PHẦN
THỨ TƯ
VƯỢT
QUA GIÁO ÐIỀU
LỜI
NÓI ÐI ÐÔI VỚI VIỆC LÀM
Thưa
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, Ngài có những lời hướng dẫn nào
cho chúng tôi, những người hiện đang hoạt động nhằm phát
triển những cộng đồng và những tổ chức Phật giáo liên
hệ trong xã hội Tây phương?
Như
tôi vẫn thường bảo các thân hữu Phật tử quen biết rằng,
nếu chúng ta muốn những giá trị tốt đẹp của truyền thống
Phật giáo đã phát triển lâu đời tại Tây Tạng được
tồn tại mãi, tất cả đều tùy thuộc vào việc Tây Tạng
có được tự do hay không. Bởi vì các bạn hiện đang chung
sức làm việc cùng nhau, thế nên để đạt đến cứu cánh
này, tôi xin các bạn hãy tiếp tục cộng tác với tất cả
những người đã và đang hoạt động cho nền tự do của
Tây Tạng.
Chúng
tôi cố gắng để phân biệt hai tiếng “tự do“ và “độc
lập”. Cách sử dụng tiếng độc lập có phần nào tế nhị.
Rõ ràng là chúng tôi đang nỗ lực để thiết lập mối liên
lạc với nhà nước Trung Cộng và bắt đầu những cuộc thương
thảo một cách nghiêm chỉnh với họ. Suốt mười bốn năm
qua, tôi đã kiên trì làm hết sức mình theo hướng này, tin
tưởng rằng những nỗ lực của tôi sẽ mang lại những thành
quả tối hậu, thông qua những cuộc thương thuyết trực tiếp
với nhà nước Trung Cộng.
Nhân
đây tôi cũng xin được chia xẻ những ý nghĩ của tôi cùng
tất cả qúy đạo hữu anh chị em Phật tử đang tụ họp
ở đây. Trước hết, Phật giáo là một truyền thống tâm
linh mới, một tôn giáo chưa hề có mặt tại phương Tây trước
đây. Thế nên, quả là một điều rất bình thường nếu
tất cả những ai yêu thích Phật giáo, cụ thể là Phật giáo
Tây Tạng, đồng thời cũng nên được đón nhận những thông
tin hoặc học tập, nghiên cứu các tôn giáo, truyền thống
khác. Ðây là một điều hoàn toàn tự nhiên. Tuy nhiên, đối
với những người đang có ý định thật sự muốn quy y theo
đạo Phật, tức là muốn cải đạo, điều quan trọng là
họ cần nên cân nhắc kỹ lưỡng. Vấn đề này không nên
thực hiện một cách hời hợt. Bởi vì một người cải
đạo nếu không suy nghĩ chín chắn thường chỉ tạo ra những
nỗi khó khăn cho chính mình dẫn đến tình trạng bất ổn
nội tâm. Thế nên tôi xin được khuyên tất cả những ai
muốn cải đạo qua đạo Phật, hãy nên suy nghĩ kỹ lưỡng
trước khi hành động.
Thứ
đến, khi một người tin chắc rằng giáo lý Phật giáo phù
hợp với căn tánh của mình hơn, có tác dụng hơn, lúc đó
họ sẽ có một chọn lựa đúng đắn. Tuy nhiên đặc tánh
chung của người đời là sau khi cải đạo, để biện minh
cho việc làm của mình, họ thường có khuynh hướng lên tiếng
chỉ trích đạo cũ của họ. Tinh thần này cần phải được
loại bỏ bằng mọi giá. Cho dù đạo cũ có vẻ như không
mang đến những hiệu quả thực tiễn mà họ mong muốn (đó
là lý do của sự cải đạo,) đây không phải là lý do đủ
để cho ta khẳng định rằng đạo cũ không có tác dụng đối
với tâm linh con người. Tôn giáo đó vẫn tiếp tục mang lại
những phúc lợi cho hàng triệu con người khác. Bởi vậy,
là một Phật tử ta phải kính trọng những quyền căn bản
của kẻ khác, những tôn giáo khác. Ðặc biệt là Phật tử,
chúng ta cần phải nỗ lực hơn trong tiến trình tạo dựng
và gìn giữ mối cảm thông hoà đồng tốt đẹp giữa các
tôn giáo. Trong mọi tình huống, điều tuyệt đối cần thiết
là ta nên nhận thức rõ nhu cầu tôn trọng các tín ngưỡng
khác.
Thứ
ba, truyền thống Phật giáo Tây Tạng luôn luôn chú trọng
đến sự kết hợp hài hoà giữa học và hành. Dĩ nhiên vẫn
có thể có chuyện là bạn thích học nhiều hay ít. Có người
theo đuổi công cuộc học tập nghiên cứu một cách sâu xa
nhưng cũng có người tự hài lòng ở một mức độ giới
hạn nào đó. Dù trường hợp nào đi nữa, vấn đề cốt
tủy là bạn không thể tách rời ba yếu tố học tập, quán
chiếu và thiền định. Bạn cũng cần phải bảo tồn cái
truyền thống tu tập trong đó học tập, quán chiếu, thiền
định như là một thể thống nhất không thể tách rời.
Thứ
tư, tôi cũng thấy cần phải nhấn mạnh đến tinh thần không
thiên vị, bè phái. Ðiều thỉnh thoảng vẫn xảy ra trong đạo
Phật là đã có nhiều người đặt nặïng trọng tâm vào
một tông phái, truyền thống nào đó so với các tông phái
khác mà hậu quả có thể đưa đến tình trạng tích
lũy những hành động cực kỳ tiêu cực đối với Chánh Pháp.
Những lợi ích của tinh thần không bè phái là sau khi nhận
được sự truyền thụ về những giáo huấn, điểm đạo,
và chú giải của từng truyền thống, ta sẽ có khả năng
nhận thức rõ hơn tính chất cá biệt của những giáo lý
này. Và theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, điều này sẽ mang
đến rất nhiều lợi lạc. Thế nên, nếu giữ được cho
mình một thái độ không bè phái,khi ta nhận được những
giáo huấn của những truyền thống khác nhau, ta nên chiêm
nghiệm kỹ và rồi mang chúng ra thực hành, chắc chắn là
ta sẽ nâng cao được tầm hiểu biết của mình đối với
Chánh Pháp. Ðó là lý do tại sao tinh thần không bè phái rất
quan trọng trong vấn đề tu học.
Trong
truyền thống Tây Tạng có hai đường lối tiếp cận thường
được dùng bởi các vị thiện trí thức và các bậc thầy
đã chứng đạt. Bên cạnh những vị chỉ chuyên tâm vào việc
học hành và tu tập theo truyền thống, di sản tâm linh riêng
của môn phái mình, ta cũng thấy có rất nhiều vị đã khai
mở tinh thần học hành tu tập đạo Phật trên quan điểm
không tông phái. Truyền thống này đã hiện hữu tại Tây
Tạng với những bậc thầy vĩ đại, và tôi nghĩ rằng tinh
thần không tông phái này rất đặc biệt quan trọng trong
thời đại hiện nay và là tập quán Tây Tạng hay nhất cần
nên được theo đuổi, duy trì.
Một
điều thứ năm mà tôi cũng muốn được đề cập đến ở
đây, đó là chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi năm qua, Phật
giáo Tây Tạng đã phát triển ra khắp cùng đại lục. Lạt
ma, chu-cô (tulkus: hóa thân), và geshes cùng với sự tiếp tay
của hàng trăm ngàn môn sinh, đệ tử đã góp phần rất lớn
vào sự nở rộ của Phật giáo Tây Tạng trên toàn thế giới.
Tuy nhiên cùng một lúc, những tình trạng bệnh hoạn cũng
đã được phát hiện, tạo nên những nỗi khó khăn cho chúng
ta. Tình trạng này thoạt tiên gây ra bởi lòng tin mù quáng
quá mức ở một số môn sinh cũng như do một số các vị
thầy đã lợi dụng, khai thác những nhược điểm này
của đệ tử mình. Ðã có những vụ tai tiếng về tiền bạc
cũng như sách nhiễu tình dục. Những chuyện tệ hại như
vậy đã xảy ra! Thế cho nên tôi thấy cần phải nhấn mạnh
ở điểm này, là cả thầy lẫn trò tuyệt đối cần thiết
phải giữ mục tiêu tối hậu trong tâm mình, đó là bảo vệ
sự trong sáng, tinh khiết của Chánh Pháp! Như vậy, bổn phận
chung của tất cả chúng ta là phải chấm dứt các tệ đoan
đó.
Ðức
Bổn sư đã chỉ ra tứ nhiếp pháp để mang các môn đệ của
Ngài lại gần nhau cũng như để đảm bảo phúc lợi cho kẻ
khác. Lục độ Ba la mật (paramita) là phương thức thực hành
để ta đạt đến thánh quả và tứ nhiếp pháp giúp các môn
sinh đệ tử gắn bó mật thiết với nhau nhằm mang lại lợi
lạc cho tha nhân. Ðó là, trước tiên bằng cách tặng dữ
những quà biếu vật chất, tiếp đến là dùng những lời
chánh ngữ, rồi sau đó ta tìm mọi cách để giúp đỡ họ,
và cuối cùng là phải cho thấy rằng lời nói của mình luôn
đi đôi với việc làm. Trên tất cả, điểm cuối cùng này
là điểm rất quan trọng mà ta cần phải lưu tâm. Bởi vì
nếu ta không làm chủ được tâm mình, thì làm gì có thể
nói đến chuyện điều tâm cho kẻ khác. Có thể chúng ta không
biết chắc là mình điều tâm cho kẻ khác được hay không,
nhưng đó chính là nhiệm vụ phải làm của chúng ta! Dù bất
cứ trường hợp nào đi nữa, khi một người tự cho là mình
có ý hướng muốn giúp đỡ tha nhân, điều trước tiên là
họ phải kiểm soát được tâm của mình. Ðể thực hiện
được điều này, một điều rất quan trọng đối với các
vị thầy là phải không ngừng tự nhắc nhở mình về những
giáo lý của Ðức Thế Tôn trong việc làm thế nào để giúp
đỡ kẻ khác một cách hữu hiệu và đồng thời phải biến
mình thành một tấm gương của lời nói đi đôi với việc
làm.
Còn
đối với các môn đồ đệ tử, tôi xin đưa ra một ngạn
ngữ Tây Tạng: Người đệ tử không bao giờ nên đặt mình
trước một vị tôn sư như là “một con chó nhào tới trước
miếng thịt.” Ðiều này có nghĩa là người đệ tử không
nên hấp tấp đặt trọn niềm tin của mình vào một vị thầy
nào mà cần phải có thời gian để chiêm nghiệm kỹ lưỡng,
xem xét những phẩm chất của vị thầy đó trước khi xây
dựng mối quan hệ tinh thần thầy trò qua việc chấp nhận
những lời giáo huấn của họ. Cách tốt nhất để nhận
những giáo huấn của một vị thầy là trước tiên ta nên
xem họ như là một người bạn tinh thần. Chúng ta không nên
quá vội vàng vừa nghe những lời dạy của họ và đồng
thời cùng một lúc xem họ như là bậc tôn sư của mình. Từng
tí một, sau khi có đủ thời gian quan sát và tin chắc được
rằng họ đúng là một bậc chân sư, đầy đủ phẩm chất
và đáng tin cậy, chúng ta lúc đó mới có thể chấp nhận
những lời dạy và xem họ là vị tôn sư của mình. Chớ nên
vội vã, hấp tấp.
Ðiểm
thứ sáu mà tôi muốn đề cập cùng qúy vị liên quan đến
một lời cầu nguyện rất thông thường của chúng ta tại
các trung tâm hoằng Pháp: “Xin nguyện cầu cho tất cả mọi
chúng sanh tìm thấy được hạnh phúc và cứu cánh của đời
mình.” Tôi nghĩ là lời nguyện cầu này cần phải được
chúng ta mang ra áp dụng vào đời sống thực tiễn bằng cách
thực hiện một điều gì đó có lợi ích cho xã hội, cụ
thể như dấn thân vào những hoạt động xã hội trong cộng
đồng mình, cố gắng giúp đỡ tất cả những ai đang gặp
phải hoàn cảnh khó khăn, những người đang có vấn nạn
tinh thần, hoặc những khổ đau khác. Ðiều này không có nghĩa
là chúng ta nên đến để thuyết pháp, giảng đạo cho họ
mà thay vào đó là sự giúp đỡ thiết thực do ta đã thông
hiểu được giáo lý đạo Phật. Những hoạt động trực
tiếp hướng đến tha nhân như thế cần phải được phát
triển. Một lời nguyện cầu rất thông dụng khác cũng được
xem như là một kết luận tự nhiên: “Xin nguyện cầu cho
tất cả mọi chúng sanh đều đạt được hạnh phúc và giải
thoát khỏi mọi khổ đau.” Trên căn bản của lời nguyện
này, nếu chúng ta có thể mang lại được điều tốt đẹp
dù chỉ cho một người duy nhất, chúng ta cũng đã hoàn thành
được một phần của hạnh nguyện này. Hơn thế nữa, toàn
thể cộng đồng Phật giáo thuộc những trung tâm này nên
tham dự vào các công tác phụng sự xã hội bằng cách giúp
đỡ kẻ khác, và điều này tôi nghỉ sẽ phải là những
hoạt động quan trọng của tất cả các trung tâm.
Vấn
đề ăn chay cũng không phải là điều hoàn toàn bắt buộc
đối với người Phật tử. Nó chỉ quan trọng đối với
những ai trong chúng ta đang tu tập theo giáo lý Ðại Thừa.
Tuy nhiên những giáo lý của Ðức Thế Tôn rất là cởi mở
và uyển chuyển đối với vấn đề này, và mỗi hành giả
đều có quyền chọn lựa ăn chay hay không. Tuy nhiên nếu thỉnh
thoảng có những lễ lạc lớn, những ngày hội, những buổi
thuyết giảng giáo lý quy tụ đông người tại các trung tâm
hoằng Pháp, tôi nghĩ rằng một điều rất quan trọng là chúng
ta chỉ nên phục vụ thức ăn chay trong suốt các buổi gặp
gỡ như thế.
Ðiểm
thứ bảy: Chúng ta cũng thường hay nguyện cầu, “Xin cầu
nguyện cho Phật Pháp được truyền bá khắp nơi.“ Nếu Tây
Tạng dành lại được tự do, điều này chắc chắn sẽ giúp
ích rất lớn cho việc bảo tồn những giáo lý uyên áo, thậm
sâu của Ðức Bổn Sư, trong đó kể cả các tông phái Tiểu
Thừa, Ðại Thừa cũng như Mật Tông. Thế cho nên mối liên
hệ giữa việc giải phóng Tây Tạng và việc bảo tồn giáo
lý của Ðức Phật trên thế giới này là một điều khá
hiển nhiên. Ngược lại nếu vấn đề cốt lõi của việc
giải phóng Tây Tạng chỉ thuần túy là một vấn đề chính
trị, thì với tư cách là một tăng sĩ, một đệ tử của
truyền thống Phật đà, tôi không có lý do gì để phải
quan tâm đến chuyện này. Thế nhưng như mọi người đều
thấy, cả hai phạm trù này đều quan hệ rất mật thiết
với nhau.
Ngay
cả khi tôi cổ xúy cho việc giải giới Tây Tạng, biến quốc
gia này thành một vùng đất hòa bình, cho dù danh từ
“giải giới” không phải là một danh từ có trong Phật
Pháp, thế nhưng dự án này đã rất liên quan gần gũi với
Chánh Pháp. Ða số các bạn ở đây, những đại diện và
thành viên của các trung tâm khác nhau, đều là những người
đã góp phần rất lớn vào công cuộc đấu tranh cho chính
nghĩa tự do của Tây Tạng. Tôi xin chân thành cảm ơn các
bạn và mong mỏi các bạn hãy tiếp tục theo đuổi những
nỗ lực này, hãy luôn tâm niệm đến mối tương quan giữa
việc bảo tồn giáo pháp và nền tự do của Tây Tạng, đó
cũng là cách thức thực hành hạnh nguyện bảo tồn và phát
huy Phật Pháp.
Ðiểm
cuối cùng - các bạn nên giữ cho tâm hồn mình luôn vui vẻ
và phải biết mĩm cười!