VU
LAN HUẾ
Thái
Kim Lan
Khi
mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về làm xao động cả bầu
trời mệt mỏi đang chìm lỉm trong lòng sông Hương nơi khúc
quành chùa Linh Mụ, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê
mùa hạ.
Mưa
trút xuống bên tê Bãng Lãng Nguyệt Biều, lùa mây từ triền
núi Trường Sơn mờ mịt quyện đồi Hà Khê, theo gió
chới với trên hàng cau bên ni sông làng Xuân Hòa, sau đó không
lâu, màu xanh từ đồi Thọ Cương đến vườn Kim Long, Linh
Mụ, Hương Hồ, Văn Thánh bập bềnh trong màn nước, cả vùng
không gian sông núi choáng ngợp trong màu hồ thủy. Từ bên
ni bờ sông nhìn vọng qua màn mưa về phía núi, đỉnh Kim Phụng
chập chờn lung linh như đầu một con rồng thần thoại
đang dùng ảo thuật biến những luồng khí nóng xích tử ngùn
ngụt như những con rắn lửa đang bóp nghẹt cỏ cây chết
đứng thành những trận mưa rào sung mãn. Từ bến sông mưa
tạt vào mái hiên từng làn hơi nước mát mẻ như những đợt
sóng, mong manh thoáng gió hắt vào da thịt đang còn hừng hực
nắng tháng năm tháng sáu. Sự va chạm gây một nỗi sửng
sốt ngưng thần, đưa cảm xúc vào trong một bước ngoặt,
nghe như có tiếng trở về của hoa lá ngoài sân!
Mưa
Ngâu thường hay kéo dài từ chiều đến quá khuya, sướt mướt
như nỗi lòng của Chức Nữ nhớ Ngưu Lang trong những mùa
trăng khuyết, ào ạt trên lá chuối lá lá vải lá giáng châu
trong vườn cây, sầm sập trên mái nhà, nhưng âm vang nước
chảy lại gây một cảm giác thoa dịu lạ lùng và giấc ngủ
đầu tiên đến êm ả sau mấy tháng hè ngộp thở…
Buổi
sáng sau cơn mưa, khí trời trong vắt như “vũ trụ choàng
áo mới" (1), trong suốt đến nỗi có thể nhìn rõ được
từng ngọn lá của cây nhãn cổ thụ nơi bến đò Long Thọ
bên kia sông. Sự yên tĩnh trở nên nhẹ hửng, lững lờ trôi
theo giòng sông trong nắng sớm. Chén nước trà ban mai uống
đã thôi không vội vàng mà thong thả từng ngụm từng ngụm
trong hơi đất mát rượi thoảng bên hiên. Có thể ngồi yên
rồi đó! Định thần trong một giây! Hết bồn chồn cánh
quạt tre phần phật! Nút áo “cổ kiềng" (2) trên cùng
đã được cài cùng một lúc với thoáng gai mình chợt lạnh,
nghe chân bước không gấp trên lối mòn ra ngõ nhìn sông hay
lững thững quanh vườn tỉ tê thăm hoa lá. Thế rồi, giữa
nhịp bước đi và dừng lại, nơi một khoảnh khắc bất định
như không phải giờ của đồng hồ, có thể ngày hôm ấy
hay hôm sau hay mai kia, với một chút bất ngờ có thể làm
nở nụ cười toại nguyện, từ dòng sông vọng về tiếng
réo rắt của một cung đàn kim cổ, âm thanh dội qua bờ bên
kia rồi quay lại trên đầu những dợn sóng lăn tăn, đuổi
theo con thuyền đang thong thả tay chèo ngược dòng Hương
Giang lên điện Hòn Chén. Con thuyền lướt trên vùng nước
bàng bạc màu xanh lục thủy trông khác ngày thường, không
còn xuôi ngược tảo tần như mọi khi, mà thong dong như
một gã tài tử lỏng buông tay khấu, với những chuỗi phướn
xanh đỏ đủ màu phất phơ trước gió và cạp điều thắt
lưng, lọng vàng sáng chói, trông ngoạn mục giữa cảnh đất
trời u mặc sau cơn mưa. Cũng trong không gian mộc mạc không
lời của trời mây cây cỏ trong đáy nước, âm giai nhị hồ,
nguyệt cầm, sáo trúc, kèn và trống chầu văn chỏi lên những
tấu khúc lạ lẫm như của những tay chơi ngoại cuộc hào
hoa, kích động một thớ giây thần kinh nào đó trong cơ thể,
lóe sáng trong tim một ánh vui như màu hồng sen cánh gián của
hoa đông lan đang lấp ló trong khóm lá xanh bết bùn của trận
mưa ngâu trước ngõ. Nhịp chân của ai đó trên đường đi
bỗng dừng lại nửa giây, như để đưa đà vọt lên cao trong
một vũ điệu giật gân, cùng lúc với cái ngảnh đầu nhìn
ra sông thu nhận con thuyền trẩy hội đang chuyển động trong
võng mô.
Hình
như hàng năm, nghi lễ không gian và thời gian vẫn là những
vết xe quay tròn một chu kỳ, chỉ có cơn mưa, dù đã nghìn
năm cổ độ, cũng như tiếng đàn vọng từ bách thiên vạn
kiếp tuy đến đúng hẹn mà vẫn đột ngột, bất ngờ gây
cảm, đánh nhẹ trên phím đàn bỏ quên ngày tháng, nhắc nhở
lòng người rằng, từ đây cho đến khi mảnh trăng thượng
tuần mới mẻ xuất hiện cùng với sao hôm là Huế đang ở
trong thượng tuần tháng bảy, mùa Vu Lan đang đến! Mỗi năm
và mấy mươi năm sau, vẫn mưa ngoài ngõ, vẫn tiếng đàn
réo rắt trên sông vào một chiều bãng lãng với con trăng
thượng tuần treo nơi đầu núi, Vu Lan Huế!
Vu
Lan Huế đã đến trong tuổi thơ của tôi như thế, trong bầu
trời tháng bảy của vùng đất Linh Mụ cùng với bóng dáng
thân thiết vào ra của bà và của mẹ trên các lối đi về.
Cùng
với tiếng mưa và âm vang của đàn sáo trên sông, câu chuyện
cổ tích ban đêm không còn khúc khích với “con trâu cười
con cọp đến rụng hết cả hàm răng”, với “nắm xôi Bờm
cười”, với “bắt cô trói cột” hay “trâu cột ghét
trâu ăn”… Áp đầu vào ngực của bà, nghe giọng kể chuyện
trầm đều dần dà đượm vẻ huyền bí mủi lòng với hồn
ma Cúc Hoa thương con hiện về bắt chí cho con bên mộ trong
truyện Phạm Công Cúc Hoa, hay ấm áp sùng thượng cảm kích
với tấm lòng chí hiếu của Mục Kiền Liên nguyện đi cứu
mẹ từ hỏa ngục. Trong cơn mộng mị, chiếc thuyền ngũ sắc
trôi bồng bềnh giữa tiếng hoà tấu ngũ âm theo với giòng
mưa, đong đưa như một chiếc võng, có thể “trôi” trên
đất liền và “đi” bộ trên sông! Vũ trụ không còn hạn
hẹp mà mở ra với nhiều tầng thế giới. Nhân gian và địa
ngục chỉ cách nhau một nét chập chờn giữa ánh trăng và
bóng lá, không thế giới nào thực hơn thế giới nào…
Mấy
nghìn năm thuở trước thời Đức Phật mà như mới hôm qua…Mấy
tầng thế giới như vừa xích lại gần nhau… bằng tấm lòng
THƯƠNG MẸ của Mục Kiền Liên Bồ Tát, một trong những đệ
tử gần gũi nhất của Đức Phật, có thiên khiếu nhìn thấu
suốt mấy cõi trời, bằng con mắt có thể vén màn vô minh
đã nhìn được mẹ đang bị trừng phạt trong chốn A tì.
Mục Kiền Liên đi tìm mẹ, một “vong nhân” vì đã sống
thiếu lòng nhân ái nên bị đày đọa trong chốn địa ngục
tối tăm. Mục Kiền Liên đi vào điạ ngục cũng không khác
chi một Orphée (3) của thần thoại Hy Lạp đi tìm người yêu
trong cõi chết hay một nghệ sĩ ôm đàn lang thang muôn kiếp
qua nhiều cõi ngân hà để một ngày vào độ trăng rằm chay
đàn cứu độ những kẻ đọa đày trở lại làm người trên
thế gian. Cũng thế, chiếc bồn tên gọi là Vu Lan Bồn
– cái chậu chứa đựng những định lực tu chứng thâm hậu
nhất của những đệ tử Đức Phật có thể giúp chuyển
nghiệp ác của một ngạ quỉ sang nghiệp lành của một con
người – có mãnh lực cũng chẳng khác chi tiếng
sáo của Orphee dẫn đường cho Euride trở lại thế gian hay
tiếng trống chầu văn của nghệ nhân trên điện Hòn Chén
đưa người đồng xuất thần nhập cốt. Vạn vật hoà đồng
trong một vũ trụ không có phân ranh, “ở vào chốn không
vang đi vào chón không phương… để chơi bên miền không mối,
ra vào chỗ không bờ cõi …” (Trang Tử, Nam Hoa kinh, bản
dịch của Nguyễn Hiến Lê, nxb Văn hoá, 1994, chương XI, “Tại
Hựu”, tr. 260
Thế
giới Vu Lan đã mở ra trong trí tưởng trẻ thơ của tôi từ
những mảnh cảm thức trực quan như thế, nhưng cũng từ đó,
không cần giải thích thêm, đứa trẻ đã sốngVu Lan, đã
hiểu được qua Vu Lan chữ HIẾU gắn liền với chữ THƯƠNG,
không hạn hẹp mà rộng mở cho vô lượng chúng sinh: “tháng
bảy ngày rằm xá tội vong nhân”. Không cần mở trang sách
giáo khoa thư vỡ lòng “tháng giêng là tháng ăn chơi...”
cho đến tháng bảy ngày rằm… Vu Lan cũng đã được cảm
nhận như là một ngày lễ hội tôn giáo trong năm rất gần
gũi với con người, gần gũi như tình mẹ thương con, con thương
mẹ, như mưa ngoài sông, như trăng lên đầu ngõ, như tiếng
nhạc lạ lùng trên sóng nước. Nhưng Vu Lan cũng đồng thời
là CƠ HỘI SIÊU THOÁT của con người trên thế gian có thể
vượt giới hạn của mình trên bước đường chuyển hoá
để giải phóng cho mình và cho người. Bằng hạnh lực của
chính mình con người có thể “xá tội vong nhân”, -
“xá tội” chứ không “rửa tội” – vong nhân vô
lượng vì mê lầm phải ở chốn ngục tì vô minh trở lại
thành người nơi thế gian. Ý nghĩa của ngày Vu Lan rộng lớn
bao trùm cả vũ trụ nhân sinh, tưởng như sẽ không thấu hiểu
hết được đối với những trí óc còn non nớt thơ sinh hay
ngu muội, nhưng có lẽ sự diệu kỳ của bước chuyển hóa
“xá tội đổi nghiệp”, đổi nghiệp “bát cơm lửa”
thành nghiệp “bát cơm lành” không nằm trên bờ luận lý
phân chia, mà ở nơi một tiếng đàn đang rơi xuống mặt
nước sông Hương, bỗng hoá nên đơn giản!
Vu
Lan Huế đơn giản và hồn nhiên như con thuyền ngược giòng
Hương Giang qua chùa Linh Mụ trầm tư quán tưởng rồi bỗng
ca nhạc vang lừng xanh đỏ thẳng tay chèo đến điện Hòn
Chén nhảy múa lên đồng, đến nỗi cái nhìn của người
Phật tử chân chính, của quí ôn (ông – tiếng địa phương)
quí thầy lắm khi trở nên nghiêm khắc đối với hiện tượng
gần như lạc hướng này.
Sau
mấy tháng kiết hạ giữ giới và chiêm nghiệm quán tưởng,
rằm tháng bảy là ngày trăng tròn đầu tiên được xem là
ngày giác ngộ giải phóng cho tất cả chúng sinh từ con người
giới hạnh cho đến những con người tha hóa, từ con người
đang sống trên thế gian cho đến những hồn ma bóng quế trong
chốn ngục tù tối tăm. Ngày rằm tháng bảy là ngày tự tứ
đầu tiên Phật trở lại giảng kinh và cũng là ngày Mục
Kiền Liên theo lời Phật mang “bồn Vu Lan“ đi quanh đảnh
lễ những vị A La Hán xin nhờ trợ lực cứu mẹ ra khỏi
đọa đày. Với TÌNH THƯƠNG MẸ Mục Kiền Liên đã thực
hiện cơ hội giải phóng giác ngộ thành Phật mở rộng đến
những cõi âm ti, đem từ bi và hi vọng đến những nơi vô
vọng nhất của con người. Cái chết không còn là một đe
dọa sợ hãi và những vong linh có thể hoá kiếp trở lại
trên thế gian. Cho nên Vu Lan là ngày hội của chúng sinh
đồng đẳng!
Cho
nên lòng người náo nức niềm vui hoá kiếp sinh linh, náo nức
như chính mình cũng đang hoá kiếp, khi nghĩ rằng những người
khuất mặt đang chờ ngày cửa ngục được mở rộng để
trở lại nhân gian, nhân gian như nơi chốn làm người đang
là vị Phật sẽ thành !
Tôi
đã sống những ngày náo nức như thế từ khi mảnh trăng
thượng tuần lơ lửng trên đỉnh núi Kim Phụng mỗi ngày
một tròn thêm. Có một sự chờ đợi nôn nao, như người
bên ni sông chờ người bên tê sông khi chợt nhận ra chiếc
thuyền thấp thoáng trong tầm nhìn. Tôi đã thấy sự háo hức
của bà của mẹ, của các mợ, các dì, các cô, những người
đã làm mẹ nên biết thương mẹ đậm đà, nhớ mẹ từng
giây, trong những ngày từ mồng chín dến mười lăm. Họ hẹn
nhau đi từng đoàn đến các chùa lạy Phật. Huế có bao nhiêu
chùa thì họ đi đến bấy nhiêu, cầu nguyện và đảnh lễ
Phật hầu như không mệt mỏi. Đối với họ - và về sau
cũng đối với tôi - mỗi lần cúi lạy là một lần
gần thêm với mẹ đã xa cách nghìn trùng, mỗi lần đem cơm
cho những kẻ khốn cùng là một cơ hội chuyển chén than thành
cơm trắng ngọt ngào ở nơi cõi xa nào đó chưa hề bước
tới. Huế tưng bừng nơi từng gốc cây cổ thụ với các
buổi cúng cơm cho vong nhân khuất mặt, những buổi cúng thị
thực ngoài trời cho cả thiên thần quỉ vật. Vu Lan là một
ngày lễ thánh thiện nhân ái nhất trong năm với tấm lòng
tự nguyện từ bi hỉ xả cho muôn loài.
Tôi
vẫn còn nhớ nụ cười tươi rói của mợ Luân hàng năm khi
kể cho tôi nghe mợ đã đi lạy Phật nơi mấy mươi chùa,
và Linh Mụ sẽ là ngôi chùa cuối cùng dành cho ngày mười
bốn mười lăm. Tiếng cười trong sáng bỗng trầm xuống pha
lẫn chút tinh ma cấm kỵ khi mợ báo tin đã thuê thuyền vào
đêm mười bốn để chị em cùng nhau lên điện Hòn Chén coi
lên đồng – mà đừng “ mét” ôn Linh Mụ (Hòa thượng
Đôn Hậu trụ trì chùa Linh Mụ) không thôi sợ ôn la – sáng
hôm sau sẽ về lễ Phật tại chùa Linh Mụ.
Hàng
năm và hàng năm đó là hành trình Vu Lan Huế. Vu Lan Huế bắt
đầu bằng một nẻo đường tâm cảm huyền bí, bằng con
thuyền ngược bến Linh Mụ lên điện Hòn Chén để sống
những buổi lễ hoá thân như một hình thức thoát xác, chuyển
hoá bằng những phút xuất thần, bằng tiếng nhạc om thòm
ma quái giựt gân, một nghi lễ “chuyển bờ” từ địa ngục
lên đến nhân gian, từ nhân gian lên đến cõi trời. Trong
tuổi thơ, chiếc thuyền với cung đàn réo rắt đã trở nên
một linh cảm về những thế giới ngoài tầm giới hạn của
ba chiều không gian…
Mấy
mươi năm sau trở lại Huế, đã là một Phật tử thuần thành
học Phật nhiều năm, tình cờ vào dịp Vu Lan, cùng với con
tôi lại ngược dòng Hương Giang – lần này trốn ôngTừ
Đàm – chúng tôi đi thuyền lên điện Hòn Chén để xem lễ
rước Cha rước Mẹ như mọi năm. Ấn tượng của các buổi
lên đồng không còn huyền bí mê hoặc như trong thời thơ
ấu, có một lúc tôi đã nghĩ điện Hòn Chén không thuộc
vào ngày lễ Vu Lan đầy ý nghĩa nhân bản và giác ngộ, nếu
không có cơn mưa chợt đến trong đêm. Tiếng mưa trên sông
và sóng vỗ mạn thuyền nơi bến Hòn Chén hoang vu gây một
âm vang kỳ diệu như tiếng chân của những người trở lại
cõi trần. Từ thuyền nhìn ra thấy sông nước mênh mông một
màu đen huyền hoặc, những bong bóng nhảy múa sáng lấp lánh
của muôn nghìn giọt mưa vỡ ra trên sông, bỗng hiển hiện
trong tâm lời kinh “tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn
bào ảnh, như sương như điển chớp”. Sáng sớm hôm
sau thuyền về bến Linh Mụ khi trăng khuya chưa tàn và hồi
chuông công phu buổi sáng vừa điểm. Không khí như ở nơi
Niết Bàn sau những ngày quanh co trên những nẻo đường từ
những cõi mộng huyển bào ảnh – với những ngụm trà ướp
sói thong thả từng ngụm từng ngụm ấm và thơm, không một
lời…
Trở
về nhà tôi đọc cho con nghe lời của Phật trong buổi giảng
cho Mục Kiền Liên :
“Này
các tỳ kheo, thượng đế cư ngụ trong những gia đình nào
có con cái kính yêu cha mẹ. Nhhững hiền triết bậc nhất
cư ngụ ở trong những gia đình nào có con cái kính yêu cha
mẹ. Những thần linh bậc nhất cư ngụ nơi những gia đình
có con cái kính yêu cha mẹ. Những người đáng tôn thờ cư
ngụ trong những gia đình có con cái kính thương cha mẹ.
Này
các tỳ kheo, “thượng đế” là danh xưng của mẹ và cha;
này các tỳ kheo, những vị “hiền phụ bậc nhất”, đó
là danh xưng của mẹ và cha, những “vị thánh bậc nhất”,
đó là danh xưng của cha và mẹ; những “người đáng cầu
khẩn tôn thờ”, đó là danh xưng của cha và mẹ. Nhưng vì
lý do gì? Bởi vì, này các tỳ kheo, bởi vì cha mẹ đã làm
rất nhiều cho các con. Cha mẹ là người sinh thành, là người
dưỡng dục nuôi nấng, là người hướng dẫn con cái vào
đời.
Kệ
rằng :
Thượng
đế là mẹ cha
Thầy
đời là mẹ cha
Mẹ
cha nên thờ kính
Mẹ
cha thương muôn loài
Hiền
giả kính cha mẹ
Dâng
cúng nước và cơm
Áo
mặc và giường nằm
Tắm
rửa và xoa bóp
Săn
sóc đến tay chân
Kẻ
nào dưỡng mẹ cha
Ở
đây được ngợi ca
Của
những kẻ hiền giả
Ở
đó được hưởng phúc
Của
trời dành ban cho.
(Kinh
Anguttara-Nikaya, quyển IV, trang 70, bản dịch từ tiếng
Phạn của Nyanatiloka, dịch từ bản Đức ngữ)
Tôi
đã cùng đọc kinh với con trong khu vườn Linh Mụ, khi ngoài
sông thấp thoáng con thuyền tài tử chở chiếc đàn Orphée
xuôi dòng Thuận An…
Ghi
chú:
(1)
Lấy ý từ bài thơ của Hòa Thượng Mãn Giác:
Ô
hay xuân đến bao giờ nhỉ
Nghe
tiếng hoa khai bỗng giật mình
Sáng
nay thức dậy choàng thay áo
Vũ
trụ muôn đời vẫn mới tinh
(2)
Cổ kiềng: cổ áo của một loại áo ngắn như kiểu áo bà
ba trong Nam, cổ áo ôm sát cổ và được may viềng nẹp như
cái kiềng, người Huế gọi là áo cổ kiềng
(3)
Orphée hay Orpheus: nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, là một
nghệ sĩ có giọng ca và đàn ly cầm rất hay, con của nàng
thơ Kalliope va Apoll, Orphée có thể dùng tiếng đàn và lời
ca mê hoặc ngay cả những con thú hoang dại cũng như sỏi đá
và cây cỏ. Nhờ giọng ca, Ophée thuyết phục được những
vị thần ở dưới điạ ngục cho phép Eurydike người vợ
thân yêu đã chết trở lại cõi trần với chàng. Trên đường
đưa vợ từ địa ngục trở về, khổ thay chàng đã quên
lời dặn của các vị thần không được quay sang nhìn Eurydike,
không nhịn được lòng nhớ mong chàng quay sang nhìn nàng và
Eurydike phải quay về địa ngục.
Thái
Kim Lan
(Phật
Tử Việt Nam)
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan