VU LAN TRUYỀN
THỐNG CỦA ĐẠO HIẾU
Thích
Thông Huệ
Cứ
mỗi năm đến ngày Rằm tháng Bảy, tất cả người con Phật
đều nhớ đến trách nhiệm báo ân báo hiếu đối với hai
đấng sanh thành. Hàng Phật tử khắp năm châu bốn bể cùng
nhau long trọng tổ chức đại lễ Vu Lan, nương vào uy đức
ngôi Tam bảo, cầu nguyện cho cha mẹ còn sống được an lạc
trong chánh pháp, cha mẹ đã qua đời siêu sinh về các cõi
lành. Thương cha kính mẹ được coi như truyền thống tốt
đẹp lâu đời của mỗi người dân Việt. Tình thương đối
với cha mẹ luôn luôn là mối ân tình thiên liêng nhất.
Từ
thuở xa xưa đến nay, tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả
Mục Kiền Liên vẫn mãi mãi soi sáng, làm thắm đượm nhân
tình. Sau khi thành đạt đạo qủa A La Hán, ngài Mục Kiền
Liên dùng thiên nhãn quan sát khắp, thấy mẹ mình bị đọa
đày làm loài quỷ đói. Ngài là hàng đệ tử thần thông
đệ nhất, tin rằng sẽ cứu được mẹ qua cơn đói khát
đày đọa tấm thân. Ngài với hai tay cầm bát cơm vừa đưa
ngang miệng, thì than ôi, cơm hóa thành than hồng, không thể
ăn được! Tôn giả chính mắt chứng kiến cảnh tượng này,
lòng đau khổ vô cùng. Tôn giả trở về xin Phật mở lương
từ bi cứu độ mẹ Ngài. Phật dạy: "Mẹ ông đã nhiều kiếp
gieo nhơn xan tham keo kiệt, nên nay phải chịu qủa báo làm
loài quỷ đói. Một mình ông không thể cứu được. Phải
nhân ngày Rằm tháng Bảy, tổ chức cúng dường Phật và chúng
Tăng mười phương, nhờ vào uy lực và sức chú nguyện của
Phật và chúng Tăng mười phương thì mẹ ông mới có thể
siêu thoát được". Sau đó, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo
lời Phật dạy, đến ngày Rằm tháng Bảy đem phẩm vật đến
cúng dường chúng Tăng mười phương. Mẹ của Ngài nhờ uy
đức phước lực của chúng Tăng và lòng chí thành chí kính
của Ngài, sớm được thoát khỏi nỗi thống khổ của loài
quỷ đói, siêu sinh về cõi lành.
Từ
đó, ngày Lễ Vu Lan được tổ chức long trọng để hàng Phật
tử câu hội về ngôi Tam bảo, cúng dường đức Phật và
chúng Tăng, cầu cho cha mẹ còn sống được thân tâm an lạc,
sau khi mạng chung được sanh về cõi lành.
Về
phương diện giáo dục đạo đức của đạo Phật, một điểm
đáng ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là
nền tảng đạo đức của đạo làm người cho ra người.
Chúng ta có thể trang trải tình thương đến tất cả mọi
loài mọi vật, nhưng điểm xuất phát làm nền tảng phải
từ sự hiếu kính cha mẹ. Một người có thể thương đủ
thứ người, tình thương đó trùm hết muôn loài vạn vật,
nhưng nếu không thương kính cha mẹ thì tình thương đó e
thành giả dối, vì không có gốc rễ, không được lập cước
từ căn bản. Cho nên hiếu đạo xưa nay vẫn thường được
đề cao trong phạm vi luân lý đạo đức. Nếu chưa thực hiện
hiếu đạo ngay trong đời sống gia đình đối với cha và
mẹ thì chưa thể xứng đáng là một con người. Người xưa
có câu: "Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên". Ngay như
người xuất gia học đạo, vẫn còn phải cưu mang bốn ân
nặng là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân quốc gia và ân Tam bảo.
Trong bốn ân thì ân cha mẹ vẫn còn là mối ân tình sâu đậm
với mỗi người xuất gia tu Phật. Trong "Cư trần lạc đạo"
của Trần Nhân Tông, viết:
Tụng
kinh niệm Bụt
Chùa
Thánh khẩn cầu
Tam
hữu, Tứ ân
Ta
nguyền được trả
Vì
công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ quá là cao dày,
nên Kinh Thi có câu: "Phụ hề sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã,
Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiệu thiên
vãng cực" (Cha sanh ra ta, Mẹ nuôi nấng ta, Thương cha mẹ
lắm, vì sinh ta nhọc nhằn, đến khi muốn báo đáp ân sâu,
thì than ôi, trời cao không cùng!).
Công
ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ quá là lớn lao, như
trời cao. Khi người con muốn đền đáp ân sâu thì lúc đó
như trời cao vói không tới. Từ khi cưu mang đến mở mắt
chào đời, trưởng thành và lớn khôn, cha mẹ phải chịu
biết bao là khổ sở, nhọc nhằn. Thế mà khi sức sống đã
truyền hết cho con thì cha mẹ hơi tàn sức tận, rồi trở
thành "người thiên cổ". Ai có lớn lên từng nếm mùi cay
đắng, thấm gót phong trần thì mới thấm thía cái ơn của
cha mẹ mình. Một người biết đến điều ân nghĩa, chắc
chắn không dám vội quên cái ơn của cha mẹ. Phật dạy: "Này
các Tỳ kheo, có hai hạng người, ta nói là không thể trả
ơn được. Thế nào là hai? Đó là mẹ và cha. Nếu một bên
vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt một
trăm năm, cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy, này các
Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha. Nếu
đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy, mẹ
cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các Tỳ
kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha ..." (Kinh
Tăng Chi 1, 75).
Ca
dao Việt Nam có câu:
Công
cha như núi Thái Sơn
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một
lòng thờ mẹ kính cha
Cho
tròn chữ Hiếu mới là đạo con
Vậy
người cha, nổi bật là đức nghiêm. Có nghiêm mới giáo dục
con cái có đạo đức, có văn hóa, sau trở thành người đủ
tài đủ đức, nên tính đức người cha sừng sững, vòi vọi
như núi Thái Sơn. Còn tính đức của người mẹ thì muốn
con có cuộc sống no ấm, đủ đầy. Người mẹ lại thường
gần gũi, an ủy, vỗ về con cái hơn, nên tình nghĩa của người
mẹ, nó đậm đà, da diết như suối nguồn bất tận.
Suối nguồn tình thương của người mẹ, nó dịu dàng, đầm
ấm, âm thầm tuôn chảy không bao giờ dừng nghỉ. Nên trách
nhiệm người con là phải "một lòng thờ mẹ kính cha ...".
Phật
dạy trong kinh Nhẫn Nhục: "Cùng tột điều thiện không
gì hơn là hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn là bất
hiếu".
Một
kẻ đã bất hiếu với cha mẹ là kẻ đã vong ân bội nghĩa,
kẻ đã vong ân bội nghĩa thì không còn sự xấu ác nào ở
trên thế gian mà họ không dám làm, kẻ ấy đã quyên cội
nguồn.
Có
gì sung sướng bằng khi chúng ta còn cha còn mẹ. Mỗi khi mùa
Vu Lan về, chúng ta được cài lên áo chiếc hoa hồng tươi
thắm. Sự hiện hữu của cha mẹ trong gia đình khác nào sự
hiện hữu của các thiên thần. Còn cha còn mẹ là còn Phật
trong nhà, nên Phật dạy: "Cha mẹ tại đường như Phật
tại thế". Muốn đạt được tâm Phật, không gì hơn
giữ gìn tâm hiếu; muốn đạt được hạnh Phật, không gì
hơn giữ gìn hạnh hiếu, nên Phật dạy: "Tâm hiếu là
tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật". Vì mải lo kính
thờ Phật bên ngoài mà quên kính thờ Phật trong nhà, nên
có câu: "Phật trong nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài
đường".
Phật
dạy: "Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các
con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào,
này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong
nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư
thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các
con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận là đáng được cúng dường".
"Phạm
Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các đạo
sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.
đáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa
với mẹ cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ
kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng
dục chúng, giới thiệu chúng vào đời" (Phật thuyết như
vậy, Cat, 7-503).
Ân
sâu nghĩa nặng của cha mẹ có thể kết thành những vần
thơ tuyệt tác nhất. Và tự nhiên, hạnh hiếu được coi là
đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất trong
mọi thời đại, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Dùng bút
mực để diển tả trong ân của cha mẹ vẫn còn mãi với
kiếp sống con người. Vậy thì, đã là một tử theo chánh
đạo, chúng ta phải báo đáp ân sinh thành dưỡng dục của
cha mẹ thế nào mới xứng đáng? Muốn báo hiếu đầy đủ
nhất phải gồm hai phần: vật chất và tinh thần.
1.
Về đời sống vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng
cha mẹ những nhu cầu cần thiết, để cha mẹ được thảnh
thơi an dưỡng trong tuổi xế chiều.
2.
Về đời sống tinh thần phải thường xuyên khích lệ trợ
duyên cho cha mẹ học hiểu chánh pháp, biết tránh ác làm lành,
giữ gìn ba nghiệp lành, tiến đến giải thoát an vui vĩnh
viễn.
Đức
Phật dạy: "Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng,
dâng cúng với của cải, vật chất, tiền bạc thì không bao
giờ đủ để đáp đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỳ kheo,
ai đối với cha mẹ không có lòng tin Tam bảo thì khuyến khích
có lòng tin Tam bảo, đối với cha mẹ sống tà giới thì khuyến
khích vào chánh giới, đối với cha mẹ gian tham thì khuyến
khích bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích
vào chánh kiến. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo, là đền
đáp xứng đáng cho mẹ và cha" (Tăng Chi 1, 75).
Có
một Thiền sư, tuy bản thân xuất gia, nhưng vẫn giữ tròn
hiếu đạo cho đến khi cha mẹ khuất bóng:
Giang
sơn còn nặng gánh tình
Trời
chưa cho nghỉ thì mình cứ đi
Khi
nào trời bảo thôi đi
Giang
sơn cất gánh, ta thì nghỉ ngơi
Trong
mùa Vu Lan năm nay, hàng Phật tử chúng ta nghiêng mình kính
cẩn trước Phật đài, thề nguyền sẽ noi gương hiếu hạnh
của đức Mục Kiền Liên, làm tròn trách nhiệm một người
con chí hiếu chí kính, biết nhớ ơn và đền ơn đối với
hai đấng sinh thành, càng nghĩ đến tất cả chúng sanh trong
pháp giới đều được thoát khổ, đến bờ an vui giải thát.
HIẾU LÀ LẼ
SỐNG
Thích Thông Huệ
Cứ
mỗi lần mùa hiếu hạnh trở về là mỗi lần gợi lên trong
mỗi chúng ta cảm xúc trào dâng về mẹ và cha. Vu Lan
báo hiếu đã nghiễm nhiên trở thành lễ hội văn hóa của
cả dân tộc, lễ hội văn hóa của tình người, của lòng
từ bi ban vui và cứu khổ. Có thể nói, ngày lễ Vu Lan có
tác dụng rất lớn đến quan điểm về cuộc sống của nhân
sinh
.
Nho
giáo có câu: “Thân giả dã, phụ mẫu chi di thể dã”. Nghĩa
là, thân thể của ta chính do cha mẹ để lại. Không những
thế, mà tài sản và tri thức ta đang có đều được tác
thành từ công ơn to lớn của cha mẹ. Vì vậy, mỗi mùa Vu
Lan về là chúng ta càng thương kính cha mẹ nhiều hơn. Hiếu
đạo là chuẩn mực đạo đức của một con người, là căn
bản đạo đức cho sự ổn định của gia đình và phát triển
xã hội. Đã mang thân con người thì nhất thiết ai cũng mang
nặng cái ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Thời đại
văn minh, thời đại công nghệ thông tin, truyền thống giữ
gìn hiếu đạo vẫn phải được đề cao. Như một nhà khoa
học đã từng nói: “Khoa học không lương tâm chỉ là sự
hũy hoại tâm hồn”.
Trong
chúng ta, ai cũng có những cung bậc của tình phụ tử, tình
mẫu tử. Hiếu đạo là chuẩn mực đạo đức có giá trị
chung cho toàn thể nhân loại. Giáo dục hiếu đạo góp phần
vào việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và ổn định
trật tự xã hội.
Những
biểu hiện suy thoái đạo đức từ căn bản bất hiếu mà
ra. Con cái không phụng dưỡng cha mẹ, học trò chửi mắng
thầy cô giáo, đệ tử nói xấu thầy đều là biểu hiện
hành vi vô đạo đức. Chúng ta không biết ơn thì không bao
giờ nghĩ đến việc báo ơn. Chúng ta ai cũng chịu cái ơn
liên hệ của cộng đồng xã hội theo lý duyên sinh. Vì ý
thức sâu sắc sự liên hệ hỗ tương duyên sinh mà nhà Phật
đề cao tinh thần biết ơn và đền ơn. Chính hai nhân tố
này nói lên phẩm cách giá trị của một con người.
Nếu
cha mẹ lo cho chúng ta về phần thể xác, thì thầy cô giáo
cũng chính là cha mẹ chăm sóc nâng đỡ mình trong công tác
văn hóa, tri thức. Còn Thầy dạy đạo tạo dựng cho mình
hành trang vững vàng trên lộ trình tâm linh. Do vậy, ân nghĩa
thế gian và ân nghĩa xuất thế gian người phật tử ai cũng
cưu mang và tìm cách đáp đền. Chính ngày Vu Lan và nội dung
báo hiếu đã góp phần trong công tác văn hóa tư tưởng, thúc
đẩy xã hội phát triển hòa nhịp giữa vật chất, đạo
đức và tri thức. Cũng vì thế, hiếu đạo được xem là
nền móng giáo dục căn bản của kinh điển nhà Phật. Các
vị Bồ Tát vào đời giáo hóa chúng sanh là nêu cao tinh thần
biết ơn và đền ơn. Vì thấu tột lý duyên sinh mà các Ngài
phát đại nguyện độ khắp muôn loài chúng sanh. Trong Kinh
Vu Lan Bồn Sớ có bốn câu kệ:
“Khể
thủ tam giới chủ
Đại
hiếu Thích Ca Văn
Lụy
kiếp báo thâm ân
Tích
nhân thành chánh giác”.
(Cúi
đầu đảnh lễ Bậc giáo chủ ba cõi
Ngài
là Bậc Đại hiếu Thích Ca Văn
Đã
trải qua nhiều kiếp báo thâm ân
Do
nhân duyên đó nay thành Chánh Giác).
Như
vậy, tiền thân quá khứ của Đức Phật Thích Ca đã thể
hiện vô số công hạnh hiếu đạo, nay đủ thời tiết nhân
duyên mới thành Chánh Giác. Sau khi thành đạo dưới cội Bồ
Đề, Đức Phật nhìn thấy tất cả chúng sanh trong quá khứ,
hiện tại đều là cha mẹ của nhau. Hiểu được điều này,
thì dù chúng ta phải bôn ba, ngược xuôi với dòng đời để
kiếm tìm từng miếng cơm manh áo, tạo dựng sinh kế, lo những
điều phải lo, làm những điều phải làm, nhưng hãy thu xếp
quỹ thời gian để sớm hôm phụng dưỡng cha mẹ, đáp đền
ơn sâu. Sự hiện diện của cha mẹ là một niềm hạnh phúc,
việc đền đáp ân sâu nghĩa nặng của cha mẹ là điều may
mắn hạnh phúc không gì hơn.
Ngày
nay trong xu thế khôi phục và phát huy những giá trị văn hóa
đạo đức đang được quan tâm, thì tự nhiên ngày lễ hội
Vu Lan có tác dụng rất lớn đến quan điểm về cuộc sống
nhân sinh trong tinh thần biết ơn và đền ơn. Việc giữ gìn
giềng mối đạo đức, nêu cao hiếu đạo vốn là căn bản
đạo đức của đạo làm người, mang đậm tính nhân văn.
Chúng ta sống như thế nào để ngày nào cũng là ngày Vu Lan,
chứ không riêng chỉ có rằm tháng Bảy. Cầu chúc tất cả
chúng ta đều sống trong mùa Vu Lan miên viễn, đem hiếu hạnh
dâng lên cúng dường Đức Từ Phụ nhân ngày Đại lễ Vu
Lan năm nay./.
CẢM NIỆM
VỀ TỨ ÂN
Thích
Thông Huệ
Ðức
Phật, trước khi dạy môn đệ làm Hiền Thánh, cũng rất xem
trọng tư cách làm người. Con người khi sống trong xã hội
là "sống cùng, sống với", không ai có thể đơn độc mà
tồn tại và phát triển. Nói khác đi, mỗi người chúng ta
đều chịu nhiều ơn nặng, từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt.
Ðạo Phật đề cập đến Tứ trọng ân (ơn cha mẹ, ơn Thầy
Tổ, ơn Tổ quốc và ơn chúng sinh), và ngày Vu lan là dịp
tôn vinh những ân tình ân nghĩa ấy.
Trong
cuộc sống, không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn
cha mẹ, và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của
kẻ mồ côi. Hình ảnh người cha lao động cần mẫn sớm
hôm, người mẹ dịu hiền chăm chút các con từng miếng ăn
giấc ngủ, đã từng là - và mãi là - những cung bậc êm đềm
của bài hợp xướng gia đình. Căn bản đạo đức cũng bắt
đầu từ sự giáo dục của gia đình, vì cha mẹ là chuẩn
mực của các con từ lúc còn thơ ấu. Và mãi mãi về sau,
dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng thấy cha mẹ là chỗ dựa
tinh thần vững chắc. Có thể lúc ta thành công trong sự nghiệp
hay hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi, ta không cảm nhận
rõ điều này. Nhưng khi gặp cảnh ngộ không may, khi bị sóng
đời dập vùi tơi tả, khi hoàn toàn mất niềm tin đối với
người xung quanh, ta mới chợt hiểu rằng, nơi một góc trời
xa yêu dấu, cha mẹ vẫn là chiếc nôi ấm cho mình ru giấc
ngủ sâu, là vòng tay êm xóa tan hết nơi mình mọi buồn đau
hận tủi. Ân sủng thiêng liêng ấy, tình cảm bao la bất tận
ấy, ta có thể tìm được nơi đâu, ngoài cha mẹ của mình?
Ðêm
khuya trăng rụng xuống cầu
Cảm
thương cha mẹ dãi dầu ruột đau.
Người
con xa quê hương, vất vả mưu sinh, có lúc phải tạm quên
cha mẹ. Cũng có khi do mải vui với vợ con bạn bè, nên tình
quê bị lui xuống hàng thứ yếu. Nhưng một hôm nào đó, khi
cuộc vui đã tàn, còn một mình ta trong đêm khuya vắng lặng,
nhìn ánh trăng cô đơn dưới dòng sông, ta chợt nhớ về làng
cũ. Ta chợt nhớ về hai đấng sinh thành tuổi cao sức yếu,
ngày ngày tựa cửa trông ngóng tin con. Ðau lòng lắm khi thấy
mình chưa đền đáp một phần nhỏ công ơn sâu dày của cha
mẹ. Vội vã trở về mong chuộc lại lỗi lầm, thì hỡi ôi,
cha mẹ đã không còn! Hối hận cách mấy, khóc than cỡ nào
cũng không thể kéo lại thời gian đã mất. Nỗi đau này,
niềm hối tiếc này đến bao giờ mới nguôi ngoai!
Mất
cha con cũng u ơ
Mất
mẹ con cũng bơ vơ một mình.
Không
người nào muốn mình mất cha mẹ, nhưng vô thường nào có
tha cho một ai? Vì thế, ngay khi cha mẹ còn sinh tiền, ta nên
biết trân quý từng ngày sum họp, như quý viên ngọc vô giá
đang cầm trên tay mà chắc chắn không thể giữ được vĩnh
viễn. Sự trân quý ấy, kết hợp với sự biết ơn và thương
kính chân thành đối với cha mẹ, là những điểm xuất phát
của lòng hiếu thảo. Chúng ta biết ơn cha mẹ vì thân ta do
cha mẹ mà có, nhờ cha mẹ mà trưởng thành. Chúng ta thương
cha mẹ khi ta còn thơ dại, vì cha mẹ là nơi nương tựa vững
chãi bình an nhất. Ta thương cha mẹ khi ta khôn lớn, vì biết
mỗi ngày ta sống hạnh phúc ấm no là một ngày ta rút bớt
sức lực của các Người. Ta càng thương cha mẹ khi ta có
con cái, vì lúc bấy giờ ta mới thấm thía được sự hy sinh
của cha mẹ đối với con. Rồi một hôm, nhìn kỹ dung nhan
cha mẹ, hốt nhiên thấy Người đã quá già yếu, thì ngoài
tình thương ta còn có sự lo lắng, vì biết thời gian sum họp
chỉ còn tính từng tháng, từng ngày! Những người con hiếu
thảo, thời gian qua đã có phước duyên phụng dưỡng cha mẹ,
giờ càng cố tạo nhiều cơ hội làm Người vui lòng. Còn
những người chưa từng nghĩ đến chữ hiếu, nay có kịp
giật mình tỉnh ngộ, hay vẫn còn rong chơi đâu đó nơi phố
chợ phù hoa?
Ngày
nay, trong xu thế khôi phục và phát huy truyền thống văn hóa
đạo đức, các quan hệ xã hội càng được đề cao. Trong
đó, quan hệ thầy - trò được đặt lên hàng đầu. Phần
đông gia đình phải bận rộn về sinh kế, nên việc dạy
dỗ con em đều phó thác cho thầy cô. Vì thế, môi trường
giáo dục chủ yếu về chữ nghĩa lẫn đạo đức là nhà
trường.
"Nhất
tự vi sư, bán tự vi sư". Người dạy ta một chữ là thầy
ta, dạy nửa chữ cũng là thầy. Nhờ thầy, ta mới tiếp cận
với tri thức loài người, mới hòa nhập với đời sống
văn minh, mới có nghề nghiệp ổn định. Ở thời đại hiện
nay, khi thế giới ngày càng thu hẹp, con người càng xích lại
gần nhau nhờ những phương tiện truyền thông và giao thông
tiên tiến, tri thức lại càng cần thiết để bắt kịp và
thích nghi với đà tiến hóa của xã hội. Do vậy, vai trò
của thầy cô càng trở nên quan trọng không thể thiếu, đối
với quan điểm thế gian.
Trên
phương diện xuất thế gian, thầy dạy đạo còn có vị trí
cao cả hơn, vì thầy dạy ta những phương pháp tu hành để
trở thành người đạo đức, để thăng hoa đời sống tâm
linh. Nếu ta biết ơn cha mẹ và thầy cô ngoài đời vì công
sinh thành dưỡng nuôi và giáo dục ta trong một đời kiếp,
thì ta càng nhớ thầy dạy đạo gấp nhiều lần hơn, vì thầy
nuôi lớn thân huệ mạng bất sinh bất diệt của ta, dìu dắt
ta trên lộ trình giác ngộ giải thoát.
Kinh
Vu Lan Bồn sớ có 4 câu kệ:
Khể
thủ Tam giới chủ
Ðại
hiếu Thích Ca Văn
Lụy
kiếp báo thâm ân
Tích
nhân thành Chánh giác.
Chúng
ta cúi lạy Bậc Ðại hiếu Thích Ca là Ðấng Giáo chủ trong
ba cõi. Ngài đã trải qua nhiều kiếp báp đáp những ân sâu,
nhờ tích chứa nhân lành nên ngày nay thành tựu đạo quả
vô thượng. Ðức Phật là một tấm gương sáng chói về lòng
hiếu thảo và sự trọng nghĩa trọng tình. Với trí vô sư,
Ngài biết tất cả chúng sinh đều có liên hệ thân thuộc
lẫn nhau, qua vô lượng kiếp luân hồi trong quá khứ. Do vậy,
Ngài dạy chúng ta mở lòng thương bình đẳng và rộng khắp
đến tất cả mọi loài, không sát sinh hại vật để thỏa
mãn nhu cầu ăn mặc, giải trí cho riêng mình.
Trong
đời hiện tại, mỗi cá thể cũng có tương quan hữu cơ với
cộng đồng xã hội nói riêng và với vạn vật nói chung.
Chúng ta chịu ơn tất cả mọi người, từ người nông phu
gieo trồng lúa mạ rau trái cho ta ăn, người thợ dệt làm
ra y phục cho ta mặc, đến biết bao ngành nghề khác phục
vụ ta trong cuộc sống đời thường. Chúng ta cũng chịu ơn
cỏ cây hoa lá chim muông tạo cho ta môi trường thanh sạch;
và nhờ sự hiện hữu vô vị lợi của chúng, ta có thể học
được nhiều bài học quý giá về cách sống trọn tình. Loài
hoa nào cũng cố gắng nở hết sức để làm đẹp và tỏa
hương cho đời, mà không hề giữ lại một chút gì cho riêng
mình; loài chim mỗi sáng cũng cố gắng hót ca hết sức để
tặng cho đời những âm thanh trong trẻo. Chúng không hề ganh
ghét tị hiềm lẫn nhau, không hề phân biệt kẻ nhận lãnh
là thiện hay ác, giàu có hay nghèo hèn. Những bài học ấy
lúc nào cũng sẵn sàng trước mắt, nếu ta biết mở lòng
ra đón nhận.
Chúng
ta cũng mang ơn những vị lãnh đạo quốc gia đã vạch kế
hoạch cho toàn dân được cơm no áo ấm, được yên ổn làm
việc, học hành. Cuộc sống thanh bình hiện tại đã được
đánh đổi bởi vô vàn hy sinh mất mát của quá khứ. Cuộc
sống ấy được duy trì cũng nhờ sự đóng góp tích cực
và thầm lặng của biết bao chiến sĩ, đang chiến đấu trên
những trận tuyến tuy vô hình nhưng thật nhiều cạm bẫy
gian nan.
Ngày
Vu lan, với thông điệp nhắc nhở mọi người nhớ lại và
tìm cách đáp đền những ân tình ân nghĩa đã cưu mang, đã
góp phần trong công tác văn hóa tư tưởng, giúp thúc đẩy
xã hội phát triển hòa nhịp giữa vật chất, tri thức và
đạo đức. Bởi vì, một xã hội văn minh không phải nhờ
sự phồn vinh vật chất, mà từ phong cách sống và lối cư
xử giữa con người với nhau sao cho hợp với tình đời lý
đạo. Cho nên có thể nói ngày lễ Vu lan là một lễ hội
tình người, không chỉ có ý nghĩa đối với hàng tứ chúng
con Phật, mà còn đối với toàn thể nhân loại nói chung -
bây giờ và mãi mãi.(Giác Ngộ 238
Số đặc biệt Vu Lan Báo Hiếu PL2548 ra ngày 26-8-2004)
Người
gửi bài: Toàn Trung
08-02-2007
10:23:45
MỤC
LỤC
Tuyển
Tập Vu Lan