TINH
THẦN CẦU NGUYỆN TRONG KINH VU LAN
Quảng
Tánh
Kinh
Vu Lan (Ullambana Sutra), một bản kinh ngắn nhưng hàm súc, tràn
đầy ý nghĩa nhân văn, chan chứa đạo lý, thấm đẫm tình
người và đặc biệt là giá trị giáo dục nhân cách với
đặc trưng hiếu đạo. Vì thế, kinh Vu Lan đã chinh phục lòng
người, in đậm trong tâm trí, thấm sâu vào máu thịt của
tất cả những người con Phật.
Xuất
phát từ Phạn ngữ, kinh Vu Lan được ngài Trúc Pháp Hộ (Dharmaraksa)
dịch sang Hán ngữ vào thời Tây Tấn (thế kỷ III Tây lịch).
Sau đó, kinh được truyền tụng rộng rãi và thu phục nhân
tâm nhanh chóng, làm tiền đề để mở ra truyền thống Báo
hiếu - Thắng hội Vu Lan, phổ biến ở các nước Phật giáo
Bắc tông.
Kinh
Vu Lan thuật chuyện Tôn giả Mục Kiền Liên với thần lực
đệ nhất mà vẫn không cứu được mẹ nơi cảnh khổ ngạ
quỷ. Sau đó, vâng lời Phật dạy, Tôn giả đã thiết lễ
trai nghi dâng cúng chư Tăng sau lễ Tự tứ, kết thúc mùa An
cư kiết hạ, nhờ hợp lực chú nguyện của chư Tăng mà mẹ
ngài thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ, sanh về cõi trời. Phát
xuất từ nhân duyên này, cúng dường Vu lan để báo hiếu
cho cha mẹ quá vãng trở thành phương pháp báo hiếu phổ biến
hiện nay.
Vấn
đề đặt ra là phương pháp báo hiếu được Phật giới thiệu
trong kinh Vu Lan phải chăng chỉ dựa vào tha lực, tức nhờ
chư Tăng chú nguyện mà được thoát khổ? Như thế thì điều
ấy có mâu thuẫn với nhân quả-nghiệp báo không? Trong khi
"hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi" hay tự lực vẫn là
tinh thần chủ đạo, xuyên suốt và nhất quán trong toàn bộ
Thánh điển Phật giáo.
Nói
về cầu nguyện, quan điểm của Thế Tôn được trình bày
rất rõ ràng trong kinh Tương Ưng Bộ IV (Tương ưng thôn trưởng)
và kinh Tăng Nhất A Hàm I (kinh Ca Di Ni). Nội dung của hai bản
kinh này khá giống nhau, đều xác quyết rằng cầu nguyện
suông, dựa vào tha lực không thể làm thay đổi nghiệp báo
của một cá nhân. Bằng hình ảnh cụ thể với những đặc
tính đối lập, một tảng đá và một thùng dầu, cả hai
được ném xuống dòng sông, đá nặng chìm xuống và dầu
nhẹ nổi lên. Không có một sự tập trung cầu nguyện nào
có thể can thiệp vào sự chìm của đá và sự nổi của dầu,
vì đặc tính của đá và dầu vốn dĩ như thế. Qua đó, Thế
Tôn khẳng định nếu tạo nghiệp đen thì chịu quả báo đen
và tạo nghiệp trắng thì được hưởng quả báo trắng, cầu
nguyện không thể làm thay đổi nghiệp lực, nhất là khi nghiệp
đã chín muồi. Rõ ràng, cầu nguyện để mong giải tội, xóa
sạch ác nghiệp đã tạo, phó thác hoàn toàn vào tha lực như
các Bà la môn hằng tin tưởng là một việc làm vô ích.
Tuy
nhiên, cầu nguyện vẫn là một trong những nội dung tu tập
trong đạo Phật. Sự cầu nguyện ấy phải được nhận thức
như là sự mong ước chuyển hóa nghiệp lực đối với tự
thân đồng thời soi sáng, hỗ trợ cho tha nhân chuyển hóa
nghiệp lực của chính họ, kể cả người chết. Và như thế,
nội dung cầu nguyện trong Phật giáo không đơn thuần và hời
hợt thuần túy dựa vào tha lực hoàn toàn mà chủ yếu là
tinh thần tự lực cùng với trợ duyên của tha lực. Ai đã
từng cầu nguyện thì kinh nghiệm rõ ràng là không phải bất
cứ điều gì mình cầu nguyện cũng được như ý. Theo Phật
giáo, đó không phải vì chư Phật, Bồ tát không gia hộ mà
người cầu nguyện phải xem xét sự tự lực của mình đã
đạt đến ngưỡng để "cảm ứng đạo giao" hay chưa? Cảm
ứng đạo giao là kết quả của quá trình nỗ lực, thành
tâm, tịnh tín và chuyển hóa trọn vẹn. Cầu nguyện trong
Phật giáo, có thể nói là một phương pháp đánh thức, thức
tỉnh để chuyển hóa mang đậm sắc thái tự lực.
Đối
với sự cầu nguyện của chư Tăng được đề cập trong kinh
Vu Lan, trước hết phải quán triệt vấn đề "nhất thiết
duy tâm tạo". Từ nơi tâm, những ác nghiệp của bà Thanh Đề
(mẹ Tôn giả Mục Kiền Liên) được tạo ra rồi tự chiêu
cảm lấy quả báo. Gió nghiệp làm quay cuồng và mụ mị tâm
thức của bà nên chỉ luẩn quẩn trong vòng tròn khép kín
đói khát, khổ bức cùng tham sân, bỏn sẻn, tật đố. Sự
thống khổ bức bách cùng cực đến độ không một sát na
ngừng nghỉ. Vì thế, cần phải làm lắng dịu nỗi khổ và
đánh thức sự mê mờ triền miên ấy. Do đó, cần có sức
mạnh tâm linh cao độ, phát huy tổng thể năng lượng giới
định tuệ của chư Tăng, tập trung hướng về để tưới
tẩm, soi sáng, thức tỉnh tâm hồn bà.
Để
thực hiện được điều ấy, thỉnh cầu chư Tăng chú nguyện
sau lễ Tự tứ là tối cần thiết. Sau ba tháng cấm túc an
cư, nhất là sau Tự tứ, đa phần chúng Tăng đều có tiến
bộ tâm linh rõ rệt, giới định tuệ sung mãn, tâm hoàn toàn
thanh tịnh. Thời Thế Tôn tại thế, số lượng chư Tỷ kheo
dự phần vào các quả Thánh tăng lên đáng kể sau mỗi mùa
an cư. Khi chư Tăng hợp lực chú nguyện, nguồn năng lượng
tuệ giác và từ bi hướng về cảnh giới ngạ quỷ, tưới
tẩm cam lộ làm cho nóng bức trong địa ngục dịu xuống,
niệm đói khát như lửa cháy thiêu đốt tâm can tạm thời
an tịnh, tâm thức mê mờ triền miên chợt bừng tỉnh. Đây
là cơ hội quý giá thật hy hữu cho các chúng sanh trong cảnh
khổ thức tỉnh, chuyển hóa để tự vượt thoát. Trong thời
điểm ấy, khi sự đau khổ tạm thời gián đoạn, nếu các
chúng sanh biết tận dụng cơ hội hiếm hoi này phát khởi
thiện tâm, tưởng nhớ đến Tam bảo, tuệ giác được sanh
khởi thì tự khắc sự chuyển hóa sẽ xảy ra.
Địa
ngục do ác tâm keo kiệt, bỏn sẻn, tham lam và bất kính Tam
bảo tạo ra chiêu cảm đói khát, khổ bức của ngạ quỷ
thì cũng ngay nơi tâm ấy thức tỉnh, bừng sáng để chuyển
hóa, giải thoát; "nhất thiết duy tâm tạo" là vậy. Chư Tăng
chỉ có vai trò soi sáng, trợ duyên, tiếp sức cho quá trình
chuyển hóa đó, mang tính thụ động. Chính các chúng sanh phải
chủ động tỉnh thức để chuyển hóa nghiệp lực của mình.
Trong trường hợp, những chúng sanh nghiệp chướng nặng nề,
chấp nhận lấy khổ làm vui, không phát khởi tuệ giác thì
chắc chắn sự giải thoát khó có thể thành tựu.
Ác
tâm đẩy một chúng sanh sa vào địa ngục thì thiện tâm của
chúng sanh ấy đưa họ ra khỏi cảnh khổ. Không ai có thể
làm thay họ chuyện này mà mỗi cá nhân phải nương vào nguyện
lực, sức từ bi của Tam bảo để tự cứu lấy mình. Dù
hoàn toàn chủ động, tự lực nhưng các chúng sanh trong cõi
khổ rất cần sự hồi hướng phước báo, nhất là sự trợ
duyên và soi sáng từ Tam bảo, vì thế không thể thiếu sự
hợp lực chú nguyện, gia hộ của chư Tăng. Đây chính là
tinh thần cầu nguyện trong kinh Vu Lan.
Do
vậy, muốn Pháp sự cúng dường Vu lan để báo hiếu cho thân
bằng quyến thuộc quá vãng có lợi ích thiết thực phải
hội đủ các yếu tố cần thiết. Trước hết là sự thành
tâm tịnh thí của gia chủ. Sự tịnh thí không phải ở nơi
vật phẩm dâng cúng nhiều hay ít mà là tâm thành, nguyện
thiết, mong muốn thân nhân thoát khổ với lòng hiếu thảo
thực sự. Tiếp đến là sự nhất tâm cầu nguyện của chư
Tăng. Bởi nếu không nhất tâm thì nguyện lực bi trí không
đủ mạnh để xoa dịu thống thổ và khai mở tuệ giác cho
chúng sanh thức tỉnh. Quan trọng nhất vẫn là sự tiếp nhận
nguồn năng lượng an lạc, giải thoát từ Tam bảo để chúng
sanh tự thức tỉnh, chuyển hóa và tự thăng hoa.
Như
thế, dù có hình thức cầu nguyện nhưng nội dung vẫn mang
sắc thái tinh thần tự lực. Đây là tuệ giác cần phải
thẩm sát để nhận thức đúng đắn về tinh thần cầu nguyện
trong Phật giáo.
Quảng
Tánh
(TC.
Giác Ngộ)
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan