VU
LAN VÀ TUỔI TRẺ
Thông
Huệ
Nhà
Xuất Bản Tôn Giáo 2008
MỤC
LỤC
Vu
Lan và tuổi trẻ.
Vu
Lan - Truyền thống của Đạo Hiếu.
Ngày
Lễ hội truyền thống.
Di
sản tinh thần
Tinh
thần trách nhiệm
Em
thân mến!
Hôm
nay, mùa Vu Lan báo hiếu lại trở về trên xứ Việt, hòa chung
với niềm vui lớn này, xin được san sẻ cùng em đôi điều
về đạo hiếu của con người. Có thể em chưa phải là Phật
tử, chưa biết gì về Đạo Phật. Nhưng em cũng cần biết
một cách khái lược về hiếu đạo, vì điều đó đâu có
xa lạ gì với truyền thống đạo đức của người Việt
Nam. Vả lại, em cũng cần biết rõ đâu là hiếu, đâu là
bất hiếu để có một cái nhìn đúng đắn, chính xác trong
cuộc sống hôm nay, một cuộc sống với nhịp độ hối hả,
chóng mặt, dễ làm ta đánh mất những giá trị nhân bản
muôn đời mà hiếu đạo là nền tảng trong mọi kiếp nhân
sinh.
Em
sẽ bảo vì sao lại nói đến chữ Hiếu, trong khi vấn đề
đã được rất nhiều người nhắc đi nhắc lại, e rằng
sẽ trở thành điệp khúc: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”
đó thôi. Nhưng em ạ! Có những vấn đề đã trở thành truyền
thống, nhắc lại đúng lúc, đúng thời cũng là một cách
nói mới nhằm nhắc nhở, động viên, khuyến khích nhau trong
cuộc sống rất bận rộn này. Nếu không như vậy thì mọi
vấn đề dù có nóng hổi đến đâu cũng sẽ chìm vào quên
lãng. Vì thế, tôi không ngại viết ra đôi điều làm phiền
em phải đọc.
Em
ạ! Một chữ Hiếu mà bao la rộng khắp, nói làm sao hết nghĩa
hết tình, chỉ đại khái thôi để cho em có một ý niệm
trong lòng. Xin mượn lời tiền nhân đã dạy:
“Thờ
Cha kính Mẹ hết lòng,
Ấy
là chữ Hiếu dạy trong luân thường.
Chữ
Để là nghĩa chữ nhường,
Nhường
anh nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi
lòng tạc dạ chớ quên,
Con
em phải giữ lấy nền con em”.
Như
vậy em thấy hiếu để là kính trên nhường dưới, một dạ
khắc ghi, siêng năng làm bổn phận, đạo lý này rất bình
thường nhưng mà cao cả biết bao!
Ca
dao Việt Nam có câu :
“Mẹ
già ở túp lều tranh
Sớm
thăm tối viếng mới đành dạ con”.
Thật
vậy, có gì quý hơn một người biết kính trọng Ông Bà,
Cha Mẹ, luôn luôn hiếu thuận hết mực, từng cử chỉ, lời
nói ôn hòa thì mới tạo được niềm tin với mọi người.
Nếu một người cư xử tệ bạc với Cha Mẹ, với người
trên mà lại cư xử tốt với người ngoài, chắc không có
gì lạ, chỉ để cầu danh cầu lợi mà thôi. Một người
thật lòng thật dạ biết hổ thẹn sẽ không hành xử như
vậy. Điều đó khiến cho em hiểu, hiếu là quan trọng đến
mực nào. Bởi thế, đức Phật có dạy :
“Hiếu
đứng đầu muôn hạnh” (Hiếu vi vạn hạnh chi tiên).
Trong
thời đại nguyên tử mọi giá trị tinh thần đều bị đảo
lộn, mọi thứ đều được hiện đại hóa, vì thế hiếu
hạnh cũng có phần bấp bênh trong lòng những con người bội
bạc, quên cội nguồn.
Tuổi
trẻ quê tôi bây giờ đã rủ nhau đổ xô về đất thị thành
ngày càng nhiều. Các em đã từ giã làng quê ra đi chen chúc
trong các xí nghiệp để bảo đảm cuộc sống tiện nghi; trao
dồi thêm kiến thức thời đại vì sợ rơi vào lạc hậu.
Do vậy, em phải phấn đấu học hỏi, đáp ứng theo nhu cầu
xã hội ngày càng cao, và cái cảnh cô đơn tủi phận của
những bậc Cha Mẹ xảy ra là điều tất yếu.
Em
đi làm việc phương xa mang theo hình ảnh một người tha phương,
phiêu lưu trong vòng lẩn quẩn của chén cơm manh áo. Bỗng
một hôm nào đó “Giật mình mình lại thương mình xót xa
!” thì đã quá muộn màng. Em càng khôn lớn thêm lên thì
bậc Cha Mẹ đã sắp thành “người thiên cổ”. Muốn báo
hiếu ư? Cũng không còn kịp nữa. Em có quyền sống và làm
mọi việc, nhưng luôn nhớ bài học ngàn vàng: “Phàm làm
việc gì phải nghĩ đến hậu quả của nó”. Nghĩa là khi
em làm điều gì phải xét xem điều ấy là thiện hay ác? Có
làm tổn hại ai không? Có làm cho Cha Mẹ vừa lòng hay phải
lấy tai tiếng vì mình? Em nên biết, hiếu được xuất phát
từ tấm lòng tri ân sâu xa đối với song thân và được biểu
hiện nơi hành động thiện lành, không cô phụ công ơn sanh
thành dưỡng dục của người. Em cần phải hiểu, thương
yêu kính trọng thôi vẫn chưa đủ, mà còn phải trao dồi
thêm trí huệ, biết đâu đúng đâu sai, việc gì nên làm không
nên làm. Người có tâm hiếu thì không thể mê mờ trong hành
vi lời nói. Hiếu không nằm trong một tâm hồn bệnh hoạn,
đầy dẫy tham - sân - si. Chính mình đã không biết xử xự
tốt đối với hoàn cảnh thì làm sao có thể giúp cho người
thân được hạnh phúc. Căn bản đạo đức là hiếu đạo,
trợ duyên cho đời sống đạo đức là quy y Tam Bảo, giữ
gìn năm giới cấm, thực tập theo nếp sống Bát chánh đạo,
nương pháp Phật làm cương lĩnh cho mọi ý nghĩ, lời nói
và hành động.
Việc
báo hiếu báo ân là điều phải làm, vì là nghĩa vụ thiêng
liêng cao cả nhất của những người con. Và chúng ta đem hiếu
hạnh đó dâng lên cúng dường ngôi Tam bảo nhân mùa Vu Lan
báo hiếu báo ân năm nay.
Muốn
báo ơn Cha Mẹ thì cái tình thật đáng cần hơn cái tiền.
Em còn nhớ câu chuyện con trai Lão Hạc của Nam Cao không? Vì
muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại nên đã tuyên bố: “Con
đi, khi nào có bạc trăm con mới về”, và anh đã ra đi, đi
mãi vào lòng đất, làm phân cho gốc cao su, bỏ lại người
cha già bơ vơ thật tội nghiệp. Sau đó ông lão đã chết
vì cô đơn buồn bã, vì mòn mỏi đợi chờ bằng liều thuốc
độc.
Vu
Lan là ngày hội tụ những niềm vui trong tâm hồn những người
con hiếu hạnh. Đức Mục Kiền Liên chưa bao giờ rời xa chúng
ta, cả cuộc đời Ngài vẫn ở trong ta, vẫn chói lòa tấm
gương hiếu hạnh một cách hoàn hảo. Nếu em biết sống đời
hiếu hạnh thì em cũng chính là hiện thân đức Mục Kiền
Liên, em đã sống thật đáng sống. Từ chỗ đứng của mình
bằng tất cả tấm lòng thành, em hãy chắp tay hướng về
Phật đài và vui mừng vì được báo ân Cha Mẹ, như một
nghĩa vụ thiêng liêng, càng thực hiện càng thêm an lạc.
VU LAN - TRUYỀN
THỐNG CỦA ĐẠO HIẾU
Cứ
mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, tất cả người con Phật
đều nhớ đến trách nhiệm báo ân báo hiếu đối với hai
đấng sanh thành. Hàng Phật tử khắp nơi cùng nhau long trọng
tổ chức Đại lễ Vu Lan, nương vào uy đức ngôi Tam bảo,
cầu nguyện cho Cha Mẹ còn sống được an lạc trong chánh
pháp, Cha Mẹ đã qua đời siêu sanh về các cõi lành. Thương
cha kính mẹ được coi là truyền thống tốt đẹp lâu đời
của mỗi người dân Việt. Tình thương đối với Cha Mẹ
luôn luôn là mối ân tình thiêng liêng nhất.
Từ
thuở xa xưa đến nay, tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả
Mục Kiền Liên vẫn mãi mãi soi sáng, làm thắm đượm nhân
tình. Sau khi thành đạt đạo quả A La Hán, ngài Mục Kiền
Liên dùng thiên nhãn quan sát khắp, thấy Mẹ mình bị đọa
đày làm loài quỷ đói. Ngài là hàng đệ tử thần thông
đệ nhất, tin rằng sẽ cứu được Mẹ qua cơn đói khát
đày đọa tấm thân. Ngài với hai tay cầm bát cơm xuống cõi
âm dâng lên cho Mẹ. Mẹ ngài cầm bát cơm vừa đưa ngang miệng,
thì than ôi! Cơm hóa thành than hồng, không thể ăn được.
Tôn giả chính mắt chứng kiến cảnh tượng này, lòng đau
khổ vô cùng. Tôn giả trở về xin Phật mở lượng từ bi
cứu độ Mẹ ngài.
Phật
dạy: “Mẹ ông đã nhiều kiếp gieo nhơn xan tham keo kiệt,
nên nay phải chịu quả báo làm loài quỷ đói. Một mình ông
không thể cứu được. Phải nhân ngày rằm tháng bảy, tổ
chức cúng dường Phật và chúng Tăng trong mười phương, nhờ
vào uy lực và sức chú nguyện của Phật và chúng Tăng mười
phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.
Sau
đó, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật dạy, đến
ngày rằm tháng bảy đem phẩm vật đến cúng dường chúng
Tăng mười phương. Mẹ của Ngài nhờ uy đức phước lực
của chúng Tăng và lòng chí thành chí kính của Ngài, sớm
được thoát khỏi nỗi thống khổ của loài quỷ đói, siêu
sinh về cõi lành.
Từ
đó, ngày lễ Vu Lan được tổ chức long trọng để hàng Phật
tử câu hội về ngôi Tam bảo, cúng dường Đức Phật và
chúng Tăng, cầu cho Cha Mẹ còn sống được thân tâm an lạc,
sau khi mạng chung được sanh về các cõi lành.
Về
phương diện giáo dục đạo đức của đạo Phật, một điểm
đáng ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là
nền tảng đạo đức của đạo làm người cho ra người.
Chúng ta có thể trang trải tình thương đến tất cả mọi
loài mọi vật, nhưng điểm xuất phát làm nền tảng phải
từ sự hiếu kính Cha Mẹ. Một người có thể thương đủ
hạng người, tình thương đó trùm hết muôn loài vạn vật,
nhưng nếu không thương kính Cha Mẹ thì tình thương đó e
thành giả dối, vì không có gốc rễ, không được lập cước
từ căn bản. Cho nên hiếu đạo xưa nay vẫn thường được
đề cao trong phạm vi luân lý đạo đức. Nếu chưa thực hiện
hiếu đạo ngay trong đời sống gia đình đối với Cha và
Mẹ thì chưa thể xứng đáng là một con người. Người xưa
có câu: “Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên”. Ngay
như người xuất gia học đạo vẫn còn phải cưu mang bốn
ân nặng là ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân chúng sanh và ân
tổ quốc. Trong bốn ân thì ân Cha Mẹ vẫn còn là mối ân
tình sâu đậm với mỗi người xuất gia tu Phật. Trong “Cư
trần lạc đạo” của vua Trần Nhân Tông viết:
“Tụng
kinh niệm Bụt
Chúc
Thánh khẩn cầu
Tam
hữu tứ ân
Ta
nguyền được trả”.
Vì
công ơn sanh thành dưỡng dục của Cha Mẹ quá là cao dày,
nên Kinh Thi có câu: “Phụ hề sanh ngã. Mẫu hề cúc ngã.
Ai ai phụ mẫu, Sanh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiều thiên
vãn cực”. (Cha sanh ra ta. Mẹ nuôi nấng ta. Thương Cha Mẹ
lắm, vì sinh ta nhọc nhằn. Đến khi muốn báo đáp ân sâu,
thì than ôi, trời cao không cùng!).
Công
ơn sanh thành dưỡng dục của Cha Mẹ quả là lớn lao, như
trời cao. Khi người con muốn đền đáp ân sâu thì lúc đó
như trời cao với không tới, từ khi cưu mang đến mở mắt
chào đời, trưởng thành và lớn khôn, Cha Mẹ phải chịu
biết bao là khổ sở, nhọc nhằn. Thế mà khi sức sống đã
truyền hết cho con thì Cha Mẹ hơi tàn sức tận, rồi trở
thành “người thiên cổ”. Ai có lớn lên nếm mùi cay đắng,
thấm gót phong trần thì mới thắm thía cái ơn của Cha Mẹ
mình. Một người biết đến điều ân nghĩa, chắc chắn không
dám vội quên cái ơn của Cha Mẹ.
Phật
dạy: “Này các Tỳkheo, có hai hạng người, ta nói là không
thể trả ơn được. Thế nào là hai? Đó là Mẹ và Cha. Nếu
một bên vai cõng Mẹ, một bên vai cõng Cha, làm như vậy suốt
một trăm năm, cho đến khi Cha Mẹ trăm tuổi. Như vậy, này
các Tỳkheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho Mẹ và Cha.
Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy,
Mẹ Cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các
Tỳkheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn Mẹ và Cha...” (Kinh
Tăng Chi I-75)
Ca
dao Việt Nam có câu:
“Công
Cha như núi Thái Sơn
Nghĩa
Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một
lòng thờ Mẹ kính Cha
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Ở
người Cha, nổi bật là đức nghiêm; có nghiêm mới giáo dục
con cái có đạo đức, có văn hóa, sau trở thành người đủ
tài đủ đức, nên tính đức người Cha sừng sững, vòi vọi
như núi Thái Sơn. Còn tính đức của người Mẹ thì muốn
con có cuộc sống no ấm, đủ đầy; người Mẹ lại thường
gần gũi, an ủi, vỗ về con cái hơn, nên tình nghĩa của người
Mẹ, nó đậm đà, da diết như suối nguồn bất tận. Suối
nguồn tình thương của người Mẹ, nó dịu dàng, đầm ấm,
âm thầm tuôn chảy không bao giờ dừng nghỉ.
Phật
dạy trong Kinh Nhẫn Nhục: “Cùng tột điều thiện không gì
hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.
Một
kẻ bất hiếu với Cha Mẹ là kẻ đã vong ân bội nghĩa, kẻ
đã vong ân bội nghĩa thì không còn sự xấu ác nào ở trên
thế gian mà họ không dám làm, kẻ ấy đã quên cội nguồn.
Có
gì sung sướng bằng khi chúng ta còn Cha mẹ. Mỗi khi mùa Vu
Lan về, chúng ta được cài lên áo chiếc hoa hồng tươi thắm.
Sự hiện hữu của Cha Mẹ trong gia đình khác nào sự hiện
hữu của các thiên thần. Còn Cha còn Mẹ là còn thiên đường
của tuổi thơ. Còn Cha còn Mẹ là còn Phật trong nhà. Muốn
đạt được tâm Phật, không gì hơn giữ gìn tâm hiếu; muốn
đạt được hạnh Phật, không gì hơn giữ gìn hạnh hiếu.
Vì mảng lo kính thờ Phật bên ngoài mà quên kính thờ Phật
trong nhà, nên mới có câu: “Phật trong nhà không thờ, thờ
Thích Ca ngoài đường”.
Phật
dạy: “Những gia đình nào, này các Tỳkheo, trong ấy các
con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiện. Những gia đình nào,
này các Tỳkheo, trong ấy các con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong
nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các đạo sư
thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳkheo, trong ấy các
con cái kính lễ Mẹ Cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận là đáng được cúng dường”.
“Phạm
Thiên, này các Tỳkheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha. Các đạo
sư thời xưa, này các Tỳkheo, là đồng nghĩa với Mẹ Cha.
Đáng được cúng dường, này các Tỳkheo, là đồng nghĩa
với Mẹ Cha. Vì cớ sao? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳkheo,
là Mẹ Cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng dục
chúng, giới thiệu chúng vào đời” (Phật thuyết như vậy,
Cat, 7 - 503)
Ân
sâu nghĩa nặng của Cha Mẹ có thể kết thành những vần
thơ tuyệt tác nhất. Và tự nhiên hạnh hiếu được coi là
đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất trong
mọi thời đại, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Dùng bút
mực để diễn tả trọng ân của Cha Mẹ vẫn còn mãi với
kiếp sống con người. Vậy thì, đã là một Phật tử theo
chánh đạo, chúng ta phải báo đáp ân sinh thành dưỡng dục
của Cha Mẹ thế nào mới xứng đáng? Muốn báo hiếu đầy
đủ nhất phải gồm hai phần: vật chất và tinh thần.
1.-
Về đời sống vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng
Cha Mẹ những nhu cầu cần thiết, để Cha Mẹ được thảnh
thơi an dưỡng trong tuổi xế chiều.
2.-
Về đời sống tinh thần phải thường xuyên khích lệ trợ
duyên cho Cha Mẹ học hiểu chánh pháp, biết tránh ác làm lành,
giữ gìn ba nghiệp lành, tiến đến giải thoát an vui vĩnh
viễn
Có
một Thiền sư, tuy bản thân xuất gia, nhưng vẫn giữ tròn
hiếu đạo cho đến khi Cha Mẹ khuất bóng :
“Giang
sơn còn nặng gánh tình
Trời
chưa cho nghỉ thì mình cứ đi
Khi
nào trời bảo thôi đi
Giang
sơn cất gánh, ta thì nghỉ ngơi”.
Trong
mùa Vu Lan năm nay, hàng Phật tử chúng ta nghiêng mình kính
cẩn trước Phật đài, thề nguyền noi gương hiếu hạnh của
đức Mục Kiền Liên, làm tròn trách nhiệm một người con
chí hiếu chí kính, biết nhớ ơn và đền ơn đối với hai
đấng sanh thành, càng nghĩ đến tất cả chúng sanh trong pháp
giới đều được thoát khổ, đến bờ an vui giải thoát.
NGÀY LỄ
HỘI TRUYỀN THỐNG
Hàng
năm, vào ngày rằm tháng bảy, các Phật tử đến chùa tụng
nghi lễ Vu Lan, nghe quý thầy giảng về đạo Hiếu; đây là
một điều rất đáng tán dương. Có thể nói, ngày Vu Lan đã
trở thành một lễ hội truyền thống, là ngày đền ơn đáp
nghĩa, không chỉ riêng cho những người con Phật, mà chung
cho cả dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nhân mùa Vu Lan năm nay,
chúng ta cũng cần nhắc lại những ý nghĩa sâu xa của lễ
hội này, để hiểu rõ do đâu mà ngày rằm tháng bảy được
gọi là ngày Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân, ngày Tự
tứ và là ngày Phật hoan hỷ.
VU
LAN VÀ ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA .
Đức
Khổng Tử đã nói: “Nhơn vi vạn vật tối linh” (Con người
là tối linh trong muôn vật). Loài vật chỉ có thiên tính nuôi
con, không có ý thức phải sống như thế nào cho phù hợp
với đạo đức; còn con người có khối óc, có lý trí, nên
ngoài bản năng, con người còn biết nhớ ơn và đền ơn.
Chúng ta sinh ra và lớn lên, không ai có thể độc lập tồn
tại được, mà phải nhờ cha mẹ và các ân tình khác trong
cuộc sống. Đức Phật dạy, có bốn ơn lớn mà con người
cần phải biết để báo đền: Ơn cha mẹ, ơn sư trưởng,
ơn chúng sanh và ơn tổ quốc, gọi là Tứ trọng ân.
Trong
các hình thức văn hóa, chúng ta thường thấy ca ngợi tình
mẹ hơn là tình cha. Không phải vì cha không thương con bằng
mẹ, công lao nuôi dạy con không bằng mẹ, mà bởi vì tình
cảm của người cha thường ít biểu lộ ra ngoài, nên con
cảm thấy gần gũi mẹ hơn cha. Thật ra, đức nghiêm của
cha và đức từ của mẹ kết hợp nhau, dung hòa lẫn nhau mới
tạo nên sinh khí và sự bình ổn trong gia đình, mới là điều
kiện cần và đủ cho sự giáo dục con cái.
“Công
cha như núi Thái sơn,
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Công
của cha cao vòi vọi như ngọn núi lớn, nghĩa của mẹ rạt
rào bất tận như suối nguồn. Công và Nghĩa là hai phạm trù
có thể diễn đạt được ý nghĩa của tình cha mẹ đối
với con. Hiểu được điều này, chúng ta thấy cha và mẹ
đều có địa vị cao cả ngang nhau trong lòng con cái. Vì vậy,
mỗi người chúng ta đều phải tìm mọi cách báo đáp trọng
ân này. Nhưng làm cách nào để báo đáp cho tròn chữ hiếu?.
Kinh
Tăng Chi Bộ tập I, Phật dạy rằng: “Những ai đền ơn
bằng cách nuôi dưỡng cung phụng cha mẹ bằng của cải vật
chất, thì không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này
các Tỳkheo! Ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến
khích hướng dẫn an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ
xan tham, khuyến khích hướng dẫn an trú vào bố thí; đối
với cha mẹ theo ác-trí-huệ, khuyến khích hướng dẫn an trú
vào trí huệ. Cho đến như vậy, này các Tỳkheo! Là làm đủ
và trả đủ ơn cha và mẹ”. Dựa vào lời Phật dạy,
chúng ta đã biết báo hiếu đúng nghĩa phải như thế nào.
Trước tiên, chúng ta phải lo cho cha mẹ đầy đủ về vật
chất, tùy khả năng của mỗi người. Kế đến, chúng ta phải
nghĩ đến đời sống tinh thần và đạo đức cho cha mẹ.
Nếu người có tà kiến, phải giúp đỡ người có được
chánh kiến; nếu người theo tà giới, phải khuyên người
theo chánh giới; nếu người làm điều ác, phải khuyên người
làm những hạnh lành; nếu người chưa có chánh tín, phải
khuyến khích người trở về nương tựa nơi Tam-bảo, sống
một cuộc đời hiền thiện.
Chúng
ta đọc câu chuyện Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất
là hai vị đệ tử lớn của Phật, thấy hai Ngài đều có
mẹ vì tạo tội nên bị đọa vào khổ xứ. Sau khi được
Phật chỉ dạy, các Ngài khẩn thiết xin với chư Tăng tu hành
thanh tịnh, vào ngày rằm tháng bảy thành tâm chú nguyện cho
mẹ mình. Tâm thành của chư vị Thánh Tăng chuyển được
tâm ác của hai bà mẹ nên hai bà thoát kiếp đọa đày. Chuyện
này cho thấy, hai vị tôn giả dù xuất gia tu hành đã được
giải thoát, vẫn nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ. Không phải chỉ nhớ đến cha mẹ đời này,
mà còn nghĩ tưởng đến cha mẹ và bà con quyến thuộc ở
vô số kiếp về trước. Đức Phật đã từng lạy đống
xương khô, nhân đó thuyết bài Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu, một
áng văn tuyệt tác, làm rơi lệ biết bao nhiêu người từ
thời ấy cho mãi đến ngàn sau. Cho nên, với tầm nhìn của
người bình thường, những người xuất gia dường như là
bất hiếu. Nhưng thật sự, cung phụng cha mẹ bằng món ngon
vật lạ chỉ có giá trị giới hạn, vì thuộc về vật chất
hữu hình hữu hoại. Còn người xuất gia tu hành đạt đạo,
khuyến khích cha mẹ cùng tu hành để thoát khổ sinh tử luân
hồi, đó mới là đại hiếu vì có giá trị vĩnh hằng, đó
mới thực sự xứng đáng đền ơn cha mẹ.
Kinh
Tương Ưng tập I có nói:
“Người
nào theo thường pháp,
Nuôi
dưỡng mẹ và cha,
Chính
do công hạnh này,
Đối
với cha với mẹ,
Nhờ
vậy bậc Hiền Thánh,
Trong
đời này tán thán,
Sau
khi chết được sanh,
Hưởng
an lạc chư Thiên”.
Thường
pháp là pháp không biến đổi theo thời gian và không gian,
là chân lý muôn đời. Do lòng hiếu thảo phụng dưỡng cha
mẹ, những người con ấy được các bậc Hiền Thánh tán
thán; và sau khi chết được sanh về cõi trời, hưởng nhiều
sự an lạc. Thật ra, một người con hiếu thảo sẽ tự cảm
nhận trong thân tâm mình có sự tươi mát bình an. Đó là cảm
thọ của chư Thiên ngay trong hiện kiếp. Ngược lại, những
người bất hiếu với cha mẹ thì không xứng đáng với danh
nghĩa là người. Đây là điều kiện để những tội ác khác
phát sinh, vì đạo hiếu là căn bản của đạo đức con người.
Nếu chúng ta không thương cha mẹ, thì chắc chắn không thể
nào chúng ta có tình thương thật sự đối với ai. Cho nên,
điểm đầu tiên của lòng từ bi phải là lòng hiếu thảo.
Phật đã dạy, phụng thờ trời đất quỷ thần không bằng
hiếu kính với cha mẹ, vì cha mẹ là thần linh bậc nhất,
chính là Phật tại thế. Điều này cho thấy, địa vị của
cha mẹ đối với con cái rất quan trọng. Nhất là trong xã
hội hiện tại, đôi nơi đã đánh mất nền tảng đạo đức,
chạy theo xa hoa phù phiếm, thì trong gia đình và học đường,
mỗi đứa trẻ đều phải được dạy bảo để thấm nhuần
về đạo hiếu.
Ơn
lớn thứ hai cần phải báo đáp là ơn đối với sư trưởng.
Đó là các thầy cô dạy chúng ta những kiến thức thế gian,
từ lúc còn thơ chưa biết chữ đến khi thành người hữu
dụng. Người tu còn có một ân nghĩa xuất thế, đó là Chư
Phật Bồ tát và Thầy Tổ. Chính các Ngài có đầy đủ Phật
nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn, giúp chúng ta có một cái nhìn siêu
việt về cuộc sống, giúp chúng ta đẩy lui vô minh, tẩy trừ
tập khí phiền não, để trở thành một người tự tại an
lạc trong dòng đời. Cho nên, tinh thần tôn sư trọng đạo,
từ bao giờ cho đến bây giờ, vẫn cần được nhắc nhở
và đề cao.
Đối
với ơn chúng sanh, ta cần phải quán chiếu mới thấu triệt.
Thân chúng ta sinh ra và lớn lên là nhờ công ơn của rất
nhiều người, từ người nông phu cho lúa gạo, người thợ
dệt cho vải vóc, người thợ nề xây nhà cho ở... đến bạn
bè, người láng giềng, những kẻ giúp việc... mỗi mỗi đều
giúp đỡ ta trong những công việc hàng ngày. Nhìn rộng hơn,
chúng ta sẽ thấy có một sự liên hệ hỗ tương giữa mình
và vũ trụ vạn hữu, đây là thuyết trùng trùng duyên khởi
Phật đã dạy. Cho nên, không những nhớ ơn chúng sanh hữu
tình, ta còn phải mang nặng công ơn của vạn vật vô tình
nữa. Vào thời đức Phật, một vị Tỳ kheo ngồi nghĩ dưới
gốc cây một lát rồi ra đi, cũng phải nhớ ơn cái cây đã
tỏa bóng mát che nắng cho mình. Nói gì đến không khí chúng
ta thở, nước chúng ta uống, ánh sáng mặt trời ban sức sống
cho muôn loài... Tất cả là ơn chúng sanh mà mỗi người đều
thọ nhận, dù khó thể đáp đền. Vì thế, nếu có dịp cứu
giúp người hoạn nạn, khốn khổ hơn mình, nếu nơi nào bị
thiên tai dịch họa, chúng ta cần đóng góp tài lực, vật
lực, tùy theo khả năng. Đây là tinh thần lá lành đùm lá
rách, mà cũng là để đền ơn chúng sanh. Trong nhiều kiếp
luân hồi, biết đâu những người bị nạn ấy là thân nhân
quyến thuộc của mình? Với cái nhìn duyên sinh, phóng tầm
mắt đến đâu ta cũng thấy toàn là bà con thân quyến. Mà
đã là thân nhân với nhau, chẳng lẽ chúng ta nỡ làm hại
người, làm người phiền não, chẳng lẽ không cùng gánh vác
chia xẻ những nỗi đau thương mất mát của người? Đây
chính là tiền đề của lòng từ bi, ban vui và cứu khổ.
Ơn
lớn thứ tư là ơn đối với tổ quốc. Nếu không có
sự bảo hộ của nhà nước, của pháp luật; nếu không có
binh phòng, vệ phòng ngày đêm giữ gìn an ninh trật tự và
đề phòng giặc ngoại xâm, liệu chúng ta có yên ổn sinh sống
và tu hành được không? Những người Việt sống xa quê, do
hoàn cảnh hay do sinh kế phải bôn ba nơi đất lạ, vẫn mang
trong lòng nỗi nhớ quê hương. Tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc luôn luôn vang vọng trong mọi con tim người dân Việt,
vì vậy bao nhiêu giặc ngoại xâm - kể cả những kẻ thù
hùng mạnh và hung hãn nhất, cũng đành chịu thất bại trước
sức quật cường và tinh thần yêu nước của dân tộc Việt-Nam.
Làm
người là một hạnh phúc vô cùng to lớn, nên chúng ta phải
biết trân quý từng giây phút, để sống thế nào cho có đạo
lý, phù hợp với tình cảm giữa người và người. Việc
báo ân báo hiếu là điều cần thiết phải làm để đem lại
hạnh phúc cho gia đình, tạo nền móng đạo đức căn bản,
tạo sự an bình cho xã hội. Đây là nghĩa vụ thiêng liêng
của tất cả mọi người, không phải dành riêng cho những
người con Phật. Bởi vì, dù ở địa vị nào, sống trong
quốc độ nào, theo tôn giáo nào, tinh thần đền ơn đáp nghĩa
vẫn có giá trị muôn đời. Vì thế, có thể nhắc lại mà
không sợ lầm, Vu Lan là một ngày lễ hội truyền thống của
dân tộc Việt-Nam.
VU
LAN VÀ TỰ TỨ
Một
số Phật tử tụng kinh hằng đêm, chắc nhớ hai câu này:
“Thượng
báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ”.
(Trên
đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ).
Những
chúng sanh tạo nghiệp nặng nơi thân khẩu ý, lúc chết phải
đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Nhà Phật nêu lên hình ảnh của một người bị treo ngược
chân lên trời, đầu chúc xuống đất, để tượng trưng cho
những nỗi khổ cùng cực. Cái khổ cùng cực này không chỉ
người bị đọa tam đồ mới chịu, mà ngay người đang sống,
đôi lúc cũng lâm vào những cảnh quẩn bách khiến thân tâm
có thể cảm nhận rõ điều này.
Tinh
thần từ bi của đạo Phật ban rải khắp muôn loài. Cho nên,
ngày Vu Lan còn có ý nghĩa là ngày xá tội vong nhân. Chúng
ta đừng hiểu lầm Vu Lan Bồn là cái chậu đựng trăm món
ngon, chờ đến ngày rằm tháng bảy đem đến chùa nhờ chư
Tăng cầu nguyện cho thân nhân còn sống hay đã chết. Chữ
Vu Lan Bồn có nghĩa là Giải đảo huyền hoặc Cứu đảo huyền,
tức giải cứu khỏi cái khổ treo ngược.
Trong
vòng luân hồi sanh tử, chúng ta đã bao lần là bà con quyến
thuộc với nhau. Vì vậy, sự liên hệ do duyên nợ giữa chúng
ta và tất cả chúng sinh cùng khắp pháp giới là một điều
có thể hiểu được. Từ đó, tình thương của chúng ta sẽ
chan hòa một cách bình đẳng đến muôn loài muôn vật, không
hạn cuộc thời gian và không gian. Và ý nghĩa trọng đại
của lễ Vu Lan chính là lòng biết ơn và đền ơn tất cả
chúng sinh trong ba cõi sáu đường. Tình thương của chúng ta
đối với mọi loài có tính cách xả kỷ, rộng lớn và bình
đẳng chứ không còn là tình cảm luyến ái hệ lụy trong
gia đình. Nếu hiểu được chân nghĩa này, từ trong vô thường
huyễn mộng của cuộc sống, chúng ta sẽ tìm được một
hướng đi và lẽ sống tốt đẹp cho mình và cho mọi người.
Chính ngày Vu Lan giúp chúng ta hướng tâm mình đến chân trời
bao la đó.
Nhưng
làm cách nào để có thể cứu giúp chúng sinh đang bị đọa
đày nơi khổ xứ ?
Đức
Phật dạy, ngày rằm tháng bảy là ngày Tự tứ. Trong ngày
ấy, chư Phật mười phương đều hoan hỷ, vì thấy chư Tăng
tu hành thanh tịnh, hòa hợp. Nhờ đức hạnh, đạo lực của
chư Tăng mới có thể hướng tâm người quá vãng đến nẻo
thiện, chuyển được nghiệp ác cho họ. Như vậy, gốc của
lễ Vu Lan là ngày Tự tứ.
Từ
thời đức Phật còn tại thế, mỗi năm từ rằm tháng tư
đến rằm tháng bảy, chư Tăng phải thực hiện chế độ
an cư, nghĩa là yên ở nơi một trú xứ thu nhiếp các căn,
nỗ lực tu tập Giới - Định - Huệ. Nguyên nhân đầu tiên
để Phật đặt ra chế độ này, là vì trong ba tháng hạ,
ở Ấn Độ mưa nhiều, nước ngập cả lối đi, sau đó côn
trùng sinh sôi nảy nở, nên trở ngại cho việc đi lại hoằng
pháp và vô tình giẫm chết côn trùng. Sau ba tháng cấm túc,
Phật nhận thấy nhiều vị Tỳkheo đắc Thánh quả, nhờ ít
bận rộn đi lại, tránh bớt các duyên và quyết liệt tu hành.
Do kết quả đó nên sau này, chế độ an cư trong ba tháng hạ
được duy trì mãi trong Tăng chúng.
An
cư phải đi đôi với kiết giới. Sinh hoạt của chư Tăng
trong thời gian này khác hơn so với ngày thường. Những ngày
bình thường, do duyên sự bề bộn, các vị có thể du phương
làm Phật sự, kỷ luật trong Tăng-đoàn có khi lơi lỏng. Nhưng
trong ba tháng hạ, mọi việc đều thu xếp gọn lại, chư Tăng
chỉ đi lại giới hạn trong khuôn viên của tự viện; chỉ
có những vị có duyên sự đặc biệt, phải xin phóng giới
mới được ra ngoài. Mới nhìn, chư Tăng có vẻ rảnh rỗi,
không bận tâm về sinh kế vì nhờ Phật tử hỗ trợ cúng
dường; nhưng thật ra nội tâm của các vị quả là một trường
chiến đấu! Một mặt, phải khép mình vào một kỷ luật
hết sức nghiêm khắc; mặt khác, phải chiến đấu không ngơi
nghỉ với bao nhiêu tập khí phiền não. Nhờ vậy, sau thời
gian kiết hạ, nếu vị nào giữ giới tinh nghiêm, nỗ lực
tu học, có sức tỉnh lực thì sẽ có tiến bộ đáng kể;
nơi nào tổ chức tu hành nghiêm túc sẽ có thể sản sinh những
người xuất cách, còn nếu tổ chức lơi lỏng sẽ khó đào
tạo được Tăng tài.
Cũng
cần nhấn mạnh một điều: Tinh thần an cư là thanh tịnh
và hòa hợp. Đây cũng là ý nghĩa của chữ Tăng và cũng là
sức mạnh của Tăng đoàn. Một nhóm người chung sống hòa
hợp với nhau nhưng tâm không thanh tịnh, sinh hoạt và hành
động không theo chánh pháp thì không phải là người tu chân
chính. Ngược lại, dù sống thanh tịnh, giữ giới đúng mức
nhưng lại bất hòa với nhau, thì sức thanh tịnh cũng vẫn
còn hạn chế, chưa đúng với danh nghĩa người tu.
Trong
nhà Thiền, tinh thần an cư còn có một ý nghĩa về Lý. Dù
ở nơi nào, dù vắng vẻ hay ồn náo, nếu sáu căn tiếp xúc
với sáu trần mà tâm không duyên theo các pháp, đó mới thật
sự là “độc xử nhàn cư”. Như vậy, hàng cư sĩ tại gia,
nếu sắp xếp được công việc, tránh bớt các duyên, hàng
năm có thể tổ chức cho mình một thời gian nhất định nào
đó để tĩnh tu. Do chúng ta căn cơ và trình độï tu hành
còn kém, nên cần có độc cư về sự để trợ duyên cho việc
tu tập.
Cuối
cùng của chế độ an cư, và cũng là cốt tủy của lễ Vu
Lan, là ngày Tự Tứ vào rằm tháng bảy. Tự là chính mình,
Tứ là đưa ra trước mọi người. Nội dung của Tự Tứ là
mỗi người tự trình bày những lỗi lầm mình đã phạm,
không giấu giếm, gọi là phát lồ sám hối; đồng thời kính
thỉnh đại chúng, nếu thấy, nếu nghe, nếu nghi mình có mắc
phải lỗi nào mà chính mình không biết, xin từ bi và hoan
hỷ nêu ra để mình sửa đổi. Đối với người thế gian,
điều này thật khó thực hiện; nhưng đối với người tu
thì đây là điều cần thiết. Người cử lỗi phải hoan hỷ,
thật tâm muốn huynh đệ của mình tốt đẹp; người được
cử lỗi cũng phải lấy làm sung sướng, vì có đại chúng
chỉ dạy, ban bảo cho mình. Người xuất gia, nhất là mới
vào đạo, phải được ở gần Thầy và đại chúng, để
được chỉ bảo cho mình những điều mà tự mình không hay
biết.
Do
tất cả Tăng chúng đều an trú trong sự thật, can đảm tự
cử lỗi của mình và chỉ lỗi cho người, nên ngày Tự Tứ
là ngày chư Phật mười phương đều hoan hỷ. Do tâm các vị
thanh tịnh như thế, Phật tử mới quy hướng về nơi kiết
hạ, chờ ngày Tự Tứ nhờ chư Tăêng cầu siêu cho thân nhân
đã khuất được sanh về các cõi lành, cầu cho người sống
được thân tâm an lạc, vững chải sống trong chánh pháp.
Nhờ phước lực của chư Tăng trong ba tháng thanh tịnh tu hành,
nên thức tỉnh được tâm người đã khuất và làm người
sống cảm thấy bình an. Cho nên, ngày rằm tháng bảy là ngày
hết sức quan trọng trong ba tháng an cư. Bản chất của ngày
này là An cư và Tự Tứ, từ đó mới có cái ngọn là Vu Lan
và Báo Hiếu hay đền ơn đáp nghĩa.
Vu
Lan chính là ngày hội tụ những niềm vui lớn trong tâm hồn
những người con hiếu hạnh, những người có đạo đức,
biết trở về nguồn cội. Nếu quán triệt được và sống
được đúng tinh thần của Vu Lan, thì chính con người của
chúng ta cũng là hiện thân của “Đại hiếu Mục Kiền Liên
Bồ tát”. Chúng ta không tìm một vị Mục Kiền Liên nào
trong thời quá khứ, mà phải tìm Mục Kiền Liên ngay trong
con người xác thịt của chúng ta.
Nhân
mùa Vu Lan năm nay, đảnh lễ trước Phật đài, chúng ta thề
nguyền noi gương hiếu hạnh của Ngài Mục Kiền Liên, làm
tròn bổn phận của một người con hiếu thảo. Chúng ta cũng
nhớ đến tất cả chúng sinh đang còn chìm đắm trong vô minh
tăm tối, nguyện hồi hướng công đức cho muôn loài đều
phát Bồ đề tâm, đồng tu hành và đồng thành chánh giác.
Từ chỗ đứng vững chắc của mình bằng hạnh hiếu và bằng
tất cả lòng thành, chúng ta đã có vật phẩm dâng lên cúng
dường Tam bảo một cách có ý nghĩa.
DI SẢN TINH
THẦN
Có
hai di sản trên đời: Di sản vật chất và di sản tinh thần.
Di sản vật chất nuôi dưỡng thân tướng tứ đại, bảo
dưỡng sống còn trong một thời gian; di sản tinh thần là
món ăn nuôi dưỡng phần tâm linh ngày thêm lành mạnh, trong
sáng.
Một
chúng sanh hữu tình phải hội đủ hai phần: Phần vật chất
gồm tứ đại giả hợp thành thân; phần tinh thần gồm các
hoạt động tâm lý giả hợp thành tâm. Vì giả hợp nên thân
chỉ là vọng thân, tâm chỉ là vọng tâm. Cái bệnh thâm căn
của chúng sanh là đem cái vọng tâm, đam mê cái vọng thân,
làm nô lệ cho vọng cảnh, khởi sinh đủ thứ phiền não,
tạo tác đủ thứ nghiệp, thọ khổ đến không cùng.
Người
đệ tử Phật sống trong tỉnh thức, xem món ăn tinh thần
là tối cần thiết cho sự sinh tồn, bèn soi ánh sáng trở
lại quán sát thân, tâm và ngoại cảnh, chuyển hướng đến
một đời sống cao thượng, biết tôn thờ những giá trị
thiêng liêng, tạo nên phẩm cách cao quý của một con người.
Di
sản tinh thần là kết tinh kinh nghiệm tâm linh, trải qua nhiều
thế hệ của tổ tiên trao lại. Những giá trị tinh thần
là gia tài chung của mỗi người cần giữ gìn và đem trao
tặng lại những thế hệ mai sau.
Đời
sống hướng thượng được nhiều người ưa chuộng, bởi
vì họ ý thức rằng sự hiện hữu của cái “TA” chỉ là
sự tồn tại tạm thời trong kiếp luân hồi vô tận. Ai ai
trong cuộc đời cũng cất bước phiêu lưu đi tìm hạnh phúc,
nhưng mấy ai là người đạt được chân hạnh phúc. Chân
hạnh phúc không thể tìm kiếm nơi ngoại vật phù phiếm,
mà chỉ có thể tìm kiếm từ bên trong. Tinh thần cũng là
chủ của thể xác, đừng để thể xác chi phối đời sống
tinh thần cao thượng bên trong.
Thái
độ của người Phật tử Việt Nam biết quý chuộng đạo
đức, xem nhẹ lợi danh qua hai câu ca dao:
“Dầu
ai chác lợi mua danh
Miễn
ta học được đạo lành thì thôi”.
Người
cha người mẹ biết ăn ở hiền lương đạo đức là đã
biết tích chứa vốn liếng tinh thần truyền lại cho con cháu
mình. Có người suốt đời chỉ lo trau dồi học thức, dành
cho bằng được một địa vị, nhưng học thức cho lắm, địa
vị cho cao mà không có đạo đức cũng chỉ là người ác.
Đức
Khổng Tử thì dạy hàng môn đệ xem trọng đạo lý mà coi
thường cái chết:
“Sáng
nghe hiểu được đạo lý, chiều chết cũng cam lòng”.
(Triêu
văn đạo, tịch tử khả hỷ).
Đức
Phật nói lên giá trị của nhân sinh là nhận hiểu sâu xa
cái lý pháp thường hằng chi phối muôn ngàn hiện tượng
sai biệt:
“
Ai sống một trăm năm
Không
thấy Pháp sanh diệt
Không
bằng sống một ngày
Thấy
được pháp sanh diệt”.
Tâm
niệm ngưỡng mộ chánh pháp là động cơ thúc đẩy con người
từ hạng phàm phu tiến lên quả vị Hiền Thánh. Vì không
hướng thiện, không ngưỡng mộ chánh pháp, không biết tu
hành nên rất nhiều chúng sanh bị rơi vào ác đạo. Phật
dạy : “Số ít là các loại hữu tình được tái sinh giữa
loài người; nhưng nhiều hơn là các loài hữu tình tái sanh
ra ngoài loài người. Cũng vậy, số ít là các loài hữu tình
ấy được tái sanh ở các Quốc độ trung ương; nhưng nhiều
hơn là các loại hữu tình phải tái sanh ở các Quốc độ
biên địa, giữa các loài man rợ không biết nhận thức”.
(Tăng Chi Bộ Kinh, tập I, trang 45)
Đức
Phật tuy đã nhập diệt từ lâu, nhưng Ngài đã để lại
kho tàng Pháp Bảo, cứu vớt vô số chúng sanh lặn hụp trong
biển khổ trầm luân. Chánh pháp của Phật là những liều
thuốc hay, có công năng trị bệnh phiền não cho chúng sanh;
là con thuyền đưa người qua bể khổ; là ngọn hải đăng
phá tan màn đêm vô minh hắc ám. Người con Phật chân chánh,
hãy thu nhận những kiến thức cao đẹp, những giá trị tinh
thần lành mạnh để thực hiện sự chuyển hóa bản thân.
Dù
xã hội loài người có tiến bộ đến đâu, khoa học có cung
ứng đời sống tiện nghi đủ đầy, thì những giá trị tinh
thần của sự sống vẫn được người ta tôn thờ. Cái văn
minh đáng biểu dương lại không phải là cái văn minh vật
chất. Đã đến lúc con người thời đại thấy rằng, văn
minh tâm linh và những giá trị tinh thần mới đóng góp đắc
lực và tích cực cho con người và xã hội. Thời đại nào
cũng vậy, không ai khen những kẻ độc ác xảo trá, không
ai chê những người đạo đức nhân từ. Khoa học chỉ có
thể giúp ta thỏa mãn vật chất nhất thời, chứ không thể
giúp ta được an vui vĩnh cửu. Một khi tự thấy có phiền
não khổ đau đang thống trị nơi tâm thức, liệu vật chất
có thể đẩy lui phiền não khổ đau chăng? Tiện nghi đời
sống chỉ là phương tiện cần thiết ở bên ngoài, Phật
pháp mới đích thực ban cho ta lý tưởng đời sống tinh thần
bên trong. Tiện nghi vật chất như một ngôi nhà được trang
hoàng lộng lẫy sắc màu, đời sống tinh thần như những
người sinh hoạt trong ngôi nhà lộng lẫy sắc màu ấy. Thế
nên, người có sức tự chủ biết sử dụng những tiện nghi
của đời sống bằng thái độ của một người chủ, và
dĩ nhiên, không thể có thái độ như một kẻ nô lệ.
Hàng
đệ tử Phật cũng chính là những người con tinh thần đem
đạo vào đời. Và những di sản tinh thần ngày hôm nay chúng
ta thừa hưởng là những tặng phẩm của các bậc tiền bối,
chúng ta phải có bổn phận giữ gìn để vun bồi cho cuộc
sống ngày thêm tươi đẹp, an vui, đóng góp hữu hiệu vào
sự an bình và thịnh vượng của xã hội loài người hôm
nay và ngày mai.
TINH THẦN TRÁCH
NHIỆM
Phật
dạy chúng ta đừng làm tổn thương cho chính mình, hoặc đừng
làm tổn thương cho bất cứ ai, là giúp chúng ta có ý thức
trách nhiệm về hành vi tạo tác của tự thân. Quy trách nhiệm
về cho mỗi cá thể là điểm nổi bật dễ nhận thấy trong
toàn bộ lời dạy của Ngài đối với hàng đệ tử. Vì thế,
trong giáo lý Đạo Phật tuyệt đối không chấp nhận vấn
đề thần linh tạo hóa, ban phúc giáng họa, vì mỗi người
đã là thần linh được quyền tạo ra thiên đường và địa
ngục cho chính mình.
Vào
thời Phật còn tại thế, có một chủ thuyết cho rằng: “Tất
cả những cảm giác của con người, dầu vui sướng, khổ
não hay vô ký đều do một đấng tối cao tạo nên”. Nghĩa
là đấng tạo hóa uốn nắn cuộc đời ta như thế nào tùy
theo ý muốn của Ngài. Vận mệnh đời ta hoàn toàn nằm trong
tay Ngài. Giống như người thợ gốm uốn nắn tùy thích những
vật dụng mình tạo ra. Nhưng mà đấng tạo hóa toàn năng
lại chơi trò chơi cắt cớ, tạo ra chi những sanh linh hữu
hạn, triền miên nhiều thống khổ, bất hạnh. Rõ ràng Ngài
không có tình thương và năng lực để tạo ra những sanh linh
luôn sống trong niềm hỷ lạc vô biên. Vì thế, trong Túc Sanh
truyện Bồ tát phê bình: “Ta liệt Brahma vào hạng bất công,
đã tạo nên một thế gian hư hỏng”.
Để
giải thích sự khổ vui và mọi sự bất đồng giữa con người,
Đức Phật đề cập đến thuyết nghiệp :
“Chúng
sanh làm chủ tạo nghiệp và thừa kế cái nghiệp mà mình
đã tạo”.
Tạo
nghiệp nhơn như thế nào, thì thọ nhận nghiệp quả như thế
ấy. Đó là công lý. Nghiệp là lực đẩy tạo nên vòng quay
luân hồi, hễ còn tác nghiệp là còn thọ khổ luân hồi,
nên nghiệp là trung tâm của luân hồi. Và cũng chính nghiệp
lực nối liền giữa hai kiếp sống. Chuyển ba nghiệp lành
thành ba nghiệp ác thì phải chịu ác báo trong các cõi dữ.
Chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp lành thì được thiện
báo trong các cõi lành. Chỉ khi nào chuyển tất cả nghiệp
nhơn thiện ác thành chủng tử vô lậu thì mới thoát khỏi
vòng quay của luân hồi. Vào các cõi để hưởng thọ quả
báo khổ vui và vượt thoát luân hồi hoàn toàn do cá thể
định đoạt. Chúng ta là người chủ tạo tác để tự chọn
cho mình hướng đi mai sau.Tùy theo ý chí nỗ lực mà nghiệp
có thể được chuyển hóa, không cần can dự của một đấng
tạo hóa nào cả. Chính nghiệp lực có khả năng biểu hiện
thành Trời, người hay thú. Tùy theo hành vi tác nghiệp mà
có quả báo tương xứng. Như hình ngay thì bóng phải thẳng,
tiếng hòa thì tiếng vang phải thuận. Nhân - Quả là định
luật tự nhiên, không phải là hình thức thưởng phạt.
Nghiệp
là yếu tố chính, nối liền giữa hai kiếp sống. Sự chết
là tạm kết thúc ở nơi này, sự sống là tạm biểu hiện
ở nơi khác. Khi xác thân này tan rã, nhưng nghiệp lực lại
không bị cái chết làm cho gián đoạn, nên được tiếp diễn
qua một cuộc sống khác.
Phật
dạy có bốn loại nghiệp :
1.-
Nghiệp đen - Quả đen: Có người làm thân hành có tổn
hại, khẩu hành có tổn hại, ý hành có tổn hại. Sau khi
mạng chung, sanh ra ở thế giới có tổn hại, cảm xúc cảm
thọ có tổn hại, thuần nhất khổ. Như những chúng sanh trong
địa ngục.
2.-
Nghiệp trắng - Quả trắng: Có người làm thân hành
không có tổn hại, khẩu hành không có tổn hại, ý hành không
có tổn hại. Sau khi mạng chung, sanh ra ở thế giới không
có tổn hại, cảm xúc cảm thọ dễ chịu mát lạnh, không
có tổn hại, thuần nhất lạc. Như chư Thiên ở Biến Tịnh
Thiên.
3.-
Nghiệp đen, trắng - Quả đen, trắng: Có người làm
thân hành có tổn hại và không tổn hại, khẩu hành có tổn
hại và không tổn hại, ý hành có tổn hại và không tổn
hại. Sau khi mạng chung, sanh vào thế giới có tổn hại và
không tổn hại, cảm xúc cảm thọ có tổn hại và không tổn
hại, xen lẫn, pha trộn lạc và khổ. Như một số người
và chư Thiên, một số chúng sanh ở các đọa xứ.
4.-
Nghiệp không đen, không trắng - Quả không đen, không trắng
- Nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt :
Phàm
có tư tâm sở nào để đoạn tận Nghiệp đen - Quả đen;
Phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận Nghiệp trắng - Quả
trắng; Phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận Nghiệp đen,
trắng - Quả đen, trắng; Đây được gọi là nghiệp không
đen, không trắng - Quả không đen, không trắng - Nghiệp đưa
đến nghiệp đoạn diệt.
(Tăng
chi I, Đại ý Kinh “Với chi tiết” - 643)
Người
có chánh kiến Nhân - Quả thì không còn chạy rong hướng ngoại
để cầu xin, van vái, hoặc ước nguyện suông. Do ý chí mù
quáng mà nghiệp biểu hiện thành hoàn cảnh chánh báo và y
báo của một chúng sanh. Nghiệp rốt cùng không ngoài tính
cách của ý chí, nên dầu tập khí phiền não có sâu nặng
đến đâu, nhưng do ý chí nỗ lực thì nghiệp vẫn có thể
được chuyển hóa. Nhờ ý chí nỗ lực mà chính ta làm chủ
vận mệnh của mình, từ ác trở thành hiền, từ ngu hóa thành
trí, từ Phàm chuyển thành Thánh.
Kinh
Pháp cú, Phật dạy :
“
Tự mình điều ác làm,
Tự
mình làm ô nhiễm.
Tự
mình ác không làm,
Tự
mình làm thanh tịnh,
Tịnh,
không tịnh tự mình,
Không
ai thanh tịnh ai”.
Ý
nghĩa “Tự thắp đuốc lên mà đi” và “Hãy y tựa vào
chính mình” là lời kêu gọi thiết tha của Đấng Từ Phụ,
cũng là trung tâm điểm tu hành từ khi mới phát tâm cho đến
khi thành Chánh Giác. Quên mất yếu điểm này thì người đệ
tử Phật đã bị lạc đường. Trong Thiền môn, tinh thần
“Phản quan tự kỷ bổn phận sự” cũng được các bậc
tiền bối đề cao trong ý thức trách nhiệm tu hành. Và tự
nhiên thời giờ để trở về tìm lại chính mình là thời
giờ cần thiết bậc nhất. Khi nào mà con người vẫn còn
hướng ngoại, chưa biết trở về với chính mình thì không
có một Đấng nào, một phương tiện nào có thể giúp họ
thoát khỏi mọi ràng buộc của phiền não. Không tự cứu
chữa cho chính mình thì không thể cứu chữa cho nhân loại.
Ta có an lạc mới giúp người khác được an lạc. Ta có định
tỉnh mới giúp kẻ khác được định tỉnh.
Thiền
sư Hoàng Bá dạy chúng :
“Vượt
khỏi trần lao việc phi thường,
Đầu
dây nắm chặt giữ lập trường,
Nếu
chẳng một phen sương lạnh buốt,
Hoa
mai đâu dễ ngửi mùi hương”.
(Trần
lao quýnh thoát sự phi thường
Hệ
bả thằng đầu tố nhất trường,
Bất
thị nhất phiên hàn triệt cốt,
Tranh
đắc mai hoa phốc tỷ hương).
MỤC
LỤC
Vu
Lan và tuổi trẻ.
Vu
Lan - Truyền thống của Đạo Hiếu.
Ngày
Lễ hội truyền thống.
Di
sản tinh thần
Tinh
thần trách nhiệm
VU
LAN VÀ TUỔI TRẺ.
THÍCH
THÔNG HUỆ
Chịu
trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Thanh Xuân
Biên
tập : Phùng Sỹ Hòa
Sửa
bản in : Pháp Đăng
Trình
bày : Chơn Đức
Bìa
và vi tính : Nguyên Trang
07-16-2008
04:23:46