THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan
.
Hiếu hạnh của Tôn giả Mục Kiền Liên, Thích Trí Quảng
Trở về, Thích Nhất Hạnh
Đạo hiếu trong văn hóa Việt Nam, Thích Đức Trí 
Luận suy về Bông Hồng Cài Áo, Thích Thiện Chí


HIẾU HẠNH CỦA TÔN GIẢ MỤC KIỀN LIÊN
Thích Trí Quảng

Trong sử ghi rằng, khi Đức Phật tại thế, trên bước đường giáo hóa độ sinh, Mục Kiền Liên luôn ở bên tả và Xá Lợi Phất ở bên hữu của Phật. Xá Lợi Phất xuất gia theo Phật, công phu nửa tháng mới đoạn dứt kiết sử, trừ được phiền não. Trong khi Mục Kiền Liên chỉ trong bảy ngày, liền dứt hết các lậu hoặc, đắc thần thông, chứng quả A la hán. 

Nhiều vị đệ tử của Phật có thần thông phi thường, nhưng riêng Mục Kiền Liên được Phật khen ngợi là thần thông đệ nhất và cho phép Ngài sử dụng thần thông để hóa độ chúng sinh.

Sở dĩ Mục Kiền Liên đắc Thánh quả một cách nhanh chóng vì Ngài đã trải qua nhiều kiếp tu hành, cho nên trong hiện đời được gặp Phật, căn lành đời trước của Ngài liền được khai mở và phát tâm xuất gia theo Phật.

Thật vậy, chính căn lành sâu dày với Phật đạo bộc phát đã thôi thúc Mục Kiền Liên quyết tâm tiến bước theo Tứ Thánh đế của Đức Phật chỉ dạy và nỗ lực thể nghiệm thành tựu được những pháp đầu tiên của 37 trợ đạo phẩm, Ngài đã chứng đắc được pháp Không. Tiến sang công phu tu tập pháp Tứ chánh cần, Ngài đạt đến trạng thái tâm hoàn toàn yên tĩnh, thành tựu pháp Tĩnh và đi sâu vào Thiền định, Ngài chứng đắc Tứ như ý túc, đạt được pháp Xả, không còn vướng mắc với bất cứ pháp hữu vi nào. Với Tam ma địa như ý túc, hay trong Thiền định, Mục Kiền Liên đã vận dụng tâm một cách kỳ diệu, nên Ngài đi lại hoàn toàn tự tại trong các thế giới, gọi là sử dụng được thần thông lực đến tuyệt đỉnh, nên Ngài mới được tôn danh là bậc Thần thông đệ nhất. 

Một hôm trong Thiền định, mối quan hệ sâu nặng giữa Mục Kiền Liên với mẹ của Ngài trong quá khứ bỗng trỗi dậy, khiến cho Ngài nhớ đến bà mẹ đã chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ của Ngài, thì liền đó cảnh giới ngạ quỷ cũng xuất hiện, Ngài nhìn thấy người mẹ quá khứ đang mang thân quỷ đói ở đó. Trong Thiền định, Mục Kiền Liên vội vàng dâng cơm cho mẹ Ngài, nhưng bà không thể nào ăn được, vì cơm đưa vào miệng bà liền biến thành lửa đỏ. 

Mục Kiền Liên đau xót vô cùng; vì chứng được thần thông tự tại giải thoát như vậy, mà cũng không thể giải trừ được nghiệp của người mẹ, ngay cả không thể cứu được mẹ Ngài tạm thời hết đói. Ngài vội vàng xin Phật chỉ rõ phương cách cứu mẹ mình. 

Đối với người đã tạo nghiệp thâm trọng, đọa ngạ quỷ rồi, thì cách giải khổ cho họ không đơn giản. Đức Phật dạy rằng phải nhờ oai thần của Tam bảo, mà chủ yếu là pháp lực mới có thể làm cho tâm trí của người bị nghiệp ác bao phủ được tỉnh ngộ. Và pháp lực có được do sức Thiền định công phu của đại Tăng. Chỉ những vị tu hành vận dụng được ngũ căn, thành tựu được ngũ lực, mới tạo thành sức mạnh siêu hình. Và sức mạnh siêu nhiên này của chư Tăng mới có khả năng tác động tâm hồn đen tối của loài ngạ quỷ, chuyển đổi được nghiệp thức sai lầm khổ đau của họ, giúp họ nhận ra được sự đau khổ vô lý mà họ tự đeo mang, tự giày vò. Thật vậy, trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy rằng trong tam giới không có sinh tử, sinh tử chỉ là ảo giác; nhưng chúng sinh vì nghiệp lực đè nặng mà phải chịu khổ vì ảo giác này, trong khi thực chất không có khổ đau.

Vì vậy, Phật bảo Mục Kiền Liên chỉ có cách duy nhất là nhờ pháp lực, tức đạo lực của chư Tăng mới hóa giải được nghiệp đói khổ của người mẹ. Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật dạy thỉnh chư Tăng chú nguyện. Và đạo lực siêu việt của đại Tăng đã tạo thành thế giới thiên đường tịnh lạc, đạo lực của nhiều bậc chân tu đắc đạo cũng tác động đến nghiệp thức của mẹ ngài Mục Kiền Liên, khiến bà rời bỏ được ảo giác của thế giới ngạ quỷ để bước vào thiên giới an vui, hạnh phúc.

Điều này cho chúng ta hiểu rằng nghiệp thức rất quan trọng, vì nó đã chủ động cuộc sống kế tiếp của chúng ta sau khi chấm dứt mạng sống này. Làm nhiều việc ác, nghĩ điều ác, nói điều ác, tất cả những ác nghiệp này chất chứa trong tiềm thức của chúng ta, mà từ chuyên môn gọi là A lại da thức. Khi xác thân hữu hình này chết, thì a lại da thức, hay thường gọi là thần thức của người chết vẫn còn tồn tại và nó sẽ chi phối mọi cảm nhận của người chết. Nếu thần thức nghĩ tưởng đói khát thì người chết sẽ cảm thấy bị đói khát, nếu thần thức nghĩ đến khổ đau thì họ bị khổ đau. Thần thức nghĩ tưởng, hay tất cả vọng tâm này đều là ảo giác, chỉ có chân linh mới là thật và chân linh không bao giờ bị đói khát, khổ sở gì cả. Phải sống với thần thức mê mờ và bị nó chi phối hoàn toàn, nên vong hồn người chết mới cảm nhận bị đói khát, nóng lạnh, khổ đau, tức giận,  v.v… Chỉ có đạo lực của những bậc chân tu mới tạo thành sức mạnh cảm hóa được thần thức người chết, khiến họ xa rời được thế giới ảo giác của nghiệp lực, để trở về thế giới chân thật an vui. 

Nương theo pháp lực, đạo lực của chư Tăng đã thâm nhập thế giới thanh tịnh, giải thoát, người mẹ của Mục Kiền Liên rời bỏ được thế giới đói khát của ngạ quỷ và được siêu thăng, đi vào thế giới chư Thiên. Các loài ngạ quỷ cũng nương nhờ đạo lực của đại Tăng truyền cho người mẹ của Mục Kiền Liên mà họ được thoát khỏi thế giới đói khổ.

Từ pháp Phật dạy Mục Kiền Liên về đạo lực của đại Tăng cứu mẹ siêu sanh về cảnh giới chư Thiên, sau này chư Tăng tu hành ở nơi nào cũng thường vào Thiền định, thâm nhập các loại hình thế giới để cứu độ chúng sinh. Thiết nghĩ thể nghiệm được pháp Phật dạy trong chính cuộc sống tu hành của chúng ta là phương cách hiệu quả nhất để cứu giúp mọi người thoát khỏi cảnh giới khổ đau, an trú trong thế giới vĩnh hằng bất tử. Thành tựu như vậy, chúng ta báo đáp được bốn ân sâu năng trong mùa Vu lan Báo hiếu.

Thích Trí Quảng 
(Giác Ngộ)


TRỞ VỀ
Thích Nhất Hạnh

 
BẠN CÓ NHỚ gì không về cái thuở còn nằm trong bụng mẹ? Chín tháng ở đó, cả một thời gian dài. Tôi thiết nghĩ nằm trong bụng mẹ, tất cả chúng ta ai cũng đã có dịp mỉm cười. Thế nhưng chúng ta cười gì vậy? Khi hạnh phúc chúng ta thường cười. Tôi đã thấy nhiều người, nhất là trẻ em, mỉm cười lúc ngủ.

Thời gian ở trong bụng mẹ quả thật tuyệt vời. Mình chẳng phải lo lắng đến chuyện ăn uống. Từng cơn nóng lạnh được che chở. Chuyện học hành, làm lụng cũng không đụng tới. Trong bụng mẹ thật an toàn biết mấy. Không phải lo lắng điều gì. Mà không lo là điều tuyệt nhất. Tôi nghĩ nhiều người vẫn còn tiếc nuối thời gian nằm trong bụng mẹ. Nhiều người có cảm giác rằng đã có một lần được sống trong một thiên đường yên ổn, diệu kỳ, và giờ đây đã đánh mất thiên đường này. Họ nghĩ chắc có một nơi đẹp đẽ, an lành như thế ở đâu đó bên ngoài, nơi ấy chẳng còn chi để lo sợ, và mong ước được trở lại chốn đó. Trong tiếng Việt, dạ con còn được gọi là “tử cung” có nghĩa là “cung điện của đứa con”. Thiên đường ngày xưa là ở trong bụng mẹ.

Nằm trong bụng, mình được mẹ lo cho hết. Mẹ ăn, mẹ uống cho mình. Mẹ thở cho mình từng hơi thở vào ra. Tôi nghĩ có lẽ mẹ nằm mơ cả cho mình nữa. Tôi mường tượng chắc mình cũng mơ những gì mẹ đang mơ. Nếu mẹ cười chắc mình cũng cười. Và nếu trong giấc mơ gặp khốn đốn mẹ khóc, mình hẳn cũng khóc theo mẹ. Mình cười khóc theo từng giấc mơ lành, từng cơn ác mộng của mẹ, bởi vì mẹ và mình đâu phải là hai. Mình dính chặt với mẹ qua cuống nhau, hay sợi dây rốn. Qua dây rốn này mẹ đã cho mình thức ăn, nước uống, tất cả mọi thứ, kể cả lòng yêu thương của mẹ. Có lẽ khi có thai mình, mẹ đã chăm sóc thân thể mẹ kỹ càng hơn. Mẹ đi đứng nhẹ nhàng. Có lẽ mẹ đã bỏ uống rượu và hút thuốc. Một cách thể hiện tình yêu thương của mẹ thiết thực nhất. Mình chỉ mới trong bụng mẹ chưa được chào đời mà đã được dành cho biết bao là trìu mến.

Mẹ nuôi dưỡng mình cả trước khi mình ra đời, nhưng nhìn thật sâu thì thấy lúc đó mình cũng đang nuôi dưỡng mẹ mình. Nhờ có mình trong bụng mà mẹ tươi cười, yêu đời thêm. Ba cũng thế. Mình chưa làm được gì, thế mà riêng sự có mặt của mình cũng đã nuôi dưỡng ba mẹ rồi. Cuộc đời của ba mẹ dường như đổi khác từ ngày mẹ có thai mình. Có lẽ mẹ cũng nói chuyện với mình cả khi mình chưa chào đời. Và tôi tin chắc rằng lúc đó mình đã nghe được mẹ và đáp ứng lại mẹ. Có những lúc mẹ lơ là dường như quên đi sự có mặt của mình trong bụng. Lúc đó mình đạp một cái để nhắc mẹ. Cái đạp là tiếng chuông chánh niệm giúp mẹ nhớ ra và mẹ dỗ dành mình: “Cưng à, mẹ biết con mẹ đang có mặt trong đó, và mẹ hạnh phúc biết bao, con yêu ơi”. Đó là câu thần chú yêu thương thứ nhất.

Rồi đến ngày chào đời, ai đó cắt cuống nhau cho mình. Và có lẽ đó là lúc mình cất tiếng khóc đầu tiên trong đời. Bây giờ mình phải tự thở một mình. Bây giờ mình phải tập làm quen với mọi thứ ánh sáng chung quanh. Bây giờ lần đầu mình mới biết thế nào là đói. Ra ngoài rồi mà mình vẫn còn như trong bụng mẹ. Mẹ ôm hôn mình với hết cả tình thương. Và mình cũng bấu chặt mẹ. Mình cũng chưa sống thiếu mẹ được. Rồi mẹ cho mình bú. Mẹ chăm sóc ngày đêm. Dù cuống nhau giữa mẹ con không còn, mình vẫn còn được nối với mẹ bằng một sợi dây máu mủ thâm tình.

Khi trưởng thành, mình phải phấn đấu gay go với chính mình để tự thuyết phục rằng mình và mẹ là hai cá thể biệt lập. Nhưng sự thật không phải vậy. Mình là sự tiếp nối của cha mẹ mình. Khi thiền quán, tôi thấy cuống nhau vẫn còn nối tôi với mẹ. Khi quán chiếu sâu, tôi thấy được những sợi dây rốn vẫn nối tôi với vạn hữu trong đời. Mỗi sáng mai, mặt trời mọc cho ta ánh sáng và hơi ấm. Thiếu những thứ đó, ta không thể tồn tại.

Như thế là đã có cuống nhau nối mình với mặt trời. Một cuống nhau khác nối mình với những đám mây trên trời. Nếu không có mây, mình sẽ không có mưa và nước để uống. Không có mưa, mình sẽ không có sữa, trà, cà-phê, không có cà-rem, không có gì hết. Có một sợi dây rốn nối liền mình với dòng sông, một sợi dây khác nối mình với rừng cây. Nếu tiếp tục quán chiếu như vậy, mình sẽ thấy mình dính liền với mọi sự và mọi người trong vũ trụ này. Sự sống của mình tùy thuộc vào sự sống của tất cả mọi hiện hữu khác - không phải chỉ tùy vào mọi sinh vật mà vào tất cả cây cỏ, đất đá, không khí, nước và đất.

Giả thử mình gieo một hạt bắp và chừng một tuần sau hạt bắp nảy mầm và nhú lên đọt non. Khi cây bắp vươn cao, mình không còn nhận ra được đó là hạt bắp mình đã gieo ngày nào. Nhưng nếu nói rằng hạt bắp đã chết thì không đúng. Bằng đôi mắt của Bụt, mình sẽ thấy rằng hạt bắp vẫn còn sống nơi thân cây bắp. Thân bắp là sự tiếp nối của hạt bắp về hướng tương lai, và hạt bắp là sự tiếp nối của thân bắp về hướng quá khứ. Hai thứ ấy không phải là một, nhưng cũng không phải hoàn toàn khác biệt nhau. Mình và mẹ mình không phải là một người, nhưng không phải là hai người hoàn toàn khác biệt. Đó là một chân lý về tính tương thuộc, mọi vật nương vào nhau mà sống. Không ai có thể tồn tại biệt lập. Là mình, chúng ta đồng thời là tất cả những thứ khác. Để có mặt, để hiện hữu, chúng ta phải cùng nhau có mặt, cùng nhau hiện hữu. Đạo Bụt gọi đó là tương tức.

Trong bụng mẹ, thân ta không phải chịu nhiều căng thẳng, nên vẫn còn mềm mại, dẻo dai. Nhưng khi vừa mới chào đời, sự căng thẳng ập đến, có khi từ hơi thở đầu tiên. Để buông thư nhưng căng thẳng nơi thân, ta phải buông thư những căng thẳng nơi hơi thở. Nếu thân ta không bình an thì hơi thở ta cũng không được bình an. Khi chúng ta phát khởi được năng lượng của chánh niệm và ôm ấp được hơi thở thì phẩm chất của hơi thở vào ra của ta sẽ được cải thiện. Thở chánh niệm thì hơi thở trở nên êm dịu và sâu lắng hơn. Sự căng thẳng nơi hơi thở tan biến mất. Khi hơi thở đã nhẹ nhàng, mình có thể chăm sóc và làm lắng dịu hình hài. Bụt gọi đó là làm cho thân ta “an tịnh”.

Có một kinh Pali tên là Kayagatasati Sutta, tức "Kinh Niệm Thân”. Trong kinh này, Bụt dạy ta phép thực tập để buông thư từng bộ phận của cơ thể cũng như của toàn thân. Bụt dùng hình ảnh của một bác nông dân leo lên kho và đem xuống một bao đựng đủ các loại hạt. Bác nông dân mở đầu bao và để các loại hạt tuôn ra. Với đôi mắt còn rất tinh tường, bác có khả năng phân biệt được các loại hạt và thấy được đây là đậy xanh, đây là đậu ngự, v.v... Bụt khuyên ta hãy học cách chú tâm như bác nông dân nọ.

Trước hết, bạn hãy nằm trong tư thế thoải mái, chú ý đến toàn thân, sau đó tuần tự xem xét từng bộ phận một của cơ thể. Bắt đầu từ đầu hay tóc trên đầu lần lượt xuống đến các ngón chân. Bạn có thể nói: “Thở vào, tôi đang ý thức về bộ óc của tôi. Thở ra, tôi mỉm cười với bộ óc của tôi”. Tiếp tục như thế cho đến khi nhận diện được hết các bộ phận trong cơ thể. Như người nông dân đang xem xét các hạt đậu, bạn hãy chiếu soi từng cơ phần cơ thể mình, không phải bằng quang tuyến X, mà bằng ánh sáng của chánh niệm. Chỉ cần mười lăm phút, từ từ bạn có thể soi chiếu toàn thân với năng lượng của chánh niệm.

Khi một bộ phận trong cơ thể được nhận diện và ôm ấp bởi năng lượng chánh niệm, tỉnh giác, bộ phận ấy dần dần thư giãn ra, và sự căng thẳng được lắng dịu. Thế nên mỉm cười là cách tốt nhất để giúp cho thân thư giãn. Nụ cười thuở ban sơ trong bụng mẹ hẳn là những nụ cười hết sức thoải mái. Trên mặt ta có hàng trăm bắp thịt, mỗi lần giận hay sợ, những bắp thịt này bị căng thẳng rất nhiều. Nhưng nếu ta biết thở; thở vào để nhận diện các bắp thịt trên mặt, thở ra mỉm cười với chúng, ta có thể giúp chúng thư giãn rất nhiều. Với một hơi thở vào, và một hơi thở ra, khuôn mặt ta đã có thể được biến đổi. Mỗi nụ cười có thể đem đến một phép lạ.

Nếu trong lúc đang soi chiếu, có một bộ phận nào đó của cơ thể bị bệnh hay đau nhức, ta hãy tập trung tâm ý lâu hơn ở đó. Ta có khuynh hướng vội vàng đi phớt qua những chỗ đau. Nhưng vội vàng như thế chỉ làm gia tăng căng thẳng chứ không giúp làm cho những nơi ấy được êm dịu và chữa trị. Nếu ta biết dành thì giờ cho những chỗ đau, ôm ấp những nơi ấy với năng lượng chánh niệm, mỉm cười với chỗ đau, thì sự căng thẳng sẽ giảm được nhiều. Làm được như thế, chỗ đau sẽ rất chóng lành.

Có thể thân mình đang đau nhức lắm. Chánh niệm giúp mình nhận diện được đây chỉ là cái đau nhức của thân. Bụt có dạy về mũi tên thứ hai qua câu chuyện một người bị tên bắn rất đau. Giả sử có một mũi tên thứ hai lại bắn đúng vào ngay chỗ đó. Sự đau đớn hẳn phải tăng lên gấp cả trăm lần, vì người này đã bị thương sẵn. Đã bị thương rồi mà còn lo lắng, sợ hãi, cường điệu hóa, tức giận về hành động gây ra thương tích, thì có khác nào rước thêm một mũi tên thứ hai khiến cho vết thương càng thêm trầm trọng. Vậy nếu bạn đã bị trúng tên rồi, hãy thực tập chánh niệm để cho mũi tên của lo lắng, sợ hãi... không đến cắm trúng vào nơi thương tích.

Trong “Kinh Niệm Thân”, Bụt khuyên ta hãy ý thức rõ về sự có mặt của tứ đại nơi thân ta. Trong bụng mẹ, bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa này hoàn toàn quân bình. Bà mẹ điều hòa cho cái thai, cung cấp dưỡng khí, thức ăn trong khi đứa con nằm nghỉ ngơi trong dung dịch nước. Khi được sinh ra, nếu có sự điều hòa trong bốn đại thì sức khỏe của mình rất tốt. Nhưng thường thì các yếu tố không được quân bình; chúng ta lạnh không sao ấm nổi, hoặc không thở được cho tròn. Bằng hơi thở chánh niệm, ta có thể tái lập lại quân bình một cách tự nhiên giữa các yếu tố này một cách tự nhiên. 

Bụt cũng có dạy ta hãy ý thức rõ về tư thế và hoạt động của thân. Trong khi ngồi thiền, cái đầu tiên phải ý thức rõ là mình đang ở trong tư thế ngồi thiền. Rồi sau đó ta có thể ngồi cách nào cho được an tịnh, vững chãi và khỏe khoắn. Trong mỗi phút giây, ta có thể nhận diện được tư thế của thân, dù đang ngồi, đi, đứng hay nằm. Ta có thể ý thức rõ về các hoạt động của ta, như đang đứng lên, cúi xuống hay đang mặc áo. Ý thức tỉnh giác mang ta trở về với chính mình. Khi chúng ta hoàn toàn có chánh niệm về thân, và sống trọn vẹn bây giờ và ở đây thì chúng ta đang ở trong quê hương đích thực của mình.

BẠN CÓ BIẾT bạn có một quê hương đích thực? Câu hỏi này đặt ra cho tất cả mọi người. Ngay cả khi bạn có cảm giác mình không thuộc vào một đất nước, một dân tộc nào, không thuộc một di sản văn hóa nào, một chủng tộc nào, bạn vẫn có một quê hương đích thực để quay về. Khi bạn ở trong bụng mẹ, mình cảm thấy yên ổn. Có lúc mình mơ ước trở về chốn ấy để được an lành, bảo bọc. Nhưng giờ đây, chính trong thân thể này, mình có thể quay về.

Quê hương đích thực của mình là nơi này và ở đây. Nó không bị giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc tịch hay chủng tộc. Quê hương đích thực của mình không phải là một ý niệm trừu tượng. Đó là một cái gì bạn có thể tiếp xúc và sống với nó từng giây từng phút. Với niệm và định, các nguồn năng lượng của Bụt, bạn có thể nhận ra quê hương đích thực trong sự an trú thân tâm trong phút giây hiện tại. Không ai có thể lấy đi quê hương đích thực của mình. Người ta có thể xâm lăng chiếm cứ đất nước của mình, thậm chí nhốt mình trong tù ngục, nhưng người ta không thể nào lấy đi quê hương đích thực và sự tự do của mình.

Khi chúng ta ngừng lại sự nói năng và suy nghĩ để chuyên chú vào hơi thở vào-ra, chúng ta đang an trú trong quê hương đích thực của mình, và có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống. Đây là con đường Bụt đã chỉ bày cho chúng ta. Khi thở vào, ta gom hết thân tâm về một mối; ta trở thành một. Đã được trang bị với năng lượng của niệm và định rồi, ta có thể cất bước đi. Ta có được tuệ giác đây là quê hương đích thực của mình - ta thực sự có mặt trong sự sống, ta thực sự tiếp xúc với sự sống như một thực tại. Quê hương đích thực này là một thực tại chắc nịch, mình có thể sờ mó được bằng chân, bằng tay và cả bằng tâm ý.

Mình cần phải tiếp xúc cho được quê hương đích thực của mình và nhận ra quê hương đích thực của mình trong cái bây giờ và ở đây; đó là điều thiết yếu cơ bản. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm và định. Bằng hơi thở ý thức và bằng bước chân chánh niệm, mình có thể đưa tâm trở về với thân. Trong đời sống hàng ngày, tâm và thân thường đi theo hai hướng khác biệt. Mình nằm trong trạng thái xao lãng, ý một đàng thân một nẻo. Thân đang mặc áo thì tâm bận rộn chuyện quá khứ, chuyện tương lai. Thế nhưng giữa tâm và thân có một gạch nối: đó là hơi thở. Mình chỉ cần quay về với hơi thở, thở cho thật chánh niệm thì chẳng mấy chốc thân và tâm có thể hợp nhất. Khi thở vào, mình không nghĩ gì hết; mình chỉ chú tâm vào hơi thở vào. Tập trung tâm ý, đầu tư một trăm phần trăm thân tâm vào hơi thở vào. Hơi thở với mình là một. Sự tập trung trên hơi thở vào này là một định lực sẽ đưa thân tâm về lại với nhau trong khoảnh khắc. Và bỗng nhiên ta thấy mình đang có mặt tròn đầy, sinh động. Không còn nỗi khát khao được quay về nằm trong bụng mẹ, quay về thiên đường tuyệt hảo. Ta đã về rồi trên quê hương đích thực của mình.

(Bài tập Thiền buông thư, do Thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn để giúp làm thư giãn thân tâm. Thật sự có mặt, thật sự tỉnh giác, ta thấy mình đã trở về. Bài này được dịch từ tiếng Anh trong tờ Shambhala Sun, March 28, 2006)

Thích Nhất Hạnh 
(Giác Ngộ)
 



ĐẠO HIẾU TRONG VĂN HOÁ VIỆT NAM
Thích Đức Trí 

Trong văn hóa của dân tộc Việt Nam, ý nghĩa hiếu đạo, được xem là một di sản qúi báu ,một chất liệu sống tốt đẹp được mọi người yêu chuộng và giữ gìn Khi Phật Giáo xuất hiện ở Việt Nam thì đạo đức dân tộc và đạo đức Phật Giáo hòa quyện vào nhau như nước với sữa. 

Do người Việt sẵn có tinh thần yêu chuộng đạo hiếu và giá trị giải thoát nên đã tiếp nhận giáo lý Phật Giáo một cách dễ dàng.  Làm người ai cũng mang ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Người Phật tử Việt Nam hướng về Lễ hội Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy mỗi năm là thực hiện một phương thức báo hiếu vốn có từ lâu đời, và xem đó như là một tín ngưỡng truyền thống. Đây là nét đẹp của đạo hiếu xuyên suốt chiều dài lịch sử vốn có trong nền văn hóa Việt Nam mà bài viết này đề cập đến.

Trong văn học dân gian còn lưu lại  những dấu tích về tấm lòng yêu chuông đạo hiếu  người con Việt. Trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử với những phương diện trong đời sống con người, như kinh tế, chính trị, văn hóa và nghệ thuật v.v , nó cùng ảnh hưởng tương tác giúp cho người Việt Nam làm nên văn hóa của dân tộc trong quá khứ và hiện tại.  Văn học dân gian Việt Nam đã đề cao văn hóa gia đình và dòng tộc.  Trong truyền thuyết hay truyện cổ tích, người Việt luôn tự hào là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên.  Lạc Long Quân như là một người cha mẫu mực, anh hùng, thương yêu và che chở con cái lúc hoạn nạn, thường khuyên mọi người ăn ở hiền lành, sống đúng đạo lý cha con và tình nghĩa vợ chồng.  Đó là ý thức về hiếu hạnh, đặt nền tảng gây dựng đạo đức xã hội.

Câu chuyện về sự tích bánh chưng bánh dầy đã bày tỏ công lao sanh dưỡng của cha mẹ.  Lang Liêu, vị hoàng tử thứ mười tám, là người con hiếu thảo, hiền lành đã dâng lên vua cha thứ bánh chưng tượng trưng cho đất, bánh dầy tượng trưng cho trời; với ý nghĩa xem công cha nghĩa mẹ to lớn như trời cao đất rộng, che chở cho con cái sống an vui giữa đời.  Do vậy mà được vua Hùng truyền trao ngôi vua.  Tiền bạc, vàng ngọc châu báu, của ngon vật lạ của các người con khác dâng lên đều bị vua từ chối.  Ý thức ấy như ngọn gió đạo đức đã thổi vào luồng văn hóa dân tộc để xây dựng nền đạo lý lâu dài.  Chiếc bánh chưng, bánh dầy đã trở thành một sản phẩm cổ truyền, một chứng tích của đạo lý, chiếc bánh ấy thường được dâng cúng tổ tiên trong dịp Tết Nguyên Đán và các lễ hội hàng năm. 

Trong ca dao Việt Nam, tiếng nói đạo đức mang truyền thống văn hóa dân tộc được kết tụ mấy nghìn năm lịch sử.  Với những lời lẽ mộc mạc, dễ hiểu đã đề cao được công lao dưỡng dục của cha mẹ, nó không nằm trong phạm vi văn chương bác học, mà trở lại gần gủi và phổ cập với đời sống con người qua bao thế hệ:

Công cha nghĩa mẹ cao dày,
Cưu mang trứng nước những ngày còn thơ.
Nuôi con khó nhọc đến giờ,
Trưởng thành con phải biết thờ song thân.”
“ Công cha như núi Thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc vào thế kỉ thứ mười lăm, là một nhà quân sự, một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà văn, nhà thơ vĩ đại của dân tộc, có nhiều thi phẩm văn chương bất hũ.  Trong tác phẩm “Gia Huấn Ca” của ông, đã đề cao đạo đức, luân lý trong mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội.  Hiếu được nhấn mạnh rất rõ:

Dù nội ngoại bên nào cũng vậy,
Đừng tranh dành bên ấy, bên này,
Cù lao đội đức cao dày,
Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.” 
(Nguyễn Trãi, Gia Huấn Ca)
Còn nữa, phận làm con đối với cha mẹ:
“Khi ấm lạnh ta hầu săn sóc
Xem cháo cơm thay thế mọi bề
Ra vào thăm hỏi từng khi
Người đà vô sự ta thì an tâm.”
(Nguyễn Trãi, Gia Huấn Ca)

Nguyễn Du, ông cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc, vào thế kỉ thứ mười tám, thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo, ông thường nói rằng “ngã độc kim cang, thiên biến linh”, nghĩa là “Ta đọc hơn ngàn biến Kinh Kim Cang”  Nguyễn Du đã tiếp nhận hai nguồn văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa mà viết ra tác phẩm Truyện Kiều , ông đã đề cao chữ hiếu với một tinh thần phóng khoáng, đặc biệt đạo hiếu được nhấn mạnh và xem đó là nhiệm vụ hàng đầu của con cái:

Duyên hội ngộ đức cù lao
Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn,
Để lời thệ hải minh sơn
Làm con trước phải đền ơn sanh thành.”

Trong tư tưởng của ông đạo hiếu là nét trinh lòng cao quý.  Giữa thời đại phong kiến, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, mà ông đã xây dựng hình ảnh Thúy Kiều yêu Kim Trọng, hiếu với mẹ cha, nhưng nàng sẵn sàng bán mình chuộc cha:

Quyết tình nàng mới hạ tình:
Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha.”
Thúy Kiều đã hy sinh tất cả hạnh phúc cá nhân để làm tròn Chữ Hiếu:
“Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay.”

Còn nữa:

 “Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường.”

Thúy Kiều không vì tình yêu mà quên đi bổn phận làm con, nàng đã có một thái độ dứt khoát trong tình và hiếu, mặc dù bán mình, nhưng Thúy Kiều vẫn giữ một tấm lòng trung trinh vì đã thực hiện trọn vẹn chữ hiếu.  Hơn thế nữa, Kiều sẵn sàng khuyên em mình là Thúy Vân chung sống với Kim Trọng, đó là một nghĩa cử cao đẹp và cao thượng, một quan điểm tình yêu mới lạ trong thời đại bấy giờ.

Cụ Nguyễn Đình Chiểu, một sĩ phu yêu nước, thương dân vào thế kỉ thứ mười chín, không màng danh lợi, rất đề cao tinh thần hiếu hạnh, thể trong tác phẩm“ Lục Vân Tiên.”  Hình ảnh Lục Vân Tiên trên đường đi thi trạng nguyên, nghe tin mẹ mất, đã quay về chịu tang cho mẹ và ông đã khóc lóc đến mù mắt.  Lục Vân Tiên không vì sự nghiệp của bản thân mình mà quên đi trách nhiệm của người con khi cha mẹ qua đời.

Trong giáo lý đạo Phật, Đức Phật Thích Ca, ngài là một bậc Thầy của trời người đã thể hiện trọn vẹn về hạnh hiếu.  Khi vua Tịnh Phạn bệnh nặng, ngài đã về hoàng cung để thuyết pháp cho vua cha.  Trong kinh Địa Tạng có chép rằng, Đức Phật còn lên cung trời Đâu Lợi thuyết pháp cho mẹ là Thánh Mẫu Ma Gia.  Ở trong Kinh Vu Lan, hình ảnh Đức Mục Kiền Liên tiêu biểu một đệ tử chí hiếu, vâng lời Phật dạy đã thực hiện phép cúng dường Tam Bảo trong ngày rằm tháng bảy, hồi hướng phúc đức cứu thân mẫu thoát khỏi địa ngục khổ đau.   Kinh Nhẫn Nhục có dạy rằng:  "Ðiều thiện tối cao là chí hiếu, điều ác cực ác là bất hiếu."

 Các Kinh khác có nhấn mạnh về ý nghĩa hiếu hạnh như sau:

"Có hai hạng người, này các Tỳ kheo, ta nói không thể trả ơn được! Mẹ và cha. Nếu một bên vai cõng cha, một bên vai cõng mẹ, làm vậy suốt đời, vừa đấm bóp hầu hạ, và dù tại đó cha mẹ vãi tiểu tiện, cũng chưa làm đủ để đáp đền ơn mẹ và cha." ( Kinh Tăng Chi I, trang 75)

Tinh thần hiếu hạnh Phật giáo thấm nhuần trong văn hóa của dân tộc Việt nam , ca dao có câu: “dù ai buôn bán đâu đâu, cứ rằm tháng Bảy mưa Ngâu thì về”.  Rằm tháng bảy trong kí ức mọi người là ngày xá tội vong nhân, phát tâm làm lành lánh dữ, cúng dường Tam Bảo cầu cho gia quyến bình an và cầu nguyện cho hương linh cha mẹ và tổ tiên quá vãng được sanh về cỏi an lành .Như vậy ,Phật Giáo thực hiên rất sâu sắc hơn về ý nghĩa đạo hiếu.  Người Phật Tử làm tất cả các thiện pháp để hồi hướng cho tổ tiên ông bà quá vãng nhiều đời: “đa sanh phụ mẫu”, là nuôi lớn tình thương bình đẳng vô ngã vị tha.  Ý nghĩa ấy, chúng ta còn phải có trách nhiệm với bao bậc mẹ cha khác trên cuộc đời, vì giá trị rộng lớn của chữ hiếu trong triết lý duyên sinh. Theo quan điểm đao Phật,  hiếu thuận với cha mẹ là phải hiếu thuận với tất cả mọi người .Đây là lý tưởng sống cao đẹp không những dân tộc Viêt Nam mà các dân tộc tiến bộ khác  trên thế giới đều yêu chuộng và giữ gìn .

Thích Đức Trí 
(Giác Ngộ)
 



LUẬN SUY VỀ BÔNG HỒNG CÀI ÁO 
Thích Thiện Chí

 
Văn bút "Bông hồng cài áo" của thượng tọa Thích Nhất Hạnh, trở thành một kiệt tác và được truyền thừa rộng rãi ở Việt Nam. Cho tới ngày nay, đã hơn 20 năm, chưa có một bản văn nào nói về mẹ được mọi giới ưa chuộng, hoặc thay thế được. Lời lẽ trong bài "Bông hồng cài áo", không phải súc tích ở lời văn chải chuốt, triết lý cầu kỳ. 

Sở dĩ, được mến mộ, vì bản văn vừa khế lý lẫn khế cơ. Đạo hiếu là đạo của con người và ai cũng muốn trả ơn cha mẹ. Thượng tọa đã đáp ứng nguyện vọng thiết tha ấy và khơi đúng nguồn cảm xúc sâu xa tận đáy lòng mọi người. Bằng cách diễn đạt cảm xúc tận đáy lòng của chính mình. Chắc có lẽ, ai có mẹ, cũng thương mẹ, cũng nhớ mẹ và nghĩ về mẹ như thế. Rồi cũng có điều, làm mọi người xốn xan. là mình đã lơ là, thiếu bổn phận, khi cha mẹ còn sanh tiền. Nay nhận thức được, biết mình đã đánh mất đi cái gì thiêng liêng, vô giá. 

Cho nên, đối với mọi người - còn mẹ hay mất mẹ, "Bông hồng cài áo" làm cho chúng ta cay xé cõi lòng và từ đó, hiểu mình phải làm gì, để tỏ lòng, để đền đáp công sanh thành của mẹ cha. Cho nên bấy lâu nay, mỗi độ thu sang, Rằm tháng Bảy, đồng bào Việt Nam, cũng như tính đồ Phật giáo đều đi chùa, tụng kinh, cúng dường, bố thí, tạo mọi công đức lành, cầu nguyện cho mẹ cha, người hiện tiền đượ? sống lâu trăm tuổi, người đã qua đời, siêu sinh thác hóa. 

Sau khi hành lễ và nguyện cầu. Từ sân chùa, tỏa đi khắp nẻo đường đất nước, các người con hiếu đạo, miệng nở nụ cười tươi, vì cảm thấy lòng mình thanh thản, bớt mọi ưu phiền. 

Dù chưa đáp đền hết ân trọng, nhưng ít ra, cũng thể hiện cái gì đó, đối với mẹ cha. Bên cạnh niềm hân hoan đó, mọi người như đẹp ra. Bởi vì hôm nay, ngoài chiếc nón "Bài thơ", với tà áo dài phất phơ tung gió. Trước ngực mọi người, ai ai cũng có chiếc bông hồng xinh xắn, mang đầy ý nghĩa thân thương. Có những người mang trên ngực chiếc bông hồng trắng, mắt còn đỏ hoe, sưng ướt. Họ đã khóc, cho thân phận mồ côi của mình, cho cái tình cảm dạt dào của tình mẹ đối với con. Mắt em càng đỏ, càng đẹp. Bởi vì trong em chang chứa tình người mà ai đã khóc cho mẹ, biết bùi ngùi về công ơn ssnh thành dưỡng dục của mẹ cha, thì người đó, đẹp nết lẫn đẹp lòng. 

Cho nên, hòa cùng với gió thu nhè nhẹ, mưa ngâu lất phất : mùa Vu Lan Rằm tháng Bảy, đất nước Việt Nam sống trong cảnh thanh bình. Con người trở thành hiền diệu, bởi vì ai cũng hành trai, giữ giới hồi hướng cho mẹ cha. Như vậy, chiếc bông hồng, điểm tô thêm cái đạo đức của con người. Biểu tượng "Bông hồng cài áo" đã được Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh, chủ trương thực hiện tại Việt Nam, sau khi Thượng Tọa đi du hóa tại Nhật, có ngày lễ của mẹ. Ngày ấy, mọi ngườ? cài cho nhau đóa hoa hồng. Thấy việc làm đó hay hay, nên khi về Việt Nam, Thượng Tọa đã viết bài "Hoa Hồng cài áo" và phát động "cài Hoa hồng" vào dịp Vu Lan. 

Hồi xưa, tôi cứ thắc mắc. Tại sao Thượng Tọa không cho cài hoa khác. Chẳng hạn: hoa vạn thọ, nó vừa sặc sỡ, thơm tho, bền bỉ và như thế có nghĩa là mênh mông muốn cho mẹ cha được trường thọ. Hoặc tình mẹ con bất diệt. Chớ hoa hồng - mau tàn. Hơn nữa, hoa hồng xưa nay mang tiếng là hoa đẹp, có gai. Như vậy, chứng tỏ mình còn trách móc mẹ. Chính vì suy nghĩ như vậy, tôi thường ngắm nghía hoa hồng. Để tìm xem chiếc hoa hồng chức đựng ý nghĩa như thế nào. Hay đúng hơn, tôi sẽ nói gì, để biện minh cho biểu tượng "Bông hồng cài áo". 

Nếu chúng ta quan sát. Chúng ta thấy cây hoa hồng có hai loại lá. Những lá gần gốc, gần nhánh, thường mang năm lá nhỏ. Lá gần nụ hoa, chỉ còn ba lá nhỏ mà thôi. Năm chiếc lá nhỏ, tượng trưng cho ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tính). Ba chiếc lá kia tượng trưng cho tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử). Đó là nếp sống đạo đức của người phụ nữ Á Đông, và phụ nữ toàn thế   giới, nói chung. 

Trước hết bàn về ngũ thường. Một người con gái, người phụ nữ, người mẹ - xứng đáng, là người giử trọn nhân cách của mình. Người con gái, người mẹ nào cũng dạt dào tình thương. Chính vì vậy, người con gái rất sợ đau thương, chia lìa, chết chóc. Cho nên, con gái thường thương yêu súc vật, sợ giết muôn loài. Đến khi thành mẹ, thì hết lòng thương con. Hễ nghe con khóc, dù bận rộn chuyện gì, cũng tất bật ôm con vào lòng cho bú mớm với lời ru con ngủ. Dẫu biết rằng, sữa là máu huyết, nhựa sống của bản thân mình, nhưng vì con, mẹ cho tất cả. Miễn sao con được no lòng. Tình thương của mẹ thật dạt dào nên, trong 

Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân có đoạn : "Mẹ thời, ăn đắng nuốt cay, đễ dành bùi ngọt đủ đầy cho con ... lại   còn khi ngủ, ướt mẹ nằm. khô ráo phần con ...Miễn con sung sướng dầu phải mang nghiệp chướ?g cũng cam. Tính sao có lợi thì làm. Chẳng màng tội lỗi bị giam cầm ... ". Chính cái lòng "nhân" đó, chính sự thương yêu đó, ngườ? phụ nữ, mềm mỏng, nhiều cảm tình và đã hy sinh, chịu đựng cho ngườ? khác; cho con cái của mình. 

Dù tình thương có dạt dào, dù sự luyến ái có cùng tột. Người con gái, người mẹ, được mọi người quý kính vì mẹ đã sống với một tư cách tốt lành. Tư cách này, được hấp thụ bởi sự truyền thừa của tổ tiên. Khi còn nhỏ, người con gái đã biết trau dồi "công, dung, ngôn, hạnh". Nghĩa là tự sửa đổi và sống mực thước. Đi, đứng, nói năng, hành động đoan trang, thùy mị, khéo léo. Lớn lên một chút đã biết giữ mình "tiết sạch giá trong". 

Cho nên "khuê môn bất xuất", giữ đạo làm con, học hạnh làm người. Khi về nhà chồng thì "thủ phận dâu con" kính trên nhường dưới. Chính cái nề nếp gia phong, lễ nghi phép tắt được huấn dục từ nhỏ. Ngườ? con gái Việt Nam, khi làm Mẹ đã truyền thụ cho con mình đạo đức và sự cảm phục. Đó là cái lễ của người Á Đông. Nếu chỉ giữ kẻ cho mình, để rồi dương tự đắt. Người con gái đã đánh mất đi cái thùy mị và công dung ngôn hạnh của mình. Cho nên, đối vớ? cha mẹ, thì hiếu thảo. Đối vớ? anh chị em thì thuận hòa. Đối vớ? xã hội thì kính trên nhường dướ?. Đối với thầy bạn thì một mực kính yêu, vâng lời. Làm vợ thì trung nghĩa. 

Người ta thường nói "Trai năm thê, bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng". Xét ra thì quá khắt khe vớ? phụ nữ, người mẹ được mọi người sủng ái, con cái yêu vì, bởi đứ? tánh thủy chung, tiết hạnh. Sống có "Nghĩa" như vậy, mới chứng tỏ thương chồng vì con. Việt Nam ta có "Hòn Vọng Phu". Người đàn bà ôm con đợi chồng ngoài chiến trận. Chờ đợi mỏi mòn rồi hóa đá, sự hóa đá đó, nói lên sự?sắc son, nghĩa khí của người vợ, người mẹ. Cái "Nghĩa" đó là bài học giáo dục, là tình thương to lớ? của ngườ? phụ nữ đối với chồng và con. Thườ?g thì ngườ? mẹ nào thủ tiết thờ?chồng, con cái trong gia đình nên danh nên phận. Ngườ? ta thườ?g đánh giá con qua tư cách của mẹ. Tục ngữ Việt Nam có câu "Mua heo chọn nái, mua gái chọn dòng". Cho nên sự?trung nghĩa của mẹ là gia tài vô giá của con. 

Nhưng không phải vì cái nhân, cái lễ, cái nghĩa mà người đàn bà ù lì, thiếu trí. Ngoài cái tình cảm dạt dào, cái khuôn phép, nề nếp gia phong, cái trung kiên sắt đá. Người phụ nữ còn biết lo toan cho sự nghiệp ngày mai bằng thêu thùa, may vá, hoặc tần tảo nuôi chồng, nuôi con. Danh từ "Nội tướng" vì thế được dành cho người vợ, người mẹ. Nghĩa là mẹ cũng là người đảm đang khéo léo, lo toan, vén khéo từ chuyện trong nhà, đến việc giao tế cư xử ngoài xã hội. Khổng Tử nên người, phải chăng do trí của bà mẹ ? 

Nếu mẹ Khổng Tử cứ để cho con sống gần lò sát sinh, thì chắc sau này Khổng Tử đã làm nghề đồ tể. Mà người con ngay từ thuở lọt lòng đến khi  khôn lớn, đều chịu ảnh hưởng phần lớn giáo dục của mẹ. Với điệu ru con ngủ, tư  cách đoan trang, lời nói nhẹ nhàn, giáo dục khôn khéo v.v... đã in đậm vào tâm trí của con. Cho nên, con thành người, hiển đạt là do sự giáo dục của mẹ. Đó cái "Trí" của mẹ vậy. 

Cuối cùng là chữ "Tín". Rất quan trọng đối với phụ nữ. Người mẹ được con yêu vì cũng vì chữ tín. Nghĩa là, tư cách, đạo đức của mẹ được con và mọi người tín nhiệm. Muốn thực hiện được chữ tín ấy, người phụ nữ phải thực hiện trọn vẹn bốn đức tính trên (nhân, lễ, nghĩa, trí). Ngoài ra, lời nói và việc làm phải là một. Nói năng phải giữ hòa khí, kính nhường. Hành động phải rõ ràng, trong sáng. Tín được đánh giá qua sinh hoạt và đời sống đạo đức của con người. Xưa kia, Khổng Tử thấy người ta giết lợn. 

Về nhà hỏi mẹ, mẹ Khổng Tử đáp : "Người ta giết lợn để lấy thịt cho con ăn". Đã lỡ lời, dù nhà nghèo mẹ Khổng Tử phải bằng mọi cách mua cho Khổng Tử thịt lợn để ăn. Ngày nay, Khổng Tử được làm thầy thiên hạ, không phải tự nhiên mà được. Mà là do hấp thụ các nhân cách, đạo đức của mẹ. Vì vậy, ngủ thường là đứ? tính cao quý mà tất cả phụ nữ phải rèn luyện, khắc kỷ - để sau này truyền thụ lại cho con. Năm lá hoa hồng tượng trưng cho đức tính cao đẹp ấy. 

Khi hoa hồng có nụ. Năm chiếc lá giảm xuống còn có ba. Tượng trưng cho tam tòng. Nghĩa là, muốn cho tình thương trọn vẹn, đạo đức mình tốt đẹp, người phụ nữ phải có ba đức tánh thuần phục.  Khi còn nhỏ, phải hiếu thuận với cha mẹ. Lớn lên, có chồng, phải một dạ thủy chung. Khi chồng qua đời, thì ở vậy nuôi con. Thường người ta nói : "giọt nước trước, chảy làm sao, giọt nước sau chảy như vậy". 

Cho nên, người mẹ muốn con mình hiếu thuận, trước hết phải làm con hiếu thuận. Muốn con mình quý kính, dạy dỗ được nó, thì phải là người đàn bà chung thủy, ngay thật. Ai trên đời, không muốn tự do và hưởng thụ. Nhưng vì con, từ nhỏ cho đến khi lìa đời, ngườ? đàn bà đã hy sinh, đánh mất đi sự?tự do của bản thân mình. Chịu nép mình, khắc kỷ theo nề nếp đạo đứ? gia phong. Đến khi có chồng có con thì hết lòng vì chồng con. Chồng chết, thủ tiết thờ chồng nuôi con. Cho nên Tam Tòng là kết tinh cái giá trị cao quý của ngừờ? đàn bà. Nó là giá trị chung cuộc của người phụ nữ từ khi sanh ra đến khi lìa đời. Chính giá trị đó, kết tinh thành nhựa sống, sự yêu thương cho đàn con. Vì vậy, sau ba chiếc lá đó, hoa hồng đã nẩy nở, lung linh trước gió và khởi sắc trước ánh mặt trời. 

Hoa hồng, ngoài cái sặc sở của màu sắc; còn chứa đựng mùi hương nhẹ nhàng thanh khiết. Đó là kết tinh của ngày sinh trưởng chồi non, đâm tược nẩy cành. Rồi từ năm lá, còn ba lá, để sau cùng, nở ra một đóa hoa hồng thắm. Chiếc hoa hồng đã hấp thụ tinh hoa của trời đất, phấn đấu trước phong ba bão táp, để rồi góp phần làm đẹp cuộc đời. Cũng vậy cái cao quý, cái tình thương của người mẹ là kết tinh đạo đức của tổ tiên, của sự khôn khéo trong đời sống; để rồi chịu đựng, hy sinh, nhẫn nại, truyền thụ cho con. Khi có con, ngoài cái trao hết cái nhựa sống, cái khí huyết của mình để nuôi con, người mẹ còn trao cho con cái tinh hoa đạo đức của mình. Cho nên, màu hồng tượng trưng cho sự sống của người mẹ. Sự sống ấy, sức sống ấy, mẹ để lại cho con, cho cuộc đời. Nếu mất mẹ, con đã mất đi sức sống ấy, tình thương ấy. Cho nên, ai mất mẹ, như hoa hồng không còn màu sắc. 

Bởi trải qua quá trình hy sinh, gian khổ. Cho nên, người mẹ dễ dàng kiệt lực. Hình ảnh chiếc hoa hồng sớm tàn phai phải chăng nói lên sự tàn phai, kiệt lực của người mẹ. Vì ai ? Phải chăng vì chúng ta, những người con của mẹ. 

Muốn chiếc hoa hồng đừng vội khô héo, úa tàn. Chỉ cần ngâm cành hoa vào ly nước lạnh. Nước lạnh thì có chất bổ dưỡng gì. Nhưng có nó, chiếc hoa hồng thêm sức sống. Cũng vậy, tình con đối với mẹ lợt lạt, lơ là. Nhưng mẹ thiếu tình con, mẹ cũng chóng úa tàn, ủ dột. Vì vậy, rất diễm phúc cho người mẹ nào có con hiếu thảo. Người mẹ ấy sẽ sống lâu, thanh thản vui tươi một đời. Cho nên, hiếu thảo với cha mẹ là thêm sức sống cho cha mẹ. Thiếu tình thương với cha mẹ, hoặc sống không đạo đức, để cha mẹ lo âu, phiền muộn là bức tử cha mẹ - như hoa hồng thiếu nước vậy. 

Tuy nhiên, dù con có đối xử thế nào đi nữa, thì cha mẹ vẫn cưu mang. ưu hoài lo lắng về con. Suốt cuộc đời, nào phải dưỡng nuôi, tần tảo, rồi giáo dục, dựng vợ gả chồng. Đến khi gần chết, còn lo cho con, cho cháu đói no, thiếu kém. Nên cuối cùng còn để cho con di sản, gia tài. Tục ngữ Việt Nam có câu "Công Cha như núi Thái Sơn, nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Nghĩa là công ơn của cha mẹ cao lớn, bất tận. Cũng như vậy, hoa hồng dù chóng tàn phai, nhưng đài hoa luôn luôn xanh tươi rắn chắc. 

Cái khó chịu nhất của biểu tượng hoa hồng cài áo là những chiếc gai của nó. Bởi vì, nói mẹ là tình thương, là đạo đức, là... nhưng cuối cùng, những chiếc gai đó, như phá tan, làm đổ nát cái cao quý thiêng liêng về mẹ. Nhưng suy đi nghĩ lại. Chính những cái gai đó mới lột tả hết cái tình thương cao quý của mẹ. Lịch sử nhân loại đã chứng minh, có những bà mẹ, vì quyền lợi, địa vị, danh vọng của con đã bằng tất cả mưu trí, kể cả tính độc ác để soán ngôi, tráo chúa. Vì con, mẹ cũng dám xé xác tình địch để dành chồng dành cha. Vì con, mẹ dám giết gà mổ heo để cho con được bổ dưỡng.

Cho nên Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân có dạy : "Vì con miễn sao có lợi thì làm. Chẳng màng tội lỗi giam cầm". Tất cả tính ích kỷ, nhỏ nhoi, độc ác, tị hiềm, thủ lợi v.v... của mẹ - là vì con. Con chó, con gà khi có con thì trở thành hung hăng. Loài súc sanh còn thế, huống chi con người. Cho nên, thật là hay, nếu chiếc hoa hồng thiếu gai, nhưng hoa hồng sẽ khó giữ được cái tươi đẹp, cái trọn vẹn của hoa hồng. Người con gái không có cứng rắng thì khó giữ được sự tinh nguyên của ngườ? con gái. 

Người mẹ thiếu đi tính ích kỷ, độc ác thì  làm sao bảo vệ, nuôi dưỡng đàn con. Do đó, cái cay cú, độc hiểm mới thể hiện đức tính cao quý của mẹ, một cách trọn vẹn. Như vậy, biểu tượng "Hoa Hồng cài áo" là một biểu tượng diễn đạt hết tâm tình của người mẹ đối vớ? con. Cho nên cứ mỗi độ Vu Lan Rằm tháng Bảy, tất cả những người con sung sướng được gắn chiếc bông hồng lên áo. Nơi đó, tim ta đang thổn thức, làm chiếc bông hồng thêm sinh động. và tình mẹ con thêm dạt dào nhớ thương. Nhưng cài hoa hồng lên áo, không có nghĩa là chỉ ca ngợi về mẹ, mà còn nhắc nhở chúng ta có hiếu với cha mẹ. Chúng ta có bổn phận phải đền đáp lại ân đứ? hy sinh của cha mẹ; đền đáp lại công ơn sinh thành, dưỡng dục. 

Nhưng đền đáp bằng cách nào - chẳng thấm tháp vào đâu ! Giống như hạt muối bỏ vào biển. Như hạt cát thêm vào sa mạc. Nhưng dầu sao, có làm, có thể hiện thì cũng hơn không. May mắn cho chúng ta. Chúng ta có giáo lý của Đứ? Phật. Ngài đã chỉ cho chúng ta con đường cao thượng và phương pháp trả hiếu trọn vẹn. Ngày lễ Vu Lan, cung thỉnh thập phương Tăng, thiết trai cúng dường - với thức ăn trăm món, trái cây trăm màu v.v... chỉ là thử thách lòng nhiệt thành của chúng ta và tháo gở, cứ? thoát tâm bỏn sẻn, ích kỷ của cha mẹ khi còn sinh tiền. Cái quan trọng là chúng ta ý thức được sự hiếu đạo và thực hiện trong cuộc đời. Thông thường khi chúng ta thọ ân ai muốn đền đáp lại, ai cũng muốn trả ơn cái mình đã thọ. Nếu không có đạo Phật thì chúng ta khó thể hiện được điều nầy. Bởi vì, công ơn cha mẹ cao như trời biển. Nhưng để đối lại cái đạo đứ?, cái khắc kỷ "ngũ thường" của cha me,?chúng ta giữ   "ngũ giới?" của Phật giáo. 

Cha mẹ mong cho chúng ta nên người, thành người đạo đứ? cho nên suốt cuộc đờ? người đã nhẫn chịu khuôn phép đạo đ?#7913;? của tổ tông, trui luyện đúng nhân phẩm. Nay chúng ta cũng phải suốt đời giữ tròn năm giới. Sở dĩ năm giới của Phật Giáo có thể đối đãi với công ơn cha mẹ, vì năm giới của Phật Giáo xuất thế - vượt trên cái đạo đức của con người. Giữ tròn năm giới không những chúng ta có đạo đức của một con người, mà chúng ta còn có tình thương bao la với người, với vật mà còn thoát khỏi cái nghiệp báo luân hồi. Một khi chúng ta thoát được nghiệp quả luân hồi thì chúng ta còn cứu thoát quả khổ của cha mẹ - như gương hiếu hạnh của Ngài Mục Kiền Liên. 

Cho nên, muốn cha mẹ yên lòng không gì hơn là chúng ta có tình thương với muôn loài. Lục đạo chúng sanh cũng là cha mẹ trong nhiều đời, nhiều kiếp. Muốn cứu rỗi cha mẹ, không gì hơn là thoát khỏi luân hồi. Người xưa có dạy :"Nhứ? nhơn thành đạo, cữu huyền thăng". Cho nên giữ tròn năm giới là đáp lại năm đức của cha mẹ. Đồng thời cứu thoát cha mẹ khỏi trầm luân. Nhưng muốn hiểu và thực hành đúng năm giới đó, chúng ta phải quy y Tam Bảo. Bởi vì chỉ có Đức Phật, lời dạy của Phật, và sự hướng dẫn của chư  Tăng là chơn chánh. Mẹ chúng ta vì chúng ta mà giữ tam tòng, để tròn đức hạnh của một người mẹ. 

Chúng ta muốn tròn đức hạnh và xứng đáng là người con - không gì quý hơn là phải sống chơn chánh - bằng cách quy thuận và thực hành theo giáo huấn của Tam Bảo. Phần tự tu tự?độ cho chúng ta, nhờ thế được trọn vẹn. Nhưng điều đó chỉ đáp lại công hy sinh sức nhẫn nại của cha mẹ đối với chúng ta. Chúng ta phải phát tâm thêm nữa, thương người mến vật. 

Tình thương bao la rộng lớn ấy, mới đáp lại phần nào, tình thương của cha mẹ đối với chúng ta. Cho nên hạnh lợi tha (làm lợi ích cho người khác)  là công đức trọn đầy để hồi hướng cho tình thương của cha mẹ. Cha mẹ sanh tiền thương ta, muốn chúng ta sống an nhàn đạo đức, nếu chúng ta giũ tròn tam quy, ngũ giới thì đã làm cho cha mẹ vui lòng. Cha mẹ chết đi, để lại cho chúng ta gia tài sự sản. Đáp lại, làm con, chúng ta phải tìm cách siêu độ vong linh về thế giới an lành. Muốn vậy, chúng ta phải ăn chay, niệm Phật, tụng kinh v.v... mong sao cha mẹ mình về nơi an vui vĩnh viễn. Có như vậy, chúng ta mới cởi bỏ tất cả nghiệp chướng mà cha mẹ chúng ta đã vì chúng ta mà gây tạo. 

Tóm lại,  đáp lại đức hạnh của mẹ, chúng ta phải thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Đáp lại tình thương của mẹ, chúng ta phải phát tâm tu tập. 

Đáp lại công ơn sanh thành và dưỡng dục và lo lắng của cha mẹ, chúng ta phải cầu nguyện và hồi hướng công đức cho cha mẹ sớm về cõi Cực Lạc và để cởi bỏ nghiệp chướng mà cha mẹ vì chúng ta phải đeo mang, bằng sự tu tập chứng đắc và thanh tịnh của chính mình. 

Được như vậy, chúng ta mới xứng đáng bổn phận làm con và Bông Hồng cài áo trọn đầy ý nghĩa.

Thích Thiện Chí 
(Giác Ngộ)
 
 

08-17-2007 09:12:46
 

MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap