THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan
.

GƯƠNG BÁO HIẾU CỦA NGƯỜI XUẤT GIA 
 Thích Phước Sơn
 
 Mỗi năm đến mùa Vu Lan báo hiếu, người Phật tử tại gia thường noi gương hiếu thảo của Tôn giả Mục Kiền Liên báo đáp công ơn cao dày của cha mẹ đã qua đời cũng như còn tại thế, mà cách phổ thông nhất như ca dao từng bảo:   

Cha già là Phật Thích Ca, 
Mẹ già như thể Phật Bà Quan Âm 
Nhớ ngày xá tội vong nhân 
Lên chùa lạy Phật đền ơn sanh thành. 

Đó là một trong những cách báo hiếu đơn giản nhất của người sơ cơ học đạo. Còn những Phật tử thì vào dịp này, thường sắm sửa phẩm vật, thiết lễ trai tăng cúng dường thập phương tăng chúng - sau ba tháng thanh tịnh tu học - để hồi hướng công đức cầu nguyện cho cha mẹ hiện tiền được phước thọ tăng long, và phụ mẫu quá cố được sinh về nhàn cảnh. Thế còn người xuất gia báo hiếu cha mẹ bằng cách nào? 

I.  BÁO HIẾU VỀ MẶT VẬT CHẤT LẪN TINH THẦN

Vào thời đức Phật có Tôn giả Tất Lăng Già Bà Ta, sau khi xuất gia hành đạo, chạnh lòng nghĩ đến cha mẹ già yếu, nghèo khổ không ai nuôi dưỡng. Ngài muốn đem y phục và thực phẩm cúng dường cha mẹ, nhưng vì sợ phạm giới luật. Ngài bèn trình bày nỗi băn khoăn của mình lên Thế Tôn. Nhân đó, đức Đạo sư họp các Tỳ kheo và truyền dạy: "Nếu có người nào suốt cả trăm năm, vai phải cõng cha, vai trái cõng mẹ, và dù cha mẹ có đại tiểu tiện trên vai mình, cũng chưa thể gọi là làm tròn hiếu đạo. Hoặc đem những thứ y phục và ẩm thực quý nhất trên đời cung phụng cha mẹ cũng chưa đủ báo đền công ơn cha mẹ trong muôn một. Từ nay Ta cho phép các Tỳ Kheo suốt đời hết lòng cúng dưỡng cha mẹ. Nếu ai không cúng dường thì phạm tội nặng". (1) 

Vâng lời Phật dạy, hàng ngày Tôn giả đi khất thực đem về chia cho cha mẹ hai phần, còn mình thọ dụng một phần, và thường dâng cho cha mẹ những nhu yếu khi cần. 

Trường hợp trên đây cho chúng ta thấy, dù là người xuất gia vẫn có bổn phận cưu mang cha mẹ nếu cha mẹ không người nuôi dưỡng. Trường hợp Tổ Liễu Quán (1667-1742) sau đây cũng tương tự như thế. Tổ mồ côi mẹ lúc vừa sáu tuổi, thân phụ bèn dẫn đến chùa Hội Tôn cho thọ giáo với Hòa thượng Tế Viên. Nhưng theo hầu được bảy năm thì Hòa thượng viên tịch. Tổ liền vượt núi băng ngàn tìm ra Thuận Hóa thọ học với Giác Phong Lão Tổ chùa Báo Quốc. Được một năm, lại hay tin cha già không người chăm sóc. Tổ phải trở về nhà, hàng ngày lên núi đốn củi, đem về đổi gạo nuôi dưỡng phụ thân. Dù hoàn cảnh gia đình thanh bạch, Tổ vẫn săn sóc cha già chí tình, chí hiếu, cho đến khi thân phụ qua đời. Sau khi lo việc ma chay chu đáo, Tổ mới trở ra Thuận Hóa tiếp tục con đường tu học. (2) 

Tấm gương của Tổ Liễu Quán có phần nào giống với hoàn cảnh của Lục Tổ Huệ Năng (638-713). Lục Tổ khi còn bé cha mất sớm, chỉ còn một mẹ già, gia cảnh lại nghèo khó. Do đó, hàng ngày Tổ phải lên non đốn củi, gánh ra chợ bán, rồi đổi lấy gạo đem về nuôi mẹ. Một hôm nghe người ta tụng kinh Kim Cương đến câu "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", Tổ cảm thấy như bừng tỉnh, nên có ý định xin phép mẹ đến núi Hoàng Mai thọ giáo với Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Nhưng vì mẹ già không ai phụng dưỡng, nên lòng còn trù trừ chưa nỡ xuất gia. Bỗng có người hiểu được tâm nguyện của Tổ, bèn trợ giúp mười lạng bạc, và hứa sẽ thay mặt Tổ để trông nom nuôi dưỡng bà cụ đến trọn tuổi già. Nhờ thế, Tổ mới an tâm, từ thân xuất gia học đạo, và đã trở thành một trụ cột độc sáng của thiền tông Trung Hoa. (3) 
Nhìn lại nước ta vào thời kỳ vàng son của Phật giáo đời Trần, cũng có vị Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là thiền sư Huyền Quang (1254-1334). Tổ là một vị trạng nguyên xuất chúng, mặc dù thi đỗ, làm quan, nhưng xem phú quý như bèo bọt. Một hôm, Tổ theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm tham dự pháp hội, thấy Quốc sư Pháp Loa đang hành đạo, liền nhớ lại duyên xưa, bùi ngùi than rằng: "Làm quan lên bồng đảo, đắc đạo đến Phổ Đà; trên cõi nhân gian là tiên, cảnh giới Tây phương là Phật. Phú quý nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên lưu luyến mãi hoài". 

Thế rồi, dâng biểu xin vua xuất gia học đạo tu hành. Bỗng một hôm nghe tiếng chim khách kêu vang trên cành  ở trước sân, Tổ chạnh lòng nhớ đến cha mẹ già yếu, nghĩ đến công ơn sinh dưỡng sâu dày, liền sắm sửa hành trang trở lại cố hương, hầu thăm cha mẹ. Về nhà, trông cha mẹ còn khỏe mạnh, và biết ông bà cụ rất sùng tín Tam Bảo, lòng Tổ rất hoan hỉ. Nhân đó cho xây một ngôi chùa ở phía tây nhà, đặt tên là chùa Đại Bi, lấy ý từ câu: "Đại từ đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ cha mẹ hướng về Phật đạo". Bấy giờ cha mẹ đã có ngôi bảo điện để hàng ngày tụng niệm, khuây khỏa tinh thần, thấm nhuần pháp vị, di dưỡng tuổi già, Tổ mới an tâm tiếp tục sứ mệnh hoằng dương chánh pháp. (4) 

II.  BÁO HIẾU TRÊN PHƯƠNG DIỆN TINH THẦN

Thiền sư Hư Vân (1840-1959) lúc mới sinh được bảy ngày thì thân mẫu từ trần, được kế mẫu thương yêu nuôi dưỡng. Đến năm mười bảy tuổi, Ngài có chí xuất trần, nhưng thân phụ không cho phép. Vì ông đang làm quan, tính tình lại nghiêm khắc, hơn nữa Ngài là con trai độc nhất của gia đình. Thế nhưng, do động cơ xuất gia mãnh liệt, cuối cùng, Ngài đã lặng lẽ thoát ly gia đình, để hoàn thành chí nguyện cao cả của mình. Đến khi thân phụ qua đời, Ngài ân hận đã làm cho cha già phiền lòng, lại nhớ thương mẹ hiền vắng bóng từ lúc còn thơ ấu. Do đó, Ngài phát nguyện hành hương đến Ngũ Đài Sơn - nơi di tích của Bồ Tát Văn Thù - cứ đi ba bước lạy một lạy với mục đích sám hối tội lỗi không phụng dưỡng mẹ cha trọn đạo, đồng thời hồi hướng công đức để nguyện cầu cha mẹ sinh về cảnh giới an lành. 

Tấm gương hiếu thảo của thiền sư Hư Vân làm cho chúng ta phải thán phục. Thế còn thiền sư Hám Sơn (1545-?) lúc còn bé đã là một đứa trẻ khác thường. Năm lên ba tuổi, Ngài chỉ thích ngồi lặng lẽ một mình hơn là đi chơi với những đứa trẻ khác. Mẹ Ngài lại là một Phật tử thuần thành, suốt đời thờ đức Đại Sĩ Quán Âm. Năm ngài lên bảy tuổi, bà gởi con đến một ngôi trường cách nhà một dòng sông. Một hôm, sau khi về thăm mẹ, Ngài trở lại nhà trường, được mẹ tiễn chân ra tận bờ sông, nhưng vì quá quyến luyến mẹ, Ngài không muốn rời khỏi tay bà. Đang cơn tức giận, bà liền túm tóc con, ném xuống sông rồi quay về nhà mà không một lần ngoái lại. Lúc ấy, bà nội của Ngài có mặt ở đó, kêu cứu, Ngài mới thoát chết. Sau đó, mẹ Ngài nhiều lần đứng khóc một mình trên bờ sông và phân trần với mẹ chồng: "Con phải làm thế để cho nó vượt qua cái tính quá đa cảm mà học hành nghiêm chỉnh". 

Năm mười hai tuổi, Ngài từ giã mẹ cha, dấn thân trên con đường du phương học đạo. Suốt thời gian ấy, mẹ Ngài luôn luôn theo dõi tin tức con mình. Khi nghe tin Ngài đang tham học ở Ngũ Đài Sơn, bà liền hướng về đó đảnh lễ và niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Âm. Nhờ thế, bà cảm thấy lòng mình trở nên khuây khỏa. 
Sao bao năm xa cách, Ngài trở về nhà thăm lại song thân và định chọn đất xây mộ cho hai người. Một buổi sáng, Ngài cùng cha mẹ đi thăm mồ mả tổ tiên để tỏ lòng tôn kính. Lúc ấy thân phụ Ngài đã 80 tuổi.  Ngài nói đùa với ông: "Hôm nay con chôn cha, như vậy giúp cha khỏi trở lại thế gian này lần nữa". Vừa nói Ngài vừa gõ cuốc xuống đất. Mẹ Ngài lập tức giật lấy cuốc và tiếp: "Phần mụ để mụ tự đào mồ lấy, không cần ai lo cho mụ cả". Rồi bà bắt đầu đào đất một cách vui vẻ. 
Về sau, Ngài mới hiểu rằng mình có một bà mẹ rất khác thường, và đó chính là một trợ duyên thật quý báu để Ngài thành tựu được đạo nghiệp rạng rỡ. (5) 

Thiền sư Động Sơn Lương Giới (807-869), vị Tổ khai sáng tông Tào Động Trung Hoa, cũng có một bà mẹ rất đặc biệt. Ngài đã trình bày quan niệm hiếu thảo và cách thức báo hiếu của người xuất gia đối với cha mẹ, cũng như sự mong đợi của cha mẹ đối với người con đi tu, qua hai bức thư trao đổi giữa Ngài và mẹ Ngài. Trước hết là lá thư Ngài gởi cho mẹ trình bày lý do và xin phép xuất gia. 
"Được nghe chư Phật ra đời đều do cha mẹ mà có thân. Muôn loài hàm linh phải nhờ trời đất che chở. Thế nên, không có cha mẹ thì chẳng sinh, không có trời đất thì chẳng trưởng. Nhưng, tất cả hàm thức đều chịu định luật vô thường chi phối. Nghĩ đến ân bú sú thâm trọng, cũng như công nuôi dưỡng cao dày, nếu đem của cải thế gian phụng dưỡng, hoặc cùng máu thịt thân này dâng hiến, cũng không thể đáp đền. Hiếu kinh nói: "Dù một ngày giết đôi ba con vật để cung hiến cha mẹ vẫn là bất hiếu. Vì sẽ lôi nhau vào vòng sanh tử, chịu muôn kiếp luân hồi". Do đó, muốn đền ân sâu dày của cha mẹ đâu bằng công đức xuất gia. Vì sẽ cắt đứt dòng sông khát ái sinh tử, vượt qua bể khổ trầm luân, đáp ân cha mẹ nghìn đời, đền nghĩa từ thân muôn kiếp. Kinh nói: "Một người con xuất gia, chín họ đều sinh lên cõi trời". Con nguyện bỏ thân mạng đời này, để thành tựu đạo quả Bồ đề, đem căn trần muôn kiếp mà thắp sáng trí tuệ Bát nhã.  Cúi mong cha mẹ mở lòng hỷ xả, dứt nỗi nhớ mong, noi gương đức vua Tịnh Phạn và Thánh Mẫu Ma Da, hẹn sẽ gặp nhau trong hội Long Hoa. Còn hiện nay xin cam chịu lìa nhau. Chẳng phải con quên ân dưỡng dục, mà chỉ vì thì giờ chẳng đợi người. Cổ đức từng nói: "Thử thân bất hướng sinh thân độ, cánh hướng hà thân độ thử thân? Thân này chẳng nhắm đời này độ, còn đợi đời nào độ thân này?" 

Kính xin cha mẹ lòng chớ nhớ mong! 
Nhận được thư con, mẹ Ngài hồi âm: 

"Mẹ cùng con đời trước có nhiều nhân duyên nên mới kết thành tình mẹ con. Kể từ lúc mẹ hoài thai, sớm chiều cầu thần khẩn Phật, mong sinh được con trai. Thai bào đủ tháng, mạng sống như chỉ mành. Sinh được con trai, mẹ rất toại nguyện, xem như châu báu, không nề hôi hám nhơ uế, chẳng ngại bú sú nhọc nhằn. Con vừa thành người, mẹ dắt đến trường cho con học tập. Mỗi khi con đi chơi về trễ, mẹ đứng tựa cửa ngóng trông. Nay con viết thư về quyết xin xuất gia. Cha con đã mất, mẹ già, anh yếu, em nghèo, mẹ biết trông cậy vào ai! Con có ý bỏ mẹ, chớ mẹ nào có dạ quên con. Từ khi con cất bước tha phương, ngày đêm mẹ thường rơi lệ, khổ thay! Khổ thay! Nay con lại thề chẳng về nhà, mẹ cũng tùy theo chí nguyện của con. Mẹ không dám mong con như Vương Tường nằm giá, như Đinh Lai khắc cây, mà chỉ mong con như Tôn giả Mục Liên, độ mẹ thoát khỏi trầm luân, tiến lên Phật quả. Nếu mẹ không như vậy, e phải có tội. Mẹ cầu mong cho con hoàn thành chí nguyện của mình". (6) 

Trên đây, chúng tôi đã trình bày một vài tấm gương báo hiếu của người xuất gia, mỗi người có mỗi hoàn cảnh riêng, nhưng chung quy ai cũng mang nặng ân tình của cha mẹ. Vì nhờ cha mẹ mới có thân ta. Do đó, mở đầu bức thư Ngài Động Sơn đã nói "Chư Phật ra đời đều nhờ cha mẹ mới có thân này". Và nhờ có thân này mới tu thành chánh quả cứu độ quần sinh. Thế nên, sự báo hiếu cha mẹ đương nhiên là bổn phận thiêng liêng, không một ai được phép quên lãng.

Vì vậy, người xuất gia, nếu cha mẹ già yếu, cô độc, không người nuôi dưỡng, vẫn có bổn phận phụng dưỡng cha mẹ cho đến trọn đời. Trái lại, nếu cha mẹ đã có người chăm sóc tạm được an lành, thì người tu sĩ cần dốc chí tu học, hoàn thành đạo nghiệp, rồi vận dụng tâm lực, hồi hướng công đức, cứu vớt cha mẹ khỏi vòng trầm luân khổ hãi. Thiết nghĩ, đó là cách báo hiếu chân chính của đạo từ bi, và thích hợp với những ai đã chọn con đường thoát tục. 

Chú thích:  
(1)  Luật Ngũ Phần, Đ.22, tr. 140c 
(2)  Theo văn bia Tổ Liễu Quán, do T.T Giới Hương phiên dịch 
(3)  Kinh Pháp Bảo Đàn 
(4)  Tam Tổ Thực Lục, bản chữ Hán, tr. 50b-54a 
(5)  Thiền đạo Tu Tập, Trương Trừng Cơ, Như Hạnh dịch, Kinh Thi XB 1972, tr.188-219
(6)  Theo bản dịch của H.T Thanh Từ trong băng giảng 


Ý NIỆM VỀ MẸ
NHÂN MÙA BÁO HIẾU VU LAN
Lâm Như Tạng

 
Làm người ai cũng có đấng sinh thành là Cha Mẹ. Đặc biệt nhân mùa Vu Lan báo hiếu này, tôi xin được nói về Mẹ như một bó hoa tưởng  niệm Mẹ tôi đã qua đời tại  Việt Nam ngày 1-3-1996. Khi đề cập đến Mẹ trong ngôn từ tiếng Việt, ta thử so sánh với nhiều ngôn ngữ khác nhau gọi Mẹ như thế nào và tìm xem  có từ nào mà toàn thể các  dân tộc trên thế giới nầy có  tiếng gọi chung về Mẹ hay không? 
Mẹ trong văn hóa và tập tục của Đông Phương và Tây Phương như thế nào?
Mẹ trong kinh điển Phật Giáo, và phương  pháp báo hiếu ra sao?
 
I. DANH TỪ MẸ
 
Tiếng Việt gọi Mẹ là người đàn bà đã sinh ra ta. Trong đó bao gồm ý nghĩa mười tháng cưu mang chịu không  biết bao nhiêu điều cực nhọc cho  đến ngày khai hoa nở nhụy và nuôi  nấng dạy dỗ cho đến khi khôn lớn nên người. Những thâm ân đó chỉ khi nào chúng ta nuôi con mới biết  được công ơn của Cha Mẹ. Như  Đức Khổng Tử đã nói: “dưỡng  tử phương tri phụ mẫu ân” (Khi nuôi con mới biết được công ơn Cha Mẹ).

Danh từ Mẹ ấy, tiếng Tây Ban Nha gọi là Madre, tiếng Ý cũng gọi là Madre.  Tiếng La Tinh là Mater. Tiếng Anh là Mother. Tiếng  Đức là Mutter. Tiếng Pháp là La Mère. Tiếng Hy Lạp là Mitera. Tiếng Nga là Matb (Moma). Tiếng Iran là Modar, Tiếng Trung Hoa là Mouchan (Ma, Mu). Tiếng Ấn Độ là Mata, Tiếng  Nhật là Okaasan. Tiếng Ả Rập là Waldetak.

Kể cả tiếng Việt, tất cả 14 ngôn  ngữ vừa nêu trên hầu như là  đại đa số các dân tộc trên thế  giới ngày nay đang dùng những ngôn  ngữ đó. Trừ tiếng Nhật và  tiếng Ả Rập có âm vận riêng, còn  mười hai ngôn ngữ còn lại âm  vận na ná giống nhau và đều bắt  đầu bằng mẫu tự “M”.

Có điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tất cả các dân tộc trên thế giới đều có ngôn ngữ  riêng, thế nhưng khi nói danh từ Mama  tất cả đều biết đó là Mẹ.  Làm sao tôi có thể cả quyết được điều đó. Bởi vì chính tôi đã tiếp xúc trực tiếp với mấy chục người nói những ngôn  ngữ hoàn toàn khác nhau nhưng khi hỏi danh từ Mẹ trong ngôn ngữ của họ  tất cả đều gọi là Mama. Tôi chưa thỏa mãn. Vì tôi biết từ đó không phải là ngôn ngữ chính gốc của họ nên lần lượt họ mới cho biết từ chính gốc trong ngôn ngữ  riêng biệt của mỗi dân tộc. Thế nhưng tại sao lại có một từ cộng thông như thế. Theo tôi nghĩ, đó là tiếng nói bập bẹ đầu tiên của đứa bé vừa mới tập nói mà ra, rồi thành ra tiếng nói phổ thông bất thành văn trong dân gian của mỗi dân tộc mà thành. Trừ danh từ Mama là Mẹ vừa nói, ngoài ra không có một từ nào có tính phổ thông như thế cả. Như vậy đủ chứng  tỏ Mẹ là thiêng liêng cao cả không có người nào hoặc vật gì khác có thể sánh bằng Mẹ. Khi nghĩ về công sinh thành dưỡng dục đứa con mà nói, ngay cả Cha cũng không bằng Mẹ. Vì chỉ có thân thể người Mẹ mới có thể thai nghén và sinh con được mà thôi.
 
II. MẸ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM
 
Mẹ là mười tháng cưu mang, ba năm  bồng bế, sau đó là giáo dục cho con nên người hữu ích trong xã  hội như Chinh Phụ Ngâm đã nói:
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân
Hai câu thơ trên còn nói lên bổn phận, công lao của người Mẹ đối  với con với chồng trong gia đình Việt  Nam.
Cha Mẹ là chỗ dựa về tinh thần và là cây đa cổ thụ để con nương nhờ về vật chất:
Gió đưa cây cửu lý hương
Con xa cha mẹ thất thường bữa ăn
(không rõ tác giả)
Hoặc là:
Có Cha có Mẹ thì hơn
Không Cha không Mẹ như đờn đứt dây
(Ca dao)
Hay là những câu thơ sau đây đã nói lên được một phần công ơn của người Mẹ. Trong thời kỳ đầu của sự thai nghén, người  Mẹ phải chịu:
...
Sự buồn nôn của thời kỳ đầu thai nghén
Mặt mày xanh choáng váng lúc về chiều
Mắt tối sầm dù nắng đẹp trưa hè
Những thú vui không màng mơ tưởng đến
(thơ Như Tạng)
 Khi bào thai trong thời kỳ phát triển  trong cơ thể người Mẹ:
 ... 
Mỗi ngày con mỗi lớn
Da căng theo ngày tháng bước nặng  dần 
Cữ kiêng từng hành động lẫn  thức ăn
Đêm trằn trọc dáng nằm ngồi  khó nhọc
(thơ Như Tạng)
 Nỗi lo lắng và đau đớn của người  Mẹ trong lúc sinh nở:
 ... 
Nỗi lo của người gần sinh nở
Những cơn đau quằn quại vỡ  người
Kịp đến khi nghe con khóc chào đời
Hồn nhẹ nhõm cơn đau dường  đứng lại
(thơ Như Tạng)

Công lao của người Mẹ nuôi con và  lo giáo dục, lo tương lai cho con mình:

Và con sẽ lớn lên Người dạy  bảo
Nuôi nấng, nâng niu, ấp ủ, dỗ dành
Vì tương lai, Mẹ lo lắng tảo tần  ...
(thơ Như Tạng)

Biết bao nhiêu là thơ, nhạc, văn chương  nói về Mẹ. Nào là ví lòng Mẹ  như biển rộng bao la như trời cao không  cùng tột... Bài nào nói về Mẹ cũng  hay, cũng réo rắt, cảm động dễ đi vào lòng người. Bởi vì nói về Mẹ là nói về tình thương,  mà tình thương là bắt đầu từ  cõi lòng chân thật và sâu lắng nhất của tâm hồn mình. Do đó nói về Mẹ là nói về những gì mình  có kinh nghiệm sống thực, những xúc động chân thành, những suối nguồn  êm dịu trong lành mát mẻ nhất. Vì thế cho nên những bài thơ, nhạc... viết về Mẹ đều hay và cảm động.

Vì ân trọng đối với Mẹ như  thế nên ngày xưa trong xã hội Việt Nam không được làm đám cưới hoặc người vợ không được có thai trong lúc thọ tang Cha Mẹ. Trong sách  “Hải Dương Phong Vật Chí” của Trần  Đạm Trai có ghi: “Cổ thời trọng  đạo hiếu đến nỗi luật pháp cấm  vợ có thai trong khi tang chế, đến đời Lê Thánh Tông mới bỏ lệ ấy, nhân vì có người tỉnh Hải Dương  huyện Đường An xã Thời Cử  tên là Nguyễn Kim An, thuở nhỏ hàn  vi, thời Hồng Đức (1470-1497) làm  lính chầu trong cung. Vua thấy có tài nên  cho về đi học. 22 tuổi đỗ Hương Cống, rồi thi Hội thi Đình đỗ Bảng Nhãn (học vị của người thi đỗ thứ hai, sau Trạng Nguyên, trong khoa thi Đình). Được bổ làm quan ít lâu sau, về  cư tang, giữ trọn ba năm đạo hiếu  thì mất, không có con trai, vua cảm thương,  từ đó bỏ lệ kia.”

“Các triều vua thường khuyến miễn  thuần phong mỹ tục vẫn nhắc nhở  đạo hiếu, như lệnh vua Lê Huyền Tông ra năm Cảnh Trị thứ ba (1665) cho tinh biểu những người có hiếu hạnh (cho biển vàng biểu dương hiếu hạnh,  trong biển ghi tên tuổi quán chỉ người  được khen thưởng và nói rõ  duyên do có hiếu hạnh như thế nào)  (Lê Triều Chiếu Lịnh Thiện Chính). Lệnh  vua Hàm Nghi năm đầu (1884) ban thưởng  biển son khắc bốn chữ vàng “Hiếu  Hạnh Khả Phong” cho những người có  tiếng hiếu hạnh (Đại Nam Điển Lệ)".  (theo sách Đất Lề Quê Thói, của Nhất Thanh, 1992).

Những gương hiếu thảo ngày xưa  nhiều khi đã phải hy sinh thân mình để  cứu mạng Cha Mẹ. Trong sách “Việt Nam  Văn Học Toàn Thư” của Hoàng Trọng  Miên có ghi trường hợp: “Lãnh  Tạo, người làng Tuần Lễ tỉnh  Nghệ An, chống đối triều Minh Mạng. Lê  Văn Duyệt được cử làm Tổng  Trấn Nghệ An để dẹp Lãnh Tạo, bị  Tạo lừa, ngang nhiên đem quân lính  tới dinh trấn giả làm đi thanh tra; Lê  văn Duyệt dụ hàng, tâu vua cho làm quan,  Tạo không chịu, chỉ ưng nhận vàng bạc rồi đi. Sau đó Lê Văn Duyệt  sai lính bắt giữ mẹ và vợ của Tạo. Vì thương Mẹ mà Tạo phải  ra hàng...”

Năm 1962, Thầy Nhất Hạnh cho ra đời  tác phẩm Bông Hồng Cài Áo rất nổi  tiếng và rất thành công trong mục đích cổ võ cho Ngày Mẹ nhằm ngày Vu Lan rằm tháng bảy Âm Lịch. Hiện nay ngày rằm  tháng bảy đã nghiễm nhiên trở  thành Ngày Mẹ của người Việt Nam. Trong ngày ấy hoa hồng được cài  cho người có diễm phúc còn Mẹ  và hoa trắng cho những người mà  Mẹ đã qua đời.

Theo truyền thống Đông Phương thì Hiếu  đứng đầu trăm hạnh lành như  trong Nhị Thập Tứ Hiếu Diễn Âm của  Lý Văn Phức có câu:

Chữ hiếu hạnh niệm tròn một  tiết
Thời suy ra trăm nết đều nên

 Người bất hiếu nghĩa là đối  xử không tốt với đấng sinh thành  của mình thì khi ra đời không còn  ai tin tưởng được người  ấy nữa. Do đó mà trăm sự  trăm việc sẽ đổ vỡ, không thể  thành công trên đường đời  dù là việc nhỏ hay việc lớn.

III. MẸ TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO
 
A. Tấm Gương Hiếu Hạnh của Đức  Phật

Trong bài kinh Ba Mẹ hồi các đời  trước (trong sách “Một Trăm Bài Kinh  Phật” của Đoàn Trung Còn, không ghi năm  xuất bản) có ghi tấm gương hiếu hạnh của Đức Phật như sau:

Lúc ấy Phật ngự với Giáo Hội  chư đại tỳ kheo tại xứ Ca-căn-ga-la  (Kacangala). Trong cánh rừng ở gần đó, có bà già tên là Ca-căn-ga-lác  (Kâcangalâ), bà xách một cái bình  đến giếng mà múc nước.

Lúc ấy Đức Thế Tôn gọi A-Nan  và bảo rằng: “Nầy A-Nan hãy đi nói  với bà ấy rằng: Đức Thế  Tôn khát nước, bà cho Ngài uống  với.” 

A-Nan nói với bà mấy lời ấy,  bà đáp rằng:

“Để tôi đem đến cho Ngài.”

Bà đổ nước vào đầy bình  mang đến trước mặt Phật. Bà thấy  Phật rất trang nghiêm với 32 tướng chánh, 80 tướng phụ, một vòng hào  quang sáng ngời. Bà vừa thấy Phật,  tình Mẹ thương con nảy sinh nơi  lòng bà, bà vội đưa tay lên ôm  hôn Đức Phật vứa nói rằng:  “Con tôi! Con tôi!” Mấy vị tỳ kheo muốn  cản bà lại nhưng Đức Phật liền  phán rằng: “Nầy chư tỳ kheo! Chớ  cản bà ấy!”
Tại sao vậy?

Bởi vì trong năm trăm đời liên  tiếp bà đã làm Mẹ ta:

Vì tình mẫu tử sâu xa
Nên bà chạy đến ôm ta hôn nhầu
Ai mà ngăn cản đón đầu
Thì bà tức giận máu hầu tuôn  ra
Ta đây nhớ Mẹ buổi qua
Cám ơn nghĩa nặng vì ta bao đời
Từ bi, thương xót lấy người
Nên ta chịu để ôm vùi mà hôn

Liền sau đó Đức Thế Tôn thuyết  pháp Tứ Diệu Đế để độ  bà. Bà liền chứng quả Tu-Đà-Hườn  và đọc bài kệ như sau:

Làm con mà biết báo đền
Tác thành việc khó, đáp tình  mẫu thân
Thế Tôn giữ trọn hiếu phần
Giúp ta đổi tánh thoát trần dứt  mê
Độ ta ra khỏi bến mê
Đường Tiên, đưởng Phật  đưa về đúng nơi
Con ta chuyển sức ra tài
Đặng làm việc tốt, đáng đời  kính khen

Sau đó bà xin phép xuất gia và nhập  vào hàng tỳ kheo ni. Bà tinh tấn tu hành  và chứng quả A-La-Hán.
 
B. Kinh Tâm Địa Quán 

Kinh Tâm Địa Quán, phẩm báo ân, Đức Phật nhân tán thán 500 vị trưởng  giả thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đa đến cúng dường Phật và  đại chúng. Đức Phật giảng cho  họ nghe về công ơn sinh thành của Mẹ  như sau:

"... Mẹ hiền thương con, thật không  biết lấy vật gì để so sánh cho cân  xứng vậy. Từ khi vào thai, trải qua 10 tháng, những lúc Mẹ đi, đứng,  ngồi, nằm chịu trăm điều khổ não  mà miệng mẹ không thể nói ra. Muốn những đồ uống ăn hay áo mặc,  dù có được cũng chẳng mừng,  vì lòng lo lắng không hề dứt, chỉ  lo nghĩ cho đứa con sắp sanh sao cho hoàn  hảo là hơn thôi. Nếu khi đẻ khó  thì như trăm ngàn mũi dao đồng thời  đâm khắp toàn thân. Nếu khi sanh đẻ  an lành, bà mẹ cùng các thân thuộc  cùng chung vui sướng y như kẻ nghèo  được châu báu. Sự đau khổ  của Mẹ trong mười tháng do một tiếng  khóc đầu tiên của con khi mới lọt  lòng, mà nỗi khổ ấy Mẹ liền quên  mất và vui sướng như nghe âm nhạc.  Con lấy nơi bụng ngực của Mẹ làm  chỗ ngủ, lấy hai cổ vế làm chỗ  dạo chơi, và do nước giếng cam lồ nơi ngực Mẹ chảy ra mà nuôi lớn.  Ôi ơn đức của Mẹ, núi cao biển  sâu cũng chẳng sánh kịp. Nếu đứa  con nào biết tùy thuận nghe theo những  lời dạy bảo của từ mẫu mà  không trái nghịch thì được chư  thiên hộ niệm, phước đức  vô cùng...”
(Kinh Tâm Địa Quán, H.T. Thích Tâm Châu  dịch) (tham khảo sách Cho Trọn Hiếu Ân  của T.T. Thích Bảo Lạc, 1991).
 
C. Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân 

Nhân khi Đức Phật dẫn đại chúng  đi hành đạo hướng về Phương Nam, giữa đường Đức Phật  đến lạy trước một đống xương khô đã lâu đời chất to như quả núi. Đại chúng thấy vậy không  rõ nguyên do, A-Nan liền bạch Phật xin dạy  cho biết tại sao Đức Thế Tôn lại  làm như thế. Phật chỉ rõ rằng đống  xương đã chồng chất đó rất  lâu đời về trước nên biết  đâu trong đó có xương của cha,  mẹ, vợ, con, anh, em ta nhiều đời  trước. Vì lòng hiếu kính nên ta  lạy đống xương như vậy. Đức Phật đã dạy bảo đại chúng rất  nhiều về công ơn sinh thành của Cha Mẹ,  đặc biệt mười điều chúng  ta nên ghi nhớ như sau:

Thế Tôn lại bảo A-Nan:
Ơn Cha nghĩa Mẹ mười phần phải  tin
Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo
Mười tháng trường châu đáo  mọi bề
Thứ hai sanh đẻ gớm ghê
Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm  phần
Điều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng
Cực đến đâu bền vững chẳng lay
Thứ tư ăn đắng nuốt cay
Để dành bùi ngọt đủ đầy  cho con
Điều thứ năm lại còn khi ngủ
Ưót Mẹ năm khô ráo phần con
Thứ sáu sú nước nhai cơm
Miễn con no ấm chẳng nhờm gớm  ghê
Điều thứ bảy không chê ô  uế
Giặt đồ dơ của trẻ không phiền
Thứ tám chẳng nỡ chia riêng
Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo
Điều thứ chín miễn con sung sướng
Dầu phải mang nghiệp chướng cũng  cam
Tính sao có lợi thì làm
Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm
Điều thứ mười chẳng ham trau  chuốt
Dành cho con các cuộc thanh nhàn
Thương con như ngọc như vàng...
(“Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân”  - không rõ dịch giả)

Ngoài mười điều ân trọng ghi  trên toàn bài kinh Đức Phật còn chỉ rất ràng rẽ từng ly từng  tý một về công sinh thành nuôi nấng  và dạy dỗ cho con nên người. Đọc toàn bài kinh được chuyển ngữ  thành thơ song thất lục bát khiến tôi  bùi ngùi xúc động đến rơi nước mắt nhiều lần khi nghĩ đến người Mẹ qua đời. Tôi thấy mình bất hạnh vì đã xa Cha Mẹ rất lâu năm, và bây giờ nhìn đóa hoa trắng  trên áo tôi mới thấm dần thấm  dần và hiểu nghĩa rất sâu sắc của  tâm trạng kẻ mồ côi.
Đây! bầu trời đen tối đã  phủ kín tâm hồn tôi! Tôi trở thành kẻ mồ côi Mẹ, đau đớn  quá! Cho dù tôi đã bao nhiêu tuổi trên đầu!...
 
IV. PHƯƠNG PHÁP BÁO HIẾU

Tôi nghĩ ai có khát nước đến  cùng cực khi gặp nước mới  thấy nước uống quý giá vô vàn.  Vấn đề báo hiếu cũng vậy. Ai đã  mất Cha Mẹ mới thấy phương pháp  báo hiếu của Đức Phật dạy là  quý báu.

Lấy kinh nghiệm bản thân mà nói, khi  Mẹ tôi còn tại thế tôi vẫn thường xem kinh sách, vẫn tin lời Đức Phật  dạy, vẫn cầu nguyện cho bảy đời Cha Mẹ đã qua trong quá khứ siêu sanh về miền cực lạc của Đức  Phật A Di Đà, như trong kinh Vu Lan đã  dạy. Vẫn luôn luôn học về gương  hiếu hạnh của Đức Đại Hiếu Mục Kiền Liên. Vẫn biết ngày Mother's  Day của các nước Tây Phương. Và  truyền thống báo hiếu của Đông Phương. Thế nhưng việc làm đã qua của tôi  là do lý trí chủ đạo. 
Còn việc  báo hiếu của tôi nhân mùa Vu Lan năm  nay được thúc bách bởi một  sự mất mát to lớn nhất trong đời tôi. Đồng thời nó bắt nguồn  từ lòng thương Mẹ mà ra. Tôi muốn tìm một cái gì đó, một hành  động nào đó để may ra lấp bớt  được một khoảng trống trong tâm  hồn.

Ngược dòng thời gian về thời  điểm trước khi Mẹ tôi qua đời, tôi thường tìm hiểu xem những  người không phải là Phật tử  họ nghĩ gì về tôn giáo của mình,  để có thêm kiến thức. Tôi cũng  tìm hiểu những giáo lý của Đức  Phật dạy được các học giả  khác tôn giáo với mình và các  nhà khoa học, triết gia Tây Phương có  những nhận xét gì về Phật Giáo  để củng cố thêm niềm tin của mình  về phương pháp báo hiếu của Đức  Phật dạy.

Trong đó có Giáo Hoàng John Paul II đã  công nhận là rất nhiều tín đồ  Thiên Chúa Giáo có cả các vị Linh Mục đã áp dụng phương pháp thiền  quán để tu tập, trau dồi thân tâm  của họ.

Một học giả đạo Hồi đã nói:  Đức Phật là của cả nhân loại  (Buddha is for whole mankind. The Buddha is not property of Buddhists  only. He is the property of whole mankind. His teaching is common  to everybody. Every religion, which came into existence after the Buddha, has borrowed many good ideas from the Buddha).
Triết gia Bertrant Russell ca ngợi Phật Giáo  có triết lý hành động vĩ đại  nhất và lâu đời nhất...

Có thể nói khoa học gia nổi tiếng nhất  thế kỷ, Albert Einstein, đã nói là: “Phật  Giáo đương đầu với khoa học”  (Buddhism copes with Science), (If there is any religion that would  cope with modern scientific needs it would be Buddhism).
Theo tôi không phải Phật Giáo đương  đầu với khoa học mà Đức Phật  đã hướng dẫn cho khoa học tự nhiên tiến lên về mọi mặt mới  đúng. Tôi không muốn dài dòng trìch  dẫn lời Đức Phật để chứng  minh ở đây vì bài báo đã  quá dài. Xin mời bạn đọc đọc  duy thức học ta sẽ thấy Đức Phật  đã giải thích về nguồn gốc của  con người và vũ trụ rất tinh tế,  rất khoa học, khiến các nhà khoa học  và các triết gia phải tìm tòi học  hỏi.

Giáo sư Rhys Davids nói rằng: “không có  tôn giáo nào vượt trội hơn Phật  Giáo”. (Nothing to surpass Buddhist. Buddhist or not Buddhist,  I have examines every one of the great religion systems of the world,  and in none of them have I found anything to surpass, in beauty and  comprehensiveness, the Noble Eightfold Path and the Four Noble Truths  of the Buddha. I am content to shape my life according to that path).  (tham khảo sách “BUDDHISM in the EYES of INTELLECTUALS”  của K. Sri Dhammananda).

Trở lại lời Phật dạy về phương  pháp báo hiếu trong Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân và Kinh Vu Lan: Phật đã  dạy rằng vì công ơn của Cha Mẹ bao  la như biển cả và cao vòi vọi như  trời xanh vô hạn. Vì thế cho nên  chúng ta không thể nào đền đáp  công ơn ấy bằng phương pháp vật chất hữu hạn được. Hơn nữa trong cõi luân hồi kể từ vô thủy  đến nay, chúng ta có biết bao nhiêu là  Cha Mẹ thì làm sao chỉ dùng những phương tiện vật chất để phụng  dưỡng Cha Mẹ hiện tiền mà có  thể đền đáp thâm trọng ân ấy.  Phật đã cho ví dụ là:

Ví có người gặp cơn đói  rét
Nuôi song thân dâng hết thân này
Xương nghiền thịt nát phân thây
Trải trăm ngàn kiếp ân đâu chưa  đồng...
(Kinh Báo Ân)

Như vậy phải làm thế nào để  báo đáp được hiếu ân đó. Đức Phật đã dạy rất nhiều  phương pháp trong rất nhiều kinh điển  như Bố Thí Ba La Mật, Thân Cận Ba La Mật,  Chân Thật Ba La Mật... Nhưng hôm nay xin theo  các bộ kinh đã dẫn và đặc biệt  về sự giới hạn của bài này  nên chúng tôi xin tóm lược thành  hai phương pháp đơn giản: Tự Lực  và Tha Lực.
 
Thứ Nhất Là: Tự Lực

Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề,  cầu Phật Đạo giải thoát, tiến tu,  thật học để đem khả năng của  mình giảng giải cho mọi người chung  quanh chúng ta cùng phát tâm ấy, hướng  về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng  Chánh Giác, và cuối cùng là cầu  nhất thừa Phật Đạo.

Giai đoạn đầu là chúng ta học hỏi  và hiểu thấu đáo về thâm ân  sinh thành của Cha Mẹ. Ăn năn hối cải những lỗi lầm, nếu có, từ trước  đã làm hại mình hại người  vạ lây tiếng xấu đến song thân.  Giai đoạn kế tiếp là phải siêng  năng không ngừng nghỉ để đạt được những thành công lớn  trong đời, khiến Cha Mẹ vui lòng toại nguyện, an tâm vì con... Và làm thế nào  để cho Cha Mẹ cảm nhận được lòng hiếu kính, yêu thương của mình đối với Cha Mẹ. Đồng thời  phải có tâm niệm sung sướng không  gì bằng khi mình còn được Cha Mẹ  trên đời. Bởi vì nếu Cha Mẹ  biết được điều đó Cha Mẹ cũng sung sướng vô vàn. Những  điều vừa kể rất đơn giản nhưng không kém phần khó khăn khi thực hiện được nó. Giai đoạn cuối cùng như trên đã nói là cầu  nhất thừa Phật Đạo để giải  thoát cho mình, và phổ độ giải thoát cho Cha Mẹ nhiều đời đã qua và  hiện tiền Cha Mẹ sống lâu và tránh  khỏi những ách nạn trong đời.
 
Thứ Hai là: Tha Lực  

Như Đức Phật đã dạy trong Kinh Vu Lan,  cho dù chứng được quả Bồ  Tát và đã được thần thông  quảng đại như Ngài Mục Kiền Liên,  cộng với tiếng tăm lừng cả trời  người đều nể phục đi chăng  nữa, một mình Ngài không thể nào  cứu được Mẹ Ngài trong điạ  ngục và càng không thể cầu siêu  độ cho Cha Mẹ bảy đời trước đó nữa. Như vậy chỉ có một  cách là cầu Tha Lực. Hay nói đúng  hơn là cầu Cộng Lực của chư Tăng  trong mười phương tụ hội nhân  ngày rằm tháng bảy, Trong hàng chư Tăng  đó gồm có phàm Tăng, thánh Tăng,  và những hàng Bồ Tát mười  phương vì nguyện lực độ sinh nên  các Ngài đã hiện hình làm Phàm  Tăng thân cận chúng ta.

Nhân ngày ấy nhờ thần lực Chư  Tăng chú nguyện cho sở cầu báo hiếu của chúng ta được viên thành.
 

LỄ VU LAN NGUYỄN DU LẬP ĐÀN
BẠT ĐỘ CÔ HỒN THẬP LOẠI
Thích Tâm Tôn

 
Ai đã từng sống long đong trong bể khổ không cùng cũng như trong hoan lạc chơi vơi, hay từng trải qua những ngày dài quạnh quẽ và những đêm tàn hoang vu, ắt hẳn không sao tránh khỏi trỗi dậy nỗi động lòng dào dạt khiến lệ trào dâng mi khi đọc Văn Tế Thập Loại Cô Hồn đầy ai oán cảm sầu của cụ Nguyễn Du. Một Nguyễn Du thiên tài, song lại là một mảnh đời lận đận và có phần bạc mệnh như chính cuộc đời Kiều. Phải chăng, đó là nghiệp báo lao xao của một kiếp chúng sanh mà ông đã nhìn nhận trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh:

"Mỗi người một nghiệp khác nhau, 
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?"

Nghe ra thấy toàn là chất nhân sinh và tâm linh Phật giáo. Và chất Phật giáo ấy có gì lạ, bởi chính ông là một Phật tử trí thức thấm nhuần giáo lý Phật Đà. Hình như cái tư tưởng Phật giáo đã vô hình ứng hiện vào tận nguồn cảm hứng sáng tác cho một nghệ sĩ Nguyễn Du, để tạo nên những áng thi chương lẫy lừng bất hủ. Điều đó đã được thể hiện trọn vẹn trong hai tác phẩm bất tuyệt của ông: Truyện Kiều và Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Cả hai tác phẩm này có thể được xem như là những bản kinh của Phật giáo Việt Nam, mang tính cầu an như truyện Kiều và cầu siêu như Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Nhân Lễ hội Vu Lan xin được lạm bàn về vài áng văn tế của Nguyễn Du, như thể để nhắc lại cái giá trị văn hóa tâm linh Phật giáo tuyệt với mà ông đã thể hiện một cách trọn vẹn về nghĩa cử báo hiếu tình thân và thi ân tế độ phổ đồng. Đó chính là hai mục tiêu trong một ý nghĩa "Giải Đảo Huyền" mà người Phật tử Việt Nam nào vào dịp tiết Trung Nguyên - Lễ hội truyền thống Vu Lan cũng vọng hoài thổn thức.

Đức Phật từng dạy: "Nếu đem nước mắt của hết thảy chúng sanh trong vòng luân hồi từ vô thỉ đến nay tích chứa lại thì nhiều cũng như nước của cả một đại dương". Đức Phật là hiện sinh của tinh thần đượm nhuần đức tánh nhân ái và từ bi vô lượng. Bằng vào mọi phương tiện, tinh thần nhân ái cao cả đó được Ngài thể hiện một cách tài tình hằng che chở cho tất cả chúng sanh. Tánh đức từ bi vô ngần ấy chính là tinh thần cảm thông với những nỗi thống khổ bất tận mà những chúng sanh tội lỗi và bệnh tật hằng mang. Đức Phật tỏ bày: "Nỗi thống khổ của người cũng chính là nỗi thống khổ của ta, và niềm hạnh phúc của người cũng chính là niềm hạnh phúc của ta." Tình thương cao cả ấy quả là cái đức bạt ngàn của người cha và cái lòng bao la của người mẹ dành cho con thơ tội nghiệp.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam mang theo những tinh ba tươi đẹp nhất để làm tươi mát cho những tâm hồn khốn khổ, đồng thời cũng xúc tác những nguồn tư tưởng phong phú làm trào dâng cho bao trái tim nhân sĩ trí thức Việt Nam. Chỉ có tình thương của đạo Phật mới sản sinh ra những con người giàu đức hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát như Lý Thánh Tôn qua những tâm sự này: "Ta ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét thế này. Nghĩ đến các tù nhân bị nhốt nơi lao ngục, bị trói buộc khổ sở mà chưa biết phải trái ra sao, ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân; gió rét, tất có kẻ chết không nơi nương tựa. Ta thật lấy làm thương… Ta yêu con ta thế nào thì ta thương dân cũng thế. Vì dân không hiểu luật lệ nên mắc tội, ta thực lấy làm thương xót. Vậy từ nay về sau, tội nặng hay nhẹ, các ngươi cũng khá xử cho khoan hồng." Và tình thương ấy chúng ta cũng lại được thấy trào dâng bàng bạc vào tận cả chốn u đồ của Cô Hồn Thập Loại mà Nguyễn Du đã động lòng cảm thông trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Đó là tình thương trải rộng, tình thương phổ đồng của tinh thần đại bi nhà Phật. 
Tinh thần ấy được Ngài Thật Hiền khai mở trong Văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm như sau: "Ta với chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, đời đời làm cha mẹ nhau, có ơn với nhau. Nay do cách đời mờ ám, không biết được nhau, nhưng lấy lẽ mà suy cứu thì làm sao có thể không có sự báo bổ. Ngày nay là thú vật, nhưng biết đâu ngày trước ta đã từng là con cái của chúng. Hiện tại là vi sinh, nhưng biết đâu quá khứ chúng đã từng là cha mẹ của ta. Thường thấy, nhỏ mà xa cha mẹ thì lớn lên đã quên hết hình bóng song thân, huống chi cha mẹ bà con đời trước, ngày nay kẻ họ Trương người họ Vương, khó mà nhớ được nhau. Họ gào thét trong địa ngục, ngất ngưỡng trong ngạ qủy, thống khổ ai biết, đói khát ai hay. Ta dầu không thấy không nghe, nhưng họ tất cầu cứu cầu vớt. Kinh mới dạy được việc ấy, Phật mới tỏ cảnh này, còn kẻ tà kiến thì làm sao biết được. Nên Bồ Tát nhìn sâu kiến cũng thấy toàn là cha mẹ quá khứ và Chư Phật vị lai, thường nghĩ cách lợi ích cho chúng và thường nhớ trả ơn cho chúng." 

Hình ảnh Đức Bổn Sư từ phụ của chúng ta sụp lạy đống xương khô trong Kinh Phụ Mẫu Báo Hiếu Ân thể hiện rõ nét cho tinh thần này. Nói đến Nguyễn Du, bậc văn chương chính nhân xưa nay đều hay cái duyên của người nghệ sĩ này với cái chất Phật giáo nó khắng khít thế nào.

Mở đầu cho bài văn tế 184 câu, Nguyễn Du như vừa thì thầm ngâm thơ vừa than thở trong lệ rơi cho nỗi niềm trăn trở đầy ê chề áo não.

"Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô,
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuộm bạc, lá khô rụng vàng."

Trước hết, nếu chỉ xét đơn thuần về khía cạnh tâm hồn người nghệ sĩ trước cảnh vừa đẹp vừa buồn của tiết thu thì Nguyễn Du cũng như Nguyễn Khuyến hay Lưu Trọng Lư không hơn không kém. Đối cảnh sanh tình là cái bệnh "đa cảm đa sầu" bình thường muôn thuở của người nghệ sĩ. Hình ảnh của tiết thu như: mưa dầm, hơi lạnh, sương khô, lá rụng vàng không gì lạ lẫm trong hồn thơ của những bậc thi nhân. Nhưng thoát ra ngoài phạm vi nghệ sĩ ấy, ta cảm nhận như Nguyễn Du không phải bị rơi vào chỗ đồng điệu với cái buồn man mác của chiều thu, mà hình như tự trong sâu lắng tâm hồn ông kết đọng một nỗi niềm u uất hay khắc khoải một hoài vọng xa xăm về một thế giới tâm linh u huyền nào đó. Cái chất thu ở Nguyễn Du có mang một chút sáng tối áo não hòa quyện sắc màu âm dương, dễ dàng khơi dậy một thứ cảm giác bâng khuâng về cái ân và cái nghĩa theo nhà Phật được thể hiện trong Lễ hội Vu Lan mà mỗi con người ai cũng hằng mang nặng. Như vậy, ở đây cái thu không chỉ là cảm xúc khi đối cảnh của tình nghệ sĩ, mà còn là cái thu mang nặng nghĩa ân tình thâm trọng của người con Phật.

"Tháng bảy mùa thu lá rụng vàng,
Ấy mùa báo hiếu lễ Vu Lan."

Đọc những vần thơ tiếp theo ta mới thấy rõ hơn về sự liên tưởng từ cái "hữu hình" đến cái "vô hình", từ cái "dương thể" đến cái "âm thể" trong một tâm hồn trăn trở Nguyễn Du:

"Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác sương sa,
Lòng nào lòng chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm."

Từ một trực cảnh hiện sinh, thiên tài Nguyễn Du mở ra những cánh cửa bí mật dẫn vào tâm hồn u uẩn của cô hồn thập loại và của chính tâm hồn mình. Ở đó ta thấy xuất hiện một nỗi niềm kỳ lạ khó hiểu trong con người của ông vào lúc cuối cuộc đời. Khi phải bệnh nặng, Nguyễn Du không chịu uống thuốc. Lúc gần chết, sai người sờ tay chân xem còn nóng hay đã lạnh. Người nhà bảo: Đã lạnh cả rồi. Nguyễn Du nói: "Được!" Nói xong thì im lặng mà từ giã cõi đời.
Theo thuyết Nghiệp Chủng Thức Phật giáo, mà rõ ràng là giải thích của Thái Hư Đại Sư ở bài kệ:

"Đảnh Thánh, nhãn sanh Thiên,
Nhân tâm, ngạ quỷ phúc,
Bàng sanh tất cái ly,
Địa ngục cước tâm xuất."

Để đoán biết một người sau khi chết sẽ sanh về cảnh giới nào thì chỉ cần xem người ấy vào lúc lâm chung điểm hơi ấm cuối cùng xuất ra ở chỗ nào trên thân. Nếu ở đảnh đầu thì sẽ sanh về cõi Thánh, nếu ở trán thì sanh vào cõi trời, nếu ở tim thì sanh được làm người, nếu ở bụng thì sanh làm ngạ quỷ, ở đầu gối thì sanh vào loài súc sanh, còn ở bàn chân thì phải đọa vào địa ngục.

Nguyễn Du đã dùng phương pháp này để đoán xem mình sẽ sanh vào thế giới nào. Người nhà bảo lạnh cả rồi mà ông vẫn còn trong trạng thái hoàn toàn tỉnh, rồi bảo rằng: "Được!" Từ "Được" ấy chính là cái điểm nóng cuối cùng diễn biến đúng như ý của Nguyễn Du. Cũng chính trong cái im lặng ra đi của ông toát lên một sức mạnh gì đó mang tính được dự định cho điều bí mật hiện hữu trong một tâm hồn. Đó phải chăng là một sự tỉnh thức mà từ lâu Nguyễn Du đã tu tập được để chuẩn bị cho một phẩm vị ở cảnh liên trì tự tại.

Sống, Nguyễn Du cứ bị thôi thúc bởi hai chữ "Sinh hóa". Chính vì vậy mà mở đầu bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh, ta toàn trực diện với những từ ngữ chứa chan sắc màu lắng đọng của âm dương chập chờn hòa quyện.

"Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương thay thập loại chúng sanh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người."

Đạo Phật luôn lấy sứ mạng đem ánh sáng và tình thương đến cho muôn loài làm lý tưởng sống. Ánh sáng của tinh tú, của mặt nhật, mặt nguyệt chỉ có thể giúp chúng sanh thoát khỏi sự hỗn mang phiền tạp cũng như sự mò mẫm, và đen đặc của trời đất hay của cuộc đời. Ánh sáng chánh pháp, của tình thương chính là hai sự trạng chan chứa trong tinh thần của Phật giáo. Chính cái tình thương phổ đồng mới đưa tất cả chúng sanh cùng hòa vào một khối yêu, và ngay ở chính đó mỗi cá thể sẽ tìm thấy được cái tình thân ấm áp lạ lùng. Đây quả là lời tỉnh giác, là lời mở đầu bài thuyết linh cho chúng cô hồn "phách chiếc lênh đênh" không nơi nương tựa của một Pháp sư chứ không phải của một Nguyễn Du mà mọi người chỉ biết dưới danh nghĩa một đại thi hào.

"Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tỉnh đàn rưới hạt dương chi, 
Muôn nhờ Đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ hồn về Tây Phương."

Đến đây chúng ta càng thấy rõ hơn Nguyễn Du đã thật sự thoát xác hóa thân thành một pháp sư, thành một đạo sĩ tay cầm nhành dương rưới nước phép, mở khai phương tiện quyền xảo đi vào tận cùng thế giới không tên của trăm nghìn kiếp sống mà hiển thật hóa duyên. Một danh nhân không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam hay của Phật giáo Việt Nam, mà còn được cả thế giới công nhận và xếp vào hạng những nhà văn hóa nổi bật của mọi thời đại lại còn xiển dương việc "lập đàn giải thoát" như thế ấy. Đó chính là phẩm chất của nhà văn hóa Nguyễn Du và cũng là phẩm hạnh cao đẹp của một vị Bồ Tát. Có ai nào dám mạo danh vì một chủ nghĩa, một học thuyết lý luận nào đó mà phê phán hay chỉ trích ấy là việc làm mê tín dị đoan phải bài trừ? Chỉ những ai thiếu kiến thức văn hóa mới hời hợt đánh giá đó là phi văn hóa. Và chỉ có những ai lạm dụng cái giá trị văn hóa đó để phục vụ cho mục đích riêng mình mới là người thiếu văn hóa.

Cách nói của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

"Trời đất nào dung tha kẻ ác,
Cớ sao còn có lễ Vu Lan,
Từ bi, ta muốn nhờ công sức,
Cứu được bao người chịu khổ oan?"

Đó là cách nói răn dè để dạy đời theo quan điểm đạo đức về thiện ác, thưởng phạt do trời đất định đoạt mang tính khắt khe của người Nho gia. Theo truyền thống báo hiếu, đáp nghĩa, đền ân thuộc đạo lý làm người của Phật giáo thì chẳng những khi còn sống chúng ta phải biết quan tâm và tử tế với nhau, mà ngay cả sau khi chết chúng ta cũng phải biết thương tưởng hướng về nhau. Vì thế, Vu Lan phải được xem như là một nghĩa cử cao đẹp không chỉ cứu tử mà còn có giá trị độ sanh nữa. Với lại, về mặt pháp luật, không luật lệ nào không có ngoại trừ, cũng không có tòa án xử tội nào lại không có điều khoản ân xá.

Theo Phật giáo, trong thế giới tương đối này, hết thảy vạn hữu đều phải chịu ảnh hưởng của quy luật Nhân Quả. Tất cả đều tương quan tác động qua lại với nhau, duyên vào nhau mà tồn tại. Do đó, nghi lễ cầu an và cầu siêu là những trợ duyên cần thiết, những đìều kiện hỗ trợ một cách hợp lý cho sự sống và sự chết của con người về mặt tinh thần. Đứng về phương diện đạo lý thường tình mà xét thì "lễ" là sự thể hiện cho cái "nghĩa" sống của con người, song để thể hiện cái "lễ" ấy thì cần phải dựa vào "nghi thức" để thực hiện cho phải lẽ kính tôn.

Tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật đã hun đúc nên một tình thương rộng lớn không chỉ hạn cuộc trong phạm vi nhân sinh mà còn phổ huân khắp tất cả các loài chúng sanh đang điêu linh nơi âm cảnh ở một đại thi hào. Lòng xót thương đã khiến người nhận ra được tính đồng thể mà chỉ có các Bồ Tát, các bậc giác ngộ trong loài hữu tình mới nhận thấy được để từ đấy phát nguyện độ tận chúng sanh. Một tình thương bao la như thể biết dùng những phương tiện cứu độ và hóa duyên, mà ở đây là "đàn khai cam lồ môn" được Nguyễn Du thiết lập theo nghi Vu Lan Bồn để giải oan bạt độ cho chúng cô hồn lạc lõng bơ vơ.

Ngày rằm tháng bảy, tất cả các cửa ngục đều mở, mọi hình phạt đều tạm ngưng, các tội nhơn trong chốn u đồ đều có cơ hội được xá tội. Đêm hôm ấy, kiến lập Vu Lan để cúng tế chúng sanh nơi âm giới và báo đáp cù lao. Ở hội này có thiết lập một đàn "khai cam lồ môn" để giải oan bạt độ cho chúng sanh chịu khổ chốn u đồ được giải thoát siêu thăng. Như vậy, "đàn giải thoát" mà Nguyễn Du nói đến chính là đàn này vậy.

Theo các khoa nghi chẩn tế thì cô hồn tùy theo nghiệp chủng mà biến hiện ra nhiều hình thù khác nhau để chịu khổ báo. Có những loại cô hồn bụng to như cái trống mà cổ lại nhỏ bằng ống kim, không thể nào ăn uống được. Có những loại cô hồn vì tánh xan tham nên để giành lấy thức ăn họ lại cấu xé nhau đến chết mà vẫn chịu cái khổ đói khát. Có những loại cô hồn nhìn thức ăn thấy toàn máu mủ và than hồng không sao ăn uống được. Ngoài ra còn nhiều nỗi thống khổ không sao tả xiết được mà chúng sanh phải chịu ở chốn u đồ.

"Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đón khóc đêm mưa;
Cho hay thành bại là cơ,
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan."

Hơn ai hết, Nguyễn Du làm lắng đọng lòng người để nghe những âm thanh vang động tiếng thiết tha đầy thê thảm của chúng sanh khi viết nên tiếng ai oán Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh. Ở đó, ông cũng phác họa nên những hình ảnh âm linh kinh hoàng chịu những nỗi rét mướt lạc loài của những oan hồn cô mộ.

Với thuyết nghiệp báo của Phật giáo, tất cả chúng sanh đều có nghiệp quả, chúng đều hưởng thọ nghiệp quả, chúng lệ thuộc vào nghiệp quả. Chính nghiệp quả mà phân biệt chúng sanh thành các chủng loại: thấp-cao, sang-hèn, quý-tiện, hạnh phúc-khổ đau. Hay nói theo Lê Thánh Tôn trong Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn:
"Hồn là thần, phách là quỷ, 
No nên Bụt, đói nên ma."
Như vậy, qua sự hiện hành của nghiệp quả mà người ta đánh giá được nghiệp nhân của chúng sanh. Nghiệp quả càng vô cùng đa dạng thì hình thức hiện sinh của chúng sanh càng đa dạng không cùng.
"Mỗi người một nghiệp khác nhau,
Hồn xiêu, phách lạc biết đâu bây giờ?"

Và cái đa dạng phảng phất ấy trong khoa Mông Sơn Chẩn Thí Cô Hồn có trình bày: "Hà sa thập loại khôn cùng,… không chùa không miếu lấy ai nương nhờ. Từ đường đâu có phụng thờ. Cô đơn, độc lập nương nhờ gốc cây, lênh đênh mặt nước cung mây, đầu đường xó chợ hồn bay lạc loài". Hễ cõi dương có bao nhiêu cảnh phiêu bồng lạc lõng thì cõi âm có bấy nhiêu cảnh lang bạt tiêu điều. Trở lại lời thỉnh mời, và cũng là lời mà Nguyễn Du thức tỉnh cho những tâm hồn mang nặng oán thù sân ngoa.

"Cô hồn thất thểu dọc ngang, 
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sanh."

Theo quan điểm Phật giáo thì thiên đường hay địa ngục đều do ở mỗi con người mà ra.

"Nghiệp duyên vốn tự mình ra,
Nơi vuông tấc đủ thiên đường, địa ngục."
(Vịnh Phật - Nguyễn Công Trứ)

Vậy muốn thoát những cái khổ dằn vặt trong chốn tam đồ thì ở mỗi chúng sanh phải tự mình thức giác diệt trừ mê lầm oán thân, nhờ đó sẽ đạt tới đỉnh cao giác ngộ và giải thoát - hạnh phúc và tự do. Đó không chỉ đơn thuần là lời thức giác cho những cô hồn nặng oan khiên mà còn là lời phản tỉnh cho những con người đang hiện sinh lầm lạc trong cả cuộc đời này.

"Kiếp phù sinh như hình bào ảnh, 
Có chữ rằng vạn vật giai không;
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi."

Ở đây, Nguyễn Du đã diễn tả rất chính xác thực trạng vô thường theo quan điểm nhà Phật, đó là một thực tại khách quan, một chân lý phổ biến khắp không gian và thời gian. Nó không dựa trên ý thức cảm tính hay khái niệm chủ quan, lại hoàn toàn không phải hư cấu giả tưởng hay thêu dệt để lung lạc lòng người. Hết thảy vạn vật kể cả thập loại chúng sanh đều có những điều kiện, những nhân duyên tạo thành, không có cái biệt lập riêng rẽ. Đó là nguyên lý tất yếu, là nhận thức giác ngộ. Nếu giác ngộ đúng sự thật thì lòng ta sẽ vơi, sẽ không còn day dứt, khổ đau; vượt trên những vui buồn thường tình; tháo gỡ những oán thù, những tham lam ích kỷ. Đây là lời thuyết linh, lời phản tỉnh dẫn dắt hết sức tài tình của pháp sư Nguyễn Du. Đồng thời đó cũng là lời thiết tha kêu gọi mọi người hãy mau mau giác ngộ sự thật cuộc đời. Một khi lòng ta đã giác ngộ thức tỉnh thì Phật tại tâm, Phật ở tại lòng ta, vì Phật chính là giác ngộ vậy.
Kết thúc bài văn tế Nguyễn Du viết:

"Phật hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ ngại rằng có có không không;
Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
Nam mô nhứt thiết siêu thăng thượng đài."

Khi Đức Phật quyết định dấn thân vào đời, Ngài phát bốn thệ nguyện rộng lớn để làm lý tưởng sống giữa cuộc đời: "Thệ nguyện độ tất cả chúng sanh, thệ nguyện từ bỏ tất cả phiền não, thệ nguyện học hết thảy giáo lý cao siêu, thệ nguyện thành tựu đạo giác ngộ vô thượng." Bốn lời thệ nguyện này là hành trang của lòng yêu thương và từ bi vô tận, là tiêu điểm hướng đến thành tựu Phật quả. Bốn câu kết của Nguyễn Du ở bài văn tế bao hàm đủ ý nghĩa của "Tứ hoằng thệ nguyện" này. Ta thấy tình yêu thương của ông trang trải khắp tận cùng thế giới chúng sanh. Chính cái tình yêu thương vô tận ấy là nguồn xúc tác khơi dậy những vần thơ trác tuyệt làm rạng rỡ hình ảnh của một đại thi hào. Đứng về mặt đạo đức thế gian, ông quả là một người có đầy đủ hiếu tâm, hiếu đạo, trọn nghĩa, trọn tình. Đứng về mặt giác ngộ, ông có đầy đủ phẩm hạnh của một Phật tử sống biết thể hiện tinh thần tự độ, độ tha.

Tóm lại, đứng trên địa hạt lợi tha, đạo Phật luôn khích lệ tất cả mọi người phải ghi nhớ, tích cực tìm cách báo ân và cứu khổ. Xét rộng thì tất cả chúng sanh đều là ân nhân của nhau. Và cái khổ mà cần cứu cần vớt đó là cái khổ thống thiết của chúng sanh trong chốn u đồ.

Nhân mùa Vu Lan đến với người con Phật, tất cả chúng ta hãy cùng với Nguyễn Du đồng chấp tay hướng về Tam Bảo, đồng thể hiện tình thương tưỏng đạo giáo vô biên của người con Phật đến tận khắp pháp giới chúng sanh còn đang đau khổ đọa đày trong cảnh u đồ, và hiện tại thế gian đang sống cơ hàn vì thọ nghiệp đáng thương, các chơn linh anh hùng liệt sĩ vì nước vong thân, đồng bào tử nạn. Hãy cùng nhau thành kính nguyện cầu cho tất cả đều được siêu sanh thoát hóa. Ấy là ý nghĩa báo ân mang tính vừa cao cả, vừa bao la hòa đồng và cảm thông cùng khắp của Nguyễn Du, của người Phật tử trong tinh thần Phật giáo chánh nhân. Cuối cùng, xin hãy đồng niệm câu kinh của Phật tử Nguyễn Du để nguyện cầu cho hết thảy chúng sanh đều được lợi lạc, an lành và hạnh phúc trong ngày lễ Vu Lan này.

"Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng,
Nam mô nhứt thiết siêu thăng thượng đài".

MẸ VÀ NHỮNG LỜI CẦU NGUYỆN
Mỹ Đức Phạm Kim Dung

Đêm đêm con thắp đèn trời,
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.

Mẹ tôi năm ngoái 79 tuổi, đã ăn chay được 15 năm. Ai gặp mẹ tôi cũng nói mẹ tôi trẻ hơn tuổi thật nhiều. Cũng năm ngoái này mẹ tôi đã trải qua một ca đại phẫu cắt bỏ một quả thận vì ung thư ác tính.  Bệnh đã phát hiện ra từ 4 năm trước.  Được tin này, nhà tôi và tôi, sau khi sắp xếp mọi việc là về Việt Nam để thăm mẹ tôi ngay. Trước khi về Việt Nam, tôi có tham vấn ý kiến của bác sĩ gia đình về chứng ung thư thận này.  Bác sĩ gia đình của tôi nói rằng hơn 90% ung thư thận là ung thư ác tính, và khi phát hiện ra bệnh thì thời gian sống không còn được bao lâu.
Trên chuyến bay về Việt Nam, tôi bàng hoàng xúc động, luôn nghĩ rằng  mẹ tôi giờ  hẳn tiều tụy lắm và có lẽ lần này là lần cuối cùng tôi được gặp lại mẹ tôi. Khi máy bay bắt đầu rời khỏi Taipei và hướng về Saigon là lúc tôi xúc động hơn bao giờ hết. Qua cửa sổ máy bay chỉ thấy mây trắng xóa, nhưng bảng chỉ khoảng cách giữa Taipei và Saigon càng lúc càng thu ngắn lại, lòng tôi thổn thức, nước mắt cứ tuôn đầm đìa.

Thế nhưng khi gặp lại, tôi thấy mẹ tuy hơi già hơn xưa một chút nhưng vẫn khỏe mạnh bình thường,  thần sắc tươi sáng, trí tuệ minh mẫn không thay đổi gì cả. Nếu mẹ tôi không đi tiểu ra máu và đau bụng  thì chắc sẽ không phát hiện được cái bướu cũng to bằng quả thận bên phải. Sau khi các bác sĩ cho uống một vài loại thuốc  thì máu không chảy nữa, và cũng hết đau bụng luôn.  Tuy nhiên, các bác sĩ có nói riêng với gia đình tôi là mẹ tôi tuổi đã cao rồi, sức khỏe  yếu đuối, bệnh lại ác tính, nếu mổ thì không biết có đủ sức để chịu đựng ca mổ không;  vả lại, vì bướu ác tính nên mổ xong không chắc đã diệt được gốc rễ lây lan của mầm bệnh; vì vậy nên để mẹ tôi sống được ngày nào hay ngày đó thôi.  

Gặp lại mẹ sau bao năm xa cách, lòng tôi thổn thức vui buồn lẫn lộn vì biết rằng mẹ không còn sống với chúng tôi bao lâu nữa. Tôi thương quý mẹ tôi vô cùng. Mẹ tôi, cũng như bao bà mẹ Việt Nam cao quý khác, cả đời chỉ sống và hy sinh cho chồng và con,  chẳng quản khó nhọc, quên cả thân mình, suốt đời không có lấy một giây phút cho riêng mình.  Vui niềm vui chung của cả gia đình và buồn nỗi buồn chung của cả gia đình. Tôi nhớ mẹ tôi nói rằng khi còn bé chị em chúng tôi rất hay đau ốm, quặt quẹo luôn luôn. Mỗi khi như thế là lòng mẹ tôi lúc nào cũng như lửa đốt, đứng ngồi không yên, có bao nhiêu tiền là dốc hết cho ông lang và bác sĩ. Nhiều khi chữa lâu không khỏi thì mẹ tôi chỉ mong có một phép lạ xảy ra, hay ai có thể chỉ một cách nào  đó  để chị em chúng tôi khỏi bệnh thì dù có mất hết cả gia tài hay những gì quý giá nhất mẹ tôi cũng sẵn lòng. Trước năm 1975, mẹ tôi  là một bà nội trợ, cả ngày chỉ quanh quẩn trong gia đình.  Sau năm 1975, mẹ tôi phải từ bỏ cái tháp ngà gia đình,  tảo tần buôn bán, bươn bả kiếm sống để nuôi chị em chúng tôi, đặc biệt là các em tôi khi đó còn rất nhỏ.  Mẹ tôi đi buôn hàng chuyến  và thường đón xe của cán bộ đi công tác để chở hàng cho an toàn. Khi đó công an kiểm soát rất gắt, phải trốn chạy để giấu hàng. Có lần mẹ tôi và vài bạn hàng đã bị cán bộ lừa lấy hết số hàng trên xe, phải  đi xe đò về tay không. Sau này mẹ tôi bị bệnh cao áp huyết. Có lẽ đó là hậu quả của những lần đi buôn hàng chuyến đầy phiêu lưu và sợ hãi để nuôi nấng chúng tôi. Cũng như những bà mẹ Việt Nam tuyệt vời khác, mẹ tôi rất nhẫn nhục, chịu khó, hay lam hay làm gần như chẳng nghỉ tay. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ tôi than thân trách phận, thốt ra lời oán trách, mắng nhiếc, nguyền rủa hay so bì với bất cứ ai. Mẹ tôi cả đời chỉ âm thầm chịu đựng tất cả dù trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất miễn sao chồng con được no đủ là vui lòng rồi. Nhiều khi tôi tự hỏi điều gì đã khiến mẹ tôi giữ gìn chánh ngữ tuyệt đẹp đến như vậy trong suốt cuộc đời vì khi chúng tôi còn nhỏ, mẹ tôi không bao giờ có thì giờ đọc kinh sách để hiểu rõ tam quy và ngũ giới như thế nào. Mẹ tôi chỉ có thể tìm hiểu giáo lý của Phật khi hầu như tất cả chúng tôi đã yên bề gia thất mà thôi. Tôi nhớ lần đầu tiên khi tụng kinh Báo Hiếu vào dịp lễ Vu Lan, lúc tụng đến đoạn  bà mẹ nuôi con sau khi sanh:

“...Điều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng
Cực đến đâu bền vũng chẳng lay
Thứ tư ăn đắng nuốt cay
Để dành bùi ngọt đủ đầy phần con
Điều thứ năm lại còn khi ngủ
Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo phần con”

Nhớ đến sự hy sinh trời biển của mẹ tôi mà không cầm được nước mắt.  Đức Phật quả là đấng Giác Ngộ toàn năng đã khơi dậy lòng hiếu thảo và tri ân cha mẹ nơi những người con một cách hiệu quả nhất qua việc sử dụng ngôn từ để vẽ lên những hình ảnh  ấn tượng nhất  của cha mẹ, đặc biệt là những bậc cha mẹ Việt Nam  trong phẩm kinh này. 

Mẹ tôi là niềm tự hào và hạnh phúc lớn nhất của tôi.  Tôi luôn luôn cảm thấy hạnh phúc và hãnh diện vì có một bà mẹ tuyệt vời và hiền đức như vậy. Gần như không lúc nào là tôi không nhớ đến mẹ tôi. Hằng ngày và hằng  giờ.  Mỗi khi nấu được một món ăn ngon, tôi ước gì mẹ tôi ở gần đây hay ở bên tôi để tôi có thể mời mẹ tôi món ăn này. Những tháng ngày sống ở Mỹ chồng chất lên nhau cho đến một ngày kia tôi thấy rõ nỗi ước ao thèm khát có cha mẹ ở bên mình. Nhìn những người có cha mẹ ở bên này, tôi mừng cho họ có một hạnh phúc lớn lao nhưng cũng thấy tủi thân cho mình. Vào những ngày Hiền Mẫu  thì tôi nhớ mẹ tôi hơn bao giờ cả.  Phải chi giờ này tôi được ở bên mẹ tôi để tôi cũng được nói những lời tri ân mẹ, tặng quà cho me, và dẫn mẹ đi ăn như những người con khác. Cho nên khi đọc  “Bông Hồng Cài Áo” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đến đoạn: “... Lớn đến cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi” thì tôi hiểu ngay. Tôi không muốn mất mẹ. Dù vạn pháp là vô thường, có sinh tất có diệt, nhưng tôi vẫn hằng mong muốn mẹ tôi sống thêm với chúng tôi một thời gian nữa để chúng tôi được tận hưởng suối nguồn hạnh phúc ngọt ngào đó.  Gia đình tôi theo đạo Phật.  Nhưng chỉ có mẹ tôi, em gái tôi và tôi là những phật tử thuần thành thôi.  Bố tôi và các em còn lại của tôi, tuy cũng kính ngưỡng đức Phật, nhưng không có đủ niềm tin sâu sắc như chúng tôi. Tôi và em gái tôi  đã làm nhiều việc thiện lành như cúng dường, đúc tượng Phật, đúc chuông, ấn tống, giúp người nghèo... Nhưng từ bây giờ trở đi thì mỗi khi làm những việc đó phải xin hồi hướng công đức này về cho song thân phụ mẫu của chúng tôi với một mục đích duy nhất là để ơn trên gia hộ cho song thân chúng tôi sống thêm một thời gian nữa. Từ khi sang Mỹ, mỗi ngày sau giờ thiền định, tôi đều cầu nguyện chí thành xin Trời Phật cho bố mẹ tôi sống lâu trăm tuổi cùng con cháu. Mỗi khi điện thoại về Việt Nam, biết được bố mẹ đều khỏe là tôi an tâm vô cùng. 

Sức khỏe mẹ tôi cứ ổn định như thế cho đến tháng bảy năm ngoái thì mẹ tôi lại đau bụng và đi tiểu ra máu.  Bác sĩ cho biết nếu  cứ để như vậy thì mẹ tôi sẽ chết vì hết máu. Nếu muốn mẹ tôi sống thì dù sức già yếu, cũng phải mổ cắt bỏ quả thận ung thư thôi. Các em tôi đồng ý để mẹ tôi mổ. Vì từ trước đến giờ cả gia đình tôi đều giấu mẹ tôi bệnh ung thư nên bây giờ phải nói với mẹ tôi là chỉ mổ thận để lấy đi một cái cục gì đó đè lên mạch máu làm chảy máu mà thôi. Nhờ thế mẹ tôi rất vui vẻ chấp nhận lên bàn mổ. Thoạt đầu bác sĩ  mổ nội soi để không bị mất máu, vết thương mau lành. Nhưng chẳng may, trong lúc mổ, một động mạch bị đứt, nên phải mổ bình thường để còn vá động mạch đứt lại. Mẹ tôi kiệt sức vì mất quá nhiều máu.  Sau khi mổ, mẹ tôi phải nằm trong phòng hồi sức cả tháng trời, hai mắt đỏ sọng, mặt sưng húp, da vàng khè, rũ liệt như tàu lá úa,  dù có hai người dìu hai bên, mẹ tôi cũng không đi đứng được. May sao em trai tôi là giáo sư đại học y khoa Saigon nên mẹ tôi được chăm sóc rất đặc biệt với những bác sĩ hàng đầu của Việt Nam và điều trị bằng những phương tiện y khoa tối tân không thua kém gì ở Mỹ.  Em dâu tôi là một con dâu thật tốt, đã săn sóc, chiều chuộng và lo lắng cho mẹ tôi hết lòng như mẹ ruột trong lúc sức khỏe và tinh thần mẹ tôi sa sút nhất.  

Lúc đó ở đây, lòng dạ tôi rối bời như bòng bong.  Thương mẹ đứt ruột mà không thể về thăm mẹ được. Tôi chỉ có thể về được  tối đa mười ngày rồi phải trở lại với hình ảnh đau thương của mẹ kiệt sức sau ca mổ.  Làm sao tôi có thể dứt áo mà trở về Mỹ trong tình trạng mẹ tôi như thế?  Mà nếu không về thì có thể không bao giờ được gặp lại mẹ nữa. Tôi khóc bất cứ lúc nào nghĩ đến mẹ.  Tôi cầu nguyện cho mẹ tôi bất cứ lúc nào có thể. Tôi điện thoại cho em gái tôi để em gái tôi nhờ thêm lực cầu nguyện của chư tăng mỗi ngày.  Mỗi ngày tôi đến trước ban thờ Tam Bảo, thỉnh chuông, cầu xin  chư Phật gia hộ cho  mẹ tôi, tụng chú Bạch Y, nguyện xin hồi hướng cho mẹ tôi tất cả những công đức gì mà tôi đã tích lũy được từ đời vô thủy đến nay để nghiệp chướng của mẹ tôi được tiêu trừ, công đức tăng trưởng mà hội đủ duyên tốt lành vượt qua bạo bệnh để  sống thêm nữa.  

Cứ như vậy, chị em tôi cầu nguyện, chư tăng cầu nguyện cộng thêm với sự chăm sóc chu đáo của các em tôi, mẹ tôi dần dần bình phục như một phép mầu. Những ai đến thăm mẹ tôi lúc mẹ tôi còn trong bệnh viện và găp mẹ tôi bây giờ đều nói rằng đó là một mầu nhiệm khó tin được. Sau khi bình phục, mẹ tôi gầy hơn trước, yếu hơn trước nhưng khí sắc vẫn tươi nhuận và trí nhớ phục hồi đầy đủ.  Khi gặp lại tôi, mẹ tôi kể lại một ấn chứng rất lạ kỳ trước và sau ca đại phẫu.

Vào một đêm nọ, vào lúc trời hừng sáng, bỗng nhiên nổi lên sấm sét vang trời và đổ xuống một cơn mưa bất ngờ thật to.  Trong lúc mưa dữ dội  như vậy, bỗng dưng có một giọt nước rất  to rơi xuống mặt mẹ tôi.  Mẹ tôi rất ngạc nhiên, lấy tay sờ lên mặt và thấy đúng là hạt nước rơi trên mặt. Mẹ tôi tự hỏi  giường mẹ tôi nằm  xa cửa sổ, lại qua mấy lớp màn che, làm sao mà hạt nước có thể xuyên qua mấy lớp màn rồi rơi trên mặt mẹ tôi như thế. Vài hôm sau thì mẹ tôi đi tiểu ra máu và trải qua một ca mổ nguy hiểm như đã nói ở trên.  Khi mẹ tôi gần như hoàn toàn bình phục, nằm trong căn phòng cũ nói trên thì bỗng dưng một buổi hừng sáng nọ, trời lại nổi sấm sét dữ dội, một cơn mưa lớn lại bất ngờ đổ xuống.  Cũng trong cơn mưa này, lại một giọt nước, một giọt nước có lẽ từ cửa sổ xa, xuyên qua mấy lớp màn che để đến rơi xuống cùng một vị trí trên mặt mẹ tôi như lần trước.  Mẹ tôi lúc đó sợ quá, òa khóc vì sợ rằng mọi sự sẽ giống như lần trước.  Có nghĩa là bệnh sẽ trở lại như cũ.  

Nghe chuyện mẹ tôi kể, tôi an ủi mẹ tôi có lẽ đó là nước Cam Lồ Phật Bà Quan Thế Âm ban cho mẹ để chữa khỏi bệnh thôi.  

Năm nay mẹ tôi đã 80 rồi. Bầy con nhỏ  của mẹ tôi năm xưa  nay đã hoàn toàn trưởng thành. Mỗi đứa con, tùy theo nhân duyên, có sự nghiệp riêng và  thành công trong  lãnh vực riêng của mình. Bố mẹ tôi hoan hỉ và an hưởng tuổi già với con cháu. Tuổi già giống như ngọn đèn trước gió, không biết sáng rồi tắt lúc nào. Một ngày nào đó rồi thì bố mẹ tôi cũng phải trở về theo quy luật của thiên nhiên.  Dù biết vậy nhưng mỗi khi nghĩ đến điều đó, tôi vẫn thấy xốn xang trong lòng. Rồi lại rơi nước mắt. Tôi sẽ thành đứa trẻ mồ côi.  Chị em tôi sẽ là những trẻ mồ côi.  Mỗi lần lễ Vu Lan, tôi phải cài bông hồng trắng vì không còn mẹ.  Không. Nhất định không. Tôi sẽ không bao giờ cài bông hồng trắng lên áo vào dịp Vu Lan.  Cho dẫu mẹ tôi sẽ trăm tuổi và bỏ tôi lại một mình, tôi vẫn cái lên áo hoa hồng màu đỏ, màu dành cho những người con hạnh phúc vì còn mẹ.  Bởi vì mẹ tôi sẽ không mất đi, mẹ tôi chỉ thay đổi sang một trạng thái khác mà thôi.  Mẹ tôi vẫn còn đầy ắp trong tâm hồn tôi, mãi mãi và mãi mãi. Như lời nhà bác học Einstein đã nói: “...không có gì sinh ra cũng như không có gì biến mất mà chỉ có sụ thay đổi của trạng thái vật chất...”

PHƯƠNG TRỜI CAO RỘNG, Tạp Chí Văn Học Phật Giáo
SỐ 15, THÁNG 08/2007

08-23-2007 11:23:34

MỤC LỤC 
Tuyển Tập Vu Lan


 

c <
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam