… Nói chung
trong mọi hoàn cảnh và trường hợp, người con làm tròn bổn
phận phải là người có ý thức trách nhiệm và thi thố trách
nhiệm đó đúng chánh pháp và phù hợp với đạo lý mặc
ước và luật pháp của xã hội hiện hành.
Ở
một gốc độ khác việc làm tròn bổn phận còn có ý nghĩa
đạo đức rất lớn, nhất là trong trường hợp cha mẹ sống
thiếu chánh kiến đối với Phật pháp tăng hoặc tạo tác
nhiều điều tội lỗi. Người con có hiếu là người con phải
biết tìm mọi cách khuyên gián cha mẹ, giúp cho cha mẹ trở
về với con đường hiền lương và thánh thiện. Ở đây,
chúng ta thấy tính tương tác trong giáo dục của Phật giáo.
Người con hiếu thảo không chỉ đơn thuần vâng lời cha mẹ,
nhất là những lời không có lợi cho sự tiến bộ đạo đức
và tâm linh. Ngược lại người con phải có các hành vi cụ
thể để khuyến tấn cha mẹ mình. Người làm được như
vậy theo đức Phật có giá trị hiếu thảo nhiều lần so
với báo hiếu đơn thuần về của cải vật chất:
"Những
ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng dâng cúng với của
cải vật chất tiền bạc thì không bao giờ đủ để đáp
đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ Kheo, ai đối với cha mẹ
không có lòng tin Tam Bảo thì khuyến khích cho có lòng tin Tam
Bảo, đối với cha mẹ sống tà giới, thì khuyến khích vào
chánh giới, đối với cha mẹ sinh khởi tham, thì khuyến khích
bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích vào chánh
kiến, cho đến như vậy, này các Tỳ Kheo, là làm đủ và
đáp ơn đủ cho mẹ và cha." (Tăng Chi bộ Kinh I. 75)
Nói
cách khác báo hiếu trong đạo Phật không chỉ đơn thuần
về đời sống vật chất mà quan trọng hơn là đời sống
tinh thần và đạo đức. Đây chính là nét đặc sắc và độc
đáo của chữ hiếu trong đạo Phật.
3.
Giữ gìn danh dự gia đình và truyền thống
Mỗi
dân tộc đều có một bản sắc văn hóa riêng. Chính nét riêng
là giá trị tạo nên và đóng góp cho nền văn hóa của nhân
loại. Cũng vậy mỗi gia đình đều có truyền thống riêng
mà các bậc tiền bối và tổ tiên đã dày công xây dựng.
Người con hiếu thảo theo đức Phật là người, ngoài việc
làm tròn bổn phận, phụng dưỡng vật chất cho cha mẹ đúng
pháp còn là người biết tôn trọng các giá trị văn hóa và
di sản truyền thống tốt đẹp của gia đình, gióng nồi và
dân tộc.
Cần
lưu ý ở đây rằng lời dạy này không nhằm khuyến khích
một chế độ thế tập "cha truyền con nối" một cách mù
quáng. Nó chỉ nhằm kêu gọi ý thức trách nhiệm bảo vệ
và phát huy
các truyền thống tốt đẹp của một gia
phả, một làng xóm, một cộng đồng, một sắc tộc, một
quốc gia mà thôi. Đạo Phật không dạy chúng ta phục tùng
các truyền thống lạc hậu, phản với đạo đức và sự
hướng thượng trong đạo đức và tu tập. Trong tinh thần
này, những quan niệm duy trì truyền thống theo kiểu "con vua
thì lại làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa" cần phải
được loại bỏ ra khỏi quan điểm chữ hiếu trong đạo Phật.
Chúng
ta vẫn còn nhớ trong bài kinh giáo dục cho dân tộc Kamala về
mười tiêu chí của một niềm tin có chánh kiến có điều
dạy rằng "đừng vội tin một điều gì chỉ vì điều đó
có hay thuộc truyền thống." Lời dạy này phản ánh rằng
các truyền thống có thể có 2 mặt, một mặt tốt và tiến
bộ và một mặt xấu và phản tiến hóa. Đức Phật chỉ
khuyên chúng ta theo mặt tốt và tiến hóa của truyền thống
trong khi mạnh dạn loại bỏ các mặt tiêu cực và bất lợi
của nó. Lời dạy này càng có ý nghĩa to lớn hơn nếu ta
đặt nó trong sự vận động bảo tồn và duy trì các sắc
thái văn hóa của tổ chức UNESCO. Nói dễ hiểu hơn, đây
có thể là phương châm cho một khuynh hướng giữ gìn và bảo
vệ nền văn hóa tích cực của các sắc dân, của các dân
tộc trên thế giới theo chiều hướng có chọn lọc và đặt
chúng trong tiêu chí của các giá trị phát triển đạo đức
và đạo lý con người hơn là chỉ đơn thuần về phương
diện vật chất.
4.
Bảo vệ tài sản thừa tự
Nếu
"duy trì các truyền thống tốt đẹp của gia đình, quốc gia"
là một nguyên tắc chung và bao quát đối với những người
con có hiếu theo tinh thần Phật dạy thì "bảo vệ tài sản
thừa tự" là một nguyên tắc cụ thể ứng dụng trong phạm
vi của truyền thống gia tộc. Điều này có ý nghĩa giáo dục
rằng một mặt con cái phải biết sử dụng gia tài và di sản
của cha mẹ để lại đúng pháp và mặt khác phải là người
kế thừa có đạo lý. Nghĩa là cha làm thầy thì con cái không
được đốt sách. Cha mẹ làm việc thiện, tôn kính tam bảo,
thì con cái không nên làm việc ác, phỉ báng Phật, pháp, tăng,
trái lại còn phát huy một cách tốt hơn và có chiều kích
hơn.
Rất
tiếc hiện nay trong nhiều xã hội, lời dạy nầy không được
áp dụng nên đã có nhiều cảnh con cái trở thành những kẻ
phá hoại tài sản của cha mẹ và tổ tiên để lại. Nhiều
người con chỉ biết chi tiêu gia tài của cha mẹ theo khuynh
hướng tán gia bại sản hơn là duy trì và phát huy chúng.
Áp
dụng lời dạy này trong một chiều kích lớn hơn chúng ta
thấy rất có lợi cho xã hội và đất nước. Việt Nam là
đất nước được mệnh danh với truyền thống con rồng cháu
tiên, Phù Đổng thiên vương, đã từng bất khuất trước
các thế lực ngoại xâm và đô hộ. Những hành động "cổng
rắn cắn gà nhà" hay "rước voi về giày mã tổ" là những
hành vi tội ác không chỉ đi ngược lại truyền thống tốt
đẹp của dân tộc mà còn làm chết đi tinh thần cao qúy đó.
Tương tự, quan niệm "mái chùa che chở hồn dân tộc, nếp
sống muôn đời của tổ tông" là truyền thống tốt đẹp
của dân tộc Việt Nam từ nhiều đời. Ai mảnh tâm phá hoại
chùa chiền, biến chùa chiền thành các hợp tác xã, hoặc
sử dụng chùa chiền vào các mục đích thế tục hay tư lợi
thì hẳn rằng đã manh tâm phá hoại một truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, đạo lý tình người Việt Nam.
5.
Chu toàn tang lễ của cha mẹ đúng pháp
Điều
hiếu thảo cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là khi
cha mẹ qua đời, con cái phải tổ chức tang lễ cho cha mẹ
một cách chu toàn và đúng pháp. Tổ chức tang lễ chu toàn
tùy thuộc rất nhiều vào phong tục tập quán của từng quốc
gia, xã hội và gia đình. Nói chung là phải làm đúng theo các
quan niệm đạo hiếu của từng dân tộc và truyền thống.
Tổ
chức đúng pháp là điều quan trọng hơn. Nếu tổ chức "chu
toàn" nhằm nhấn mạnh đến hình thức và trình tự của tang
lễ như tẫn liệm, chôn cất v.v… thì tổ chức "đúng pháp"
nhấn mạnh đến nội dung và tinh thần của tang lễ. Đúng
pháp ở đây theo tinh thần lời Phật dạy là con cái không
nên khóc lóc, than vãn mà trái lại nên chánh niệm tỉnh giác
trước cơn vô thường sinh ly tử biệt để hỗ trợ cho cha
mẹ không còn quyến luyến tình cảm thế gian, vãng sanh một
cách nhẹ nhàng và dễ dàng. Sự khóc lóc và rên rĩ của con
cái có thể làm động tâm các bậc cha mẹ vừa quá cố và
do đó làm trở ngại rất nhiều cho tiến trình tái sanh của
cha mẹ. Do đó, người Phật tử không nên quá bi lụy theo
thường tình của thế gian, trái lại thỉnh mời quý đại
đức tăng ni và ban hộ niệm đến tụng kinh để siêu độ
cho người quá vãng.
Có
nhiều người con khi cha mẹ còn sống thì đối xử một cách
bỏn xẻn, không phụng dưỡng cha mẹ. Nhưng khi cha mẹ vừa
nằm xuống thì lại cố tình tổ chức tang lễ cho rềnh rang,
để chứng tỏ ta đây là người con có hiếu. Đạo Phật
không dạy chúng ta như vậy. Trái lại, đạo hiếu của đức
Phật rất chu đáo và nhấn mạnh đến ý thức trách nhiệm
chân thành của người con hơn là các hình thức nghi lễ bề
ngoài, đôi lúc có tính cách lạc dẫn. Khi cha mẹ còn sống
thì cúc cung, chắm sóc, sớm thăm tối viếng, cung phụng miếng
ăn và thuốc thang cho cha mẹ. Vâng lời cha mẹ khi cha mẹ có
lời dạy bảo hay. Làm tròn bổn phận làm con trong mọi hoàn
cảnh. Khuyến khích cha mẹ trở về con đường hiền lương
và đạo đức nếu cha mẹ đang sa lầy. Rồi đến lúc cha
mẹ nhắm mắt lìa đời thì tổ chức tang lễ giản đơn nhưng
không kém phần trang nghiêm và có ý nghĩa đạo đức.
Nói
chung, báo hiếu khi cha mẹ qua đời là việc lo chu toàn tang
lễ một cách chân thành, trang trọng; không đặt nặng các
hình thức lễ nghi như hiến tế súc vật, cúng tam sên, trổ
nhạc tây nhạc tàu, thuê người khóc mướn, tổ chức ca hát
xướng k? cúng đạo lộ, mở cửa mã, v.v… Các việc làm
như vậy chỉ tạo thêm nhiều nghiệp ác và tội lỗi mà thôi.
Tang lễ theo đạo Phật nên đơn giản bao gồm các khóa lễ
tụng kinh tưởng niệm, phóng sanh thả vật, làm phước cúng
dường, để hồi hướng công đức cho cha mẹ vừa quá cố,
như một hành trang đạo đức cho cha mẹ đi tái sanh vào các
cảnh giới an lạc.
IV.
Thay lời kết 
Qua
những gì vừa được trình bày sơ lược trên, đạo hiếu
của Phật giáo bao gồm đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái.
Năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm cha mẹ và năm nguyên
tắc đạo đức của đạo làm con trong kinh Thiện Sanh có thể
được xem là những chuẩn mực, khuông vàng thước ngọc cho
các mối quan hệ của cha mẹ và con cái trong một xã hội
tiến bộ và văn minh. Người viết nghĩ rằng đạo hiếu tích
cực và toàn diện như vậy nên được đưa vào giảng dạy
trong các cấp bậc của học đường để phục hưng và chấn
chỉnh một nền đạo đức bị suy thoái hiện nay, do thiếu
ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật.
Nếu
năm nguyên tắc đạo làm cha mẹ nên được phổ biến rộng
rãi trong các hội bô lão và các hội phụ huynh thì năm nguyên
tắc đạo làm con nên được truyền bá trong các câu lạc
bộ thanh thiếu niên, trong các hội đoàn sinh viên học sinh,
để các bậc làm cha mẹ xứng đáng là cha mẹ và để các
người con xứng đáng là những người con.
Hơn
hết, tinh thần đạo hiếu mang tính giáo dục và đạo đức
của đức Phật nên được các nhà giáo dục quan tâm, giới
thiệu vào các sách giáo khoa về công dân giáo dục, để làm
tốt đẹp đạo lý tình người. Chỉ trừ khi nào các nguyên
tắc đạo hiếu nêu trên được áp dụng thì khi đó gia đình
và xã hội có có sự an lạc và đạo đức. Do đó mọi hoạt
động và tuyên truyền chống phá đạo lý hiếu thảo của
đạo Phật sẽ là con đường tự hủy diệt đạo đức bản
thân và xã hội. Mong sao các nhà lãnh đạo đất nước chân
chánh sớm nhận ra được con đường giáo dục cao thượng,
đạo đức và thuận tiến hóa của đạo Phật để xây dựng
một đất nước Việt Nam giàu mạnh về vật chất và khỏe
mạnh về tinh thần!
Ấn
Độ, mùa báo hiếu, 10-7-2000
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan