Giới thiệu
của người Biên Tập
Vào
một đêm tối tăm năm 1950 tôi phóng ra khỏi giường và chạy
đến cửa phòng cha mẹ tôi, khiếp hãi và nửa thức nửa
tỉnh. Lúc đó tôi mới năm tuổi, và hình ảnh sống động
của cơn ác mộng vẫn còn đậm nét. Thật quá thực : một
con rắn cuộn tròn trong giường tôi – và những lời làm
yên tâm của cha mẹ tôi rằng đó chỉ là một giấc mộng
đối với tôi chỉ là sự an ủi nho nhỏ.
Đây
là một trong những ký ức sớm nhất của tôi về giấc mộng.
Đó là một giấc mộng đã lập đi lập lại suốt thời thơ
ấu, thiếu niên và thậm chí đôi khi có cả bây giờ lúc
tôi đã vào tuổi trung niên. Một giấc mộng là gì ? Có một
ý nghĩa đặc biệt nào trong một giấc mộng thấy rắn cứ
lập đi lập lại ? Những con rắn có phải là những sứ giả
của tiềm thức, hay những kích thích tình dục thời nhỏ
của một đứa bé hay là một tiếp thông với một loại chúng
sanh gọi là naga (rồng) theo người Tây Tạng ? Có lẽ giấc
mộng chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cuộc đời
của người nằm mộng, và như thế có một ý nghĩa đặc
biệt cá nhân.
Chất
liệu nguyên mẫu, những lo lắng và quan tâm thuộc cá nhân,
báo trước tương lai, tiếp thông với những chiều kích khác
của những chúng sanh khác, theo những vị thầy trong sự làm
việc với giấc mộng, là mọi khả năng trong giấc mộng.
Tuy nhiên phải nói rằng ít người gặp loại kinh nghiệm giấc
mộng này. Đối với hầu hết, mộng chỉ là một xào nấu
lại những ấn tượng của ban ngày trong bối cảnh những
ước muốn, sợ hãi và nhân cách của người nằm mộng.
Vào
thập niên 1950, mặc dầu có một số ít triết gia và tư tưởng
gia hiện đại quan tâm trở lại việc mộng, nhưng hầu hết
người Mỹ, trong đó có tôi, ít thấy những giấc mộng có
ý nghĩa gì. Tình trạng lơ là này sớm thay đổi bởi những
biến động của những năm sáu mươi. Từ sự thử thách khắc
nghiệt của những khủng hoảng tập thể và cá nhân phát
xuất từ những bi kịch của thập niên, và đồng thời với
sự phổ biến của yoga và những hình thức thiền định khác,
sự ý thức về vấn đề giấc mộng bắt đầu tự khẳng
định trong nền văn hóa nói chung và trong bản thân tôi nói
riêng.
Những
ký ức về những giấc mộng của tôi từ thời niên thiếu
đến trường thì không gì hơn một bóng mờ. Hình ảnh sống
động và những hồi tưởng sắc bén của thời niên thiếu
nhạt tan vào những hình ảnh thoáng qua hay chẳng nhớ gì cả.
Nhưng trong năm 1978, kinh nghiệm và cái hiểu của tôi về tình
trạng giấc mộng biến đổi tận gốc. Tôi du lịch đến
Pháp để học với một lama nổi tiếng, Dudjom Rinpoche. Trong
những chủ đề ngài dạy có yoga giấc mộng. Rinpoche nói rõ
ràng về sự cần thiết nỗ lực tỉnh giác dù trong trạng
thái ngủ. Ngài so sánh trạng thái ngủ thông thường của
con người với giấc ngủ vô thức của một con vật. Ngài
tiếc cho sự hoang phí một cơ hội quý báu như vậy cho việc
tiến bộ của người ta. Tôi ra khỏi căn lều nơi những giáo
lý được hướng dẫn trong một trạng thái kỳ lạ. Mọi
thứ tôi thấy và nghe giống như giấc mộng, chắc chắn là
do sự truyền dạy đầy thần lực của vị lama vĩ đại.
Tri giác khác thường này kéo dài trọn ngày và đến tối,
khi tôi chuẩn bị đi ngủ.
Tôi
quyết định theo những giáo huấn của Rinpoche để khai triển
tỉnh giác và cầu nguyện sự trợ giúp của ngài. Đêm ấy
cũng khác thường. Tôi đi vào giấc ngủ, nhưng sớm trở nên
ý thức rằng tôi đang ngủ. Tôi ở trong một trạng thái tỉnh
thức sáng tỏ. Đó là kinh nghiệm ý thức đầu tiên của
tôi về giấc ngủ yoga và ánh sáng tự nhiên của tâm thức.
Do
những che ám của tâm thức của chính tôi, tôi không tiến
bộ nhiều trong sự thực hành yoga giấc mộng và thực hành
ánh sáng tự nhiên. Thật vậy, không chỉ đối với một kinh
nghiệm mà tôi đã có, chắc chắn tôi đã hạ thấp toàn bộ
chủ đề xuống lĩnh vực của những thành tích yoga vượt
trên khả năng của một người bình thường. Vài năm sau,
trong một cuộc nhập thất hai mươi mốt ngày, tôi có một
kinh nghiệm khác về sự nằm mộng yoga hứng thú và chuyển
hóa. Sau hai tuần, sự nhập thất của tôi đã sâu một cách
đáng kể. Mỗi đêm tôi theo lời dạy của Dudjom Rinpoche để
khai triển khả năng yoga giấc mộng. Sự thực hành thiền
định mãnh liệt kéo dài mười giờ một ngày, và tâm thức
tôi mạnh mẽ hơn. Tôi phấn chấn khi có thể nhớ lại đến
khoảng tám giấc mộng một đêm nọ.
Vào
cái đêm đặc biệt ấy, tôi thình lình cảm nghiệm rằng
tôi vừa ngủ vừa biết rằng mình đang mộng. Vào khoảnh
khắc của sự thể nghiệm, những màu sắc của cảnh mộng
trở nên sống động và mãnh liệt đến sửng sốt. Tôi thấy
mình đứng trên một vách đá và nhìn bao quát một thung lũng
rộng rãi và đẹp đẽ. Tôi cảm thấy thư giãn và rung động,
và tôi tự nhớ đó chỉ là một giấc mộng.
Tôi
nhìn trùm cả quang cảnh đáng yêu trong một thời gian ngắn
và rồi quyết định đi tới một bước, vừa nghĩa đen vừa
nghĩa bóng. Nếu thật sự là một giấc mộng thì không có
lý do gì tôi không thể bay. Tôi lao vào không gian, nhưng thay
vì bay, tôi thấy giấc mộng chuyển hóa lần nữa. Vẫn minh
mẫn, sự tỉnh giác của tôi xuất hiện trên một cầu thang.
Thân thể tôi không còn nữa trong giấc mộng nhưng tôi tiến
lên những bậc thang. Tôi đã bước một bước và đang bước
một bước khác thì giấc mộng lại thay đổi. Lúc này chỉ
tối đen mà không có hình ảnh nào cả. Tôi cưỡng chống
lại sự thúc đẩy mở mắt ra. Thật ra, tôi không xác định
làm cái gì, nhưng tôi muốn cảnh trở lại và rồi thình lình
tôi lại ở trên cầu thang. Sự trở lại cảnh cầu thang này
chỉ kéo dài một thoáng chốc và rồi tôi thức dậy.
Toàn
thể kinh nghiệm là hấp dẫn. Tôi còn xem nó là một trong
những kinh nghiệm ý nghĩa nhất cuộc đời tôi. Vị lama trông
coi cuộc nhập thất ví kinh nghiệm của tôi như trải qua một
cuộc thi học lái xe. Sau đó, tôi đã có nhiều kinh nghiệm
minh bạch trong giấc mộng. Tôi không nói rằng chúng xảy ra
mỗi đêm, nhưng chúng xảy ra thường. Sự thường xuyên của
chúng tăng lên trong những thời kỳ tôi thực hành thiền định
mạnh mẽ, như khi nhập thất. Cũng như nếu tôi thức và thực
hành thiền định suốt đêm, tôi thấy rằng tôi thường có
những giấc mộng minh bạch khi trở lại ngủ.
Với
thời gian, tôi cũng có những giấc mộng bản chất tâm linh.
Chẳng hạn, có lần khi đang nhập thất tôi nằm mơ thấy
người yêu của tôi. Dù tôi không rõ ràng trong giấc mộng,
nhưng tôi nhớ lại rõ. Hình ảnh của cô xuất hiện. Cô sáng
rỡ nhưng đang nức nở. Tôi đã có dự định gặp cô ở
trạm ga ngoại ô New York ngày hôm sau. Để thử lại kinh nghiệm
giấc mộng của mình, tôi nói với cô rằng tôi rất buồn
khi cô bị rối loạn trong đêm trước. Ánh mắt ngạc nhiên
của cô tức khắc cho tôi biết giấc mộng là chính xác. Cô
nói với tôi rằng cô đã bệnh và quả thật đã kêu khóc.
Như
tôi đã nói, có vẻ rõ ràng là những kinh nghiệm này tăng
lên khi tôi có cơ hội thực hành thiền định hay yoga giấc
mộng một cách mãnh liệt. Trong một thời gian như thế tôi
tham gia với Namkhai Norbu Rinpoche cho một cuộc hội thảo ở
Washington, D.C. Ngài đã đi với một trong những học trò lớn
tuổi nhất và bà trở bệnh nặng. Trong giấc mộng của tôi,
tôi thấy mình với Namkhai Norbu Rinpoche. Ngài rất bận rộn
với cơn bệnh của người học trò. Tôi nói, “Rinpoche, bà
ấy đang chết.” Rinpoche trả lời, “Không, tôi đã điều
trị cho bà, và bà sẽ tốt hơn.” Ngày hôm sau có những tin
tức tốt bà đang bình phục, nhưng còn ngạc nhiên hơn là
sự tỉnh táo của ngài Norbu trong cuộc nói chuyện trong mộng
của chúng tôi trước khi tôi nói với ngài về chuyện đó.
Về sau tôi có những giấc mộng khác ngài Norbu nói chuyện
với tôi, và thỉnh thoảng tôi cũng đáp lại bằng những
lời khá thông minh. Ngài Norbu rất quan tâm đến những kinh
nghiệm này, và đôi khi hôm sau hỏi tôi có một giấc mơ thú
vị nào vào đêm trước hay không. Có lúc ngài hỏi tôi, và
nếu tôi chỉ nhớ mơ hồ, ngài nói, “Anh phải cố gắng
nhớ.”
Không
lâu sau đó tôi về thăm nhà cha mẹ. Họ đã sống ở đó
suốt cuộc đời tôi. Tôi ngủ trong cùng căn phòng nơi tôi
đã ngủ hồi nhỏ. Khi ngủ tôi có một giấc mơ rằng có
một con rắn trong phòng với tôi. Thay vì đe dọa tôi, nó có
vẻ muốn được nựng nịu như một vật cưng. Dù không hoàn
toàn tỉnh táo, tôi nhớ đã tự hỏi phải làm sao với con
rắn rõ ràng không được mời đến nhưng thân thiện này.
Sau khi thức dậy, tôi nghĩ về giấc mộng này và ý nghĩa
của nó khá lâu. Có lẽ tôi đã trở nên thích nghi với điều
xưa kia đã sợ. Tôi lại nhớ đến lời bình giảng của ngài
Norbu rằng với sự sáng tỏ tăng dần, những giấc mộng trở
thành một cái gì như hội nghị Liên Hiệp Quốc. Con rắn
trong giấc mộng có là một “đại diện” không ? Ngài Norbu
đã khẳng định có nhiều loại chúng sanh mà chúng ta có thể
giao tiếp trong trạng thái mộng.
Có
nhiều lý thuyết không thể tính xuể đã được phát triển
để giải thích về những kinh nghiệm chúng ta gọi là mộng.
Dù những lý thuyết ấy có thể khác nhau một cách căn bản
về nguồn gốc và ý nghĩa của những giấc mộng, có một
sự đồng ý phổ quát rằng nhiều giấc mộng là huyền bí,
có năng lực và sáng tạo.
Giấc
mộng đã giữ một vị trí chủ đạo trong nhiều xã hội.
Trong nhiều nền văn hóa, sự quan trọng của giấc mộng được
chấp nhận, và khả năng nhớ lại hay thậm chí thay đổi
một cách có ý thức một giấc mộng được ủng hộ. Những
giấc mộng được nói đến một cách nổi bật – đôi khi
chủ chốt – trong các tôn giáo, tham dự vào sự săn đuổi,
khơi gợi những khuôn mẫu linh thiêng cho nghệ thuật và mỹ
thuật, và cung cấp hướng dẫn trong lúc chiến tranh, khủng
hoảng hay bệnh tật. Người mộng của một “giấc mộng
lớn” thường nhằm vào một thầy tế lễ nam hay nữ, một
danh hiệu có được nhờ chư thiên, thần ban phước.
Những
người Ai Cập và những truyền thống khác đã giải thích
có hệ thống những giấc mộng với mục đích giải mã những
thông điệp từ thiên thần. Thầy tế lễ Ai Cập được gọi
là “những vị thầy của những điều bí mật”, những
người trung gian. Với sự phát minh chữ viết, kiến thức
về giải thích giấc mộng được ghi chép lại. Một cuốn
sách cổ thời về giải thích giấc mộng, viết bằng tiếng
Ai Cập khoảng hai ngàn năm trước công nguyên trên giấy cói.
Trong
nhiều nền văn hóa, những người nằm mộng chuẩn bị nhận
một giấc mộng quan trọng hay chữa trị tham dự những nghi
lễ tỉ mỉ. Những nghi lễ này, phổ biến vào thời xưa được
ghi thành tài liệu trong những xã hội Mỹ Bản Địa cũng
như ở Á châu và Babylon, Hy Lạp, La Mã. Những buổi lễ cầu
gọi hay “ấp trứng” tiến hành bởi những người đã nhập
môn có tu tập, và thường xảy ra ở những ngôi đền đặc
biệt, xây dựng trên những cảnh quan thiêng liêng, quan trọng
và đẹp đẽ.
Sau
khi dâng cúng những lễ vật cho các thần linh hay một hy sinh
để tẩy tịnh, người cầu mộng đôi khi uống những chất
thuốc để làm mạnh thêm kinh nghiệm. Dựa vào mỗi nền văn
hóa, thành tố cho những món thuốc này có thể gồm một số
chất kích thích thần kinh.(1) Những địa điểm thiêng liêng
thường được chọn nhờ địa lý phong thủy hay nhờ một
sự phát hiện tâm linh của một thầy tế lễ. Quang cảnh
của những ngôi đền này đặc biệt quan trọng đối với
người Hy Lạp cổ, chẳng hạn họ tin rằng những thần linh
âm phủ(2) cư trú những nơi chốn đặc biệt đó.
Mọi
khía cạnh của những ngôi đền được thiết kế để làm
sinh động và nâng cao những công việc của tâm vô thức cũng
như cho những hồn linh. Ví dụ, sự thờ thần tiên tri Aesclepius(3)
được biểu tượng bằng con rắn, và những người cầu mộng
thường ngủ ở một chỗ nơi rắn di chuyển hầu như tự
do. Sau những nghi lễ chi tiết, Aesclepius thường xuất hiện
với người mộng như một người có bộ râu hay như một
con vật, và trong nhiều trường hợp cá nhân ấy thức dậy
được chữa khỏi. Vào lúc cao điểm của sự phổ biến,
những trung tâm Aesclepius để “ấp” giấc mộng này có đến
hàng trăm.
Những
trường hợp chữa lành qua những nghi lễ như thế cũng có
rộng rãi trong những nền văn hóa thầy pháp đương thời.(4)
Chẳng hạn, Richard Grossinger, tác giả nhiều cuốn sách về
dân tộc học giấc mộng, kể ra những nguồn gốc Mỹ Bản
Địa giữa những bộ lạc Quạ, Chân Đen, Kwakiutl và Winnebago
kể lại những giấc mộng trong đó một con vật hay chim, như
một con rắn hay một con chim lặn nước, xuất hiện và dạy
cách chữa khỏi mà áp dụng trong đời sống khi thức tỏ
ra có năng lực chữa lành.
Những
giấc mộng cũng gợi hứng cho những tiến bộ khoa học quan
trọng. Có lẽ chuyện nổi tiếng nhất trong các sự việc
này là khám phá cơ cấu phân tử của benzen bởi Kekule. Ông
thuật lại :
Tâm
trí tôi ở đâu đâu... Tôi xoay cái ghế lại phía lò sưởi,
và thiếp ngủ. Những nguyên tử lại nhảy nhót trước mắt
tôi. Những nhóm nhỏ hơn hầu hết ở dưới nền. Con mắt
của tâm trí tôi, đã tập luyện quen với những sự nhìn
thấy thuộc loại này, bây giờ phân biệt được những cấu
trúc lớn hơn của những hình thể khác nhau. Những chuỗi
dài... mọi sự đều chuyển động, xoắn và quay như những
con rắn. Và hãy nhìn cái gì kìa ? Một con rắn ngoạm lấy
đuôi nó, và như chế giễu hình thể quay tít trước mắt
tôi. Tôi thức dậy như bị sét đánh ; lúc đó tôi lại dùng
phần còn lại của đêm để tính ra những kết quả của
nó.
Nhà
hóa học Nga Mendelev khám phá phương pháp bản chu kỳ sắp
đặt những nguyên tố theo trọng lượng nguyên tử khi đang
ngủ mộng. Elias Howe hoàn thành phát minh máy bay của mình khi
đang ngủ mộng. Lý thuyết tương đối của Albert Einstein đến
với ông một phần trong giấc mộng. Những sáng tạo khác
do giấc mộng gợi hứng bao gồm những tác phẩm văn chương
như Hài Kịch Thiêng Liêng của Dante, Candide của Voltaire, Con
Quạ của Poe và Ulysses của James Joyce. Robert Louis Stevenson có
thể tạo hình những câu chuyện khi mộng, sau đó ông viết
ra và xuất bản. Thậm chí những bản nhạc phổ thông của
Billy Joel và Paul McCartney cũng đến trong những giấc mộng.
Mặc
dù những giấc mộng lạ thường như vậy, xã hội của chúng
ta như một toàn thể đã mất đi tiếp xúc với nghệ thuật
mộng. Tuy nhiên, gần đây một sự quan tâm thích thú rộng
lớn với năng lực sáng tạo của những giấc mộng đã nổi
lên, khởi từ những phương pháp để rèn luyện khác nhau,
gồm khoa học, tâm lý học chiều sâu của Tây phương, sự
ý thức tăng dần về các văn hóa bản địa, và tôn giáo.
KHOA
HỌC VÀ HIỆN TƯỢNG MỘNG
Sự
diễn tả khoa học hiện đại về hiện tượng mộng theo sau
những khám phá vào năm 1952 của Kleitman và các học trò rằng
mộng đi đôi với chuyển động nhanh của mắt. Những sự
kiện khác về giấc mộng đã được phát hiện nhờ những
thí nghiệm gần đây. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng mọi
người đều mộng và khoảng hai mươi lăm phần trăm giấc
ngủ là thời gian mộng. Những giấc mộng là trọng yếu cho
sức khỏe của tâm trí, mộng là một hoạt động của óc
não và mọi giấc mộng đều kèm theo những chuyển động
nhanh của mắt. Giấc ngủ có bốn giai đoạn hay bốn độ
sâu, nhưng mộng chỉ xảy ra trong giai đoạn đầu tiên. Chúng
ta cũng biết rằng chúng ta trải qua bốn giai đoạn của giấc
ngủ vài lần trong một đêm, và như vậy chúng ta thường
mộng nhiều lần trong một đêm. Đã quan sát được nếu một
người không có thời gian mộng sẽ tạo ra nó trong những
đêm sau. Một số phần trăm lớn hơn của giấc ngủ được
dùng để mộng khi gần đến bình minh.
Chúng
ta hãy tập trung vào hiện tượng những giấc mộng minh bạch,
trong những giấc mộng khác thường này người nằm mộng
thấy mình đột nhiên tự biết một cách có ý thức hay “sáng
tỏ, minh bạch” khi đang mộng. Thường thì ít được để
ý nhưng bây giờ đã được kiểm chứng một cách khoa học,
những tường thuật giấc mộng minh bạch đã hiện hữu trong
văn học hàng ngàn năm năm nay. Chẳng hạn, Aristotle nhận xét
như sau : “... bởi vì thường trong giấc ngủ có một cái
gì đó trong ý thức nói rằng cái đang tự trình diện chỉ
là một giấc mộng.”(5)
Những
năm 1900 một nhà phân tâm học người Hà Lan tên là Van Eeden
nghiên cứu hiện tượng này một cách có hệ thống và đã
ấn định từ ngữ “giấc mộng minh bạch” để diễn tả
nó. Trước ông, Hầu tước Hervey de Saint Denys đã nghiên cứu
hiện tượng giấc mộng và xuất bản những tìm tòi của
ông năm 1867 trong cuốn sách Những Giấc Mộng Và Làm Thế
Nào Hướng Dẫn Chúng. Trong sách này, Saint Denys diễn tả khả
năng thức tỉnh trong những giấc mộng của ông cũng như điều
khiển chúng.
Steven
Laberge, một nhà nghiên cứu hiện đại hiện tượng giấc
mộng, phát triển một phương pháp luận dùng những chuyển
động nhanh của mắt (R.E.M.) kèm theo giấc mộng để tập
luyện sự minh bạch.(6) Trong một nghiên cứu, những đối
tượng thí nghiệm được cho nghe máy thu âm lập lại câu
“đây là một giấc mộng” mỗi vài giây. Câu này được
mở sau khi mỗi chu kỳ R.E.M. bắt đầu. Rồi ông yêu cầu
những đối tượng ghi nhận sự minh bạch của họ bằng cách
chuyển động mắt theo một tiêu chuẩn sắp sẵn. Khoảng hai
mươi phần trăm đối tượng có thể thành tựu sự minh bạch
trong trạng thái mộng của họ nhờ kỹ thuật này. Mới hơn
Laberge đã phát minh một dụng cụ “ánh sáng giấc mộng”
để đeo trên mặt như một chiếc mặt nạ và nhận ra những
chuyển động nhanh của mắt đi cùng với việc mộng. Những
chuyển động nhanh của mắt gây ra một ánh sáng cường độ
nhẹ chớp tắt có thể báo cho người mộng là anh ta đang
mộng.
Báo
cáo sau đây của một người tham dự trong một hội thảo
về tỉnh giác trong mộng, có thể minh họa hiện tượng tỉnh
thức hay minh bạch trong một giấc mộng :
Sáng
thứ tư, 13 tháng Giêng năm 1988, tôi trở nên ý thức rằng
tôi đang mộng ; và tôi quyết định rằng việc tốt nhất
là bay trong bầu trời. Tôi buộc mình vào một chiếc phản
lực và chúng tôi lên rất cao vào tầng bình lưu. Rồi tôi
có chuyến đi ngược lại mà tôi có thể treo vào đó để
nhìn thế giới. Tôi nhìn xuống và thấy trái đất như một
quả cầu lớn. Rồi tôi buông tay, sải đôi tay để lướt
tốt hơn. Tôi ở rất cao (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng) trong
bầu trời, để thấy sự bao la và vẻ đẹp của đại dương
nhìn từ trên cao.
Sau
một lúc, tôi lướt xuống thấp, rất chậm, thấy mình ở
trên một hòn đảo đẹp đẽ. Hòn đảo này gây cho tôi thích
thú. Trời bắt đầu sáng, ánh sáng yên tĩnh cho phép nhìn
thấy những cột buồm của những chiếc thuyền đậu ở hải
cảng. Vượt khỏi những cột buồm và boong tàu màu trắng
là những núi đồi bao quanh với những ngôi nhà trên đó.
Một cảnh tượng đẹp đẽ và hùng vĩ, những con tàu và
núi trong buổi sáng trong trẻo. Nó gợi nhớ một sự hỗn
hợp của hai nơi tôi đã từng thấy trước đó. Ở Paxos,
Hy Lạp có đậu nhiều thuyền, và Martin City, Cali-fornia, có
những nhà xây trên đồi. Tôi tiếp tục nhìn quang cảnh này
trước khi tôi rơi vào một loại mộng tổng quát hơn, trong
đó tôi không kiểm soát được cái thấy hay xác định được
điều tôi muốn làm.
Báo
cáo này là điển hình cho những giấc mộng thấy mình bay.
Trong một số trường hợp người nằm mộng trước tiên thấy
mình đang bay, và rồi trở nên minh bạch và sau đó cố gắng
bay. Kiểu mẫu chung khác mà người nằm mơ chia sẻ với những
người nằm mơ minh bạch là cảm giác màu sắc và xúc cảm,
cảm giác tham dự vào một kinh nghiệm đáng sợ và tráng lệ.
Tuy
nhiên không phải mọi giấc mộng minh bạch đều rộng rãi,
chan hòa. Kenneth Kelzer, một tác giả và một người có giấc
mộng minh bạch, bình luận về chủ đề dai dẳng thấy mình
ở trong một nhà tù trong một loạt những giấc mộng minh
bạch ông đã có. “Biểu tượng phòng nhà tù trong ba giấc
mộng này cho tôi một nhắc nhở căn bản rằng tôi còn là
một người tù, còn làm việc để đạt được sự tròn vẹn
của tự do tâm thức mà tôi nguyện ước.”(7)
NHỮNG
GIẤC MỘNG VÀ TÂM LÝ HỌC CHIỀU SÂU
Trong
thế kỷ này, sự bành trướng say sưa của kỹ thuật học
kỹ nghệ xảy ra với giá rất đắt. Với những lý do phức
tạp nó giúp cho sự phát sanh những cuộc thế chiến. Sự
hủy hoại và mất mát lớn lao đời sống dẫn đến một
câu hỏi về những giá trị – đặc biệt những giá trị
tôn giáo và đạo đức. Chống lại bóng ma tận thế, sự
tuyệt vọng của cái vô nghĩa, và những đổ nát thấy được
của lễ nghi tôn giáo Tây phương, những tư tưởng gia đương
thời tìm cách hiểu những công việc của tinh thần bằng
cách nghiên cứu những hiện tượng ý thức như trí tưởng
tượng và giấc mộng – như thế đã khai triển sự tiếp
cận của tâm lý học chiều sâu. Thâm nhập và phát triển
thức giác về những tiến trình vô thức được xem là có
giá trị để chữa lành cho một tâm hồn rã rời, rối loạn.
Sigmund
Freud, người xây dựng tâm lý học hiện đại của Tây phương,
gọi sự làm việc với giấc mộng là “con đường huy hoàng
vương giả đến vô thức”, và ông đã giúp cho sự đánh
thức mối quan tâm vào giấc mộng. Tác phẩm có ảnh hưởng
sâu xa về sau của ông, Sự Giải Thích Những Giấc Mộng,
trình bày một đường lối căn bản từ lý thuyết phân tâm
học Tây phương trước đó. Freud khẳng định rằng những
giấc mộng là những đại diện tượng trưng của những ước
muốn bị dồn nén, hầu hết thuộc về tính dục. Qua tiến
trình “hoàn thành ước muốn”, người nằm mộng giải phóng
sự “kích thích” của sự thôi thúc. Ông nghĩ giấc mộng
được tổ chức một cách điển hình theo một đường lối
ngụy trang hay tượng trưng bởi vì những ước muốn hoặc
thôi thúc này là không thể chấp nhận trong xã hội.
Nhận
xét rằng một giấc mơ đơn giản tiêu biểu một tổng số
chất liệu cá nhân, Freud giả thiết rằng mỗi đặc tính
hay yếu tố của giấc mộng là một biểu tượng cô đọng.
Mê cung của ý nghĩa có thể được tháo gỡ qua một tiến
trình liên hệ tự do. Những kỹ thuật liệt kê mọi liên
hệ với một giấc mộng tiếp tục được sử dụng rộng
rãi trong các nhà phân tâm học hiện thời. Ít được biết
là sự loan báo của Freud về sự hiện hữu của thần giao
cách cảm trong trạng thái mộng. Điều này được xuất bản
trong những bài thuyết trình về phân tâm học của ông vào
năm 1916.
Carl
Jung có lẽ là nhà tâm lý học Tây phương đầu tiên thích
thú với Phật giáo(8) và tôn giáo Đông phương. Jung, một
học trò thân cận của Freud, về sau đi lối khác với thầy
mình. Jung giải thích rằng ông không thể chấp nhận sự nhấn
mạnh thái quá của Freud vào gốc rễ tình dục đối với
mọi dồn nén, cũng như với những quan điểm chật hẹp, chống
lại tôn giáo của Freud. Jung xem libido là một năng lực tâm
lý vũ trụ trong khi với Freud đó chỉ đơn giản là năng lực
dục tình.(9)
Jung
cũng giả thiết sự hiện hữu của một trí nhớ sâu xa, bao
trùm những tính cách văn hóa có thể thâm nhập được nhờ
những giấc mộng đầy năng lực. Ông đặt tên cho trí nhớ
này là “vô thức tập thể” và xem nó là một nơi chứa
phong phú và đầy năng lực trí nhớ tập thể của loài người.
Jung
công nhận rằng những giấc mộng thường bù trừ cho sự
mất quân bình của người nằm mộng trong đời sống thức
của người đó và đem cái vô thức ra ý thức. Ông nhận
xét rằng những cá nhân vận hành với một vài kiểu đặc
trưng, chẳng hạn với cảm nhận hay trí năng, và trong một
cách hướng nội hay hướng ngoại. Nếu một người chủ yếu
là trí năng và mặt cảm nhận bị đè nén hay vô thức, những
cảm nhận sẽ biểu lộ thường hơn trong đời sống giấc
mộng của người đó. Một người thuộc loại cảm nhận,
ngược lại, sẽ có những giấc mộng trí năng để bù trừ
cho lý trí.
Fritz
Perls, người sáng lập trường phái tâm lý học Gestalt, tuyên
bố những giấc mộng là “con đường vương giả đến sự
hội nhập”. Đối với Perls, mộng và tỉnh giác về mộng
là thiết yếu để đi vào sự quân bình và sở hữu được
mọi phần của nhân cách của mình. Ông đặt nền sự làm
việc với giấc mộng trên giả thiết rằng mọi mặt của
một giấc mộng nên được xem như những phóng chiếu của
những phần hay những nhân cách của người mộng. Sự đóng
góp của Perls vào sự làm việc với giấc mộng và trị liệu
là ý thức sắc sảo của ông rằng vận hành thần kinh được
gây ra bởi những phần không sở hữu được của chính mình.
Ông gợi ý rằng chúng ta không sở hữu hay tha hóa chính mình
bởi sự phóng chiếu và/hay dồn nén. Chúng ta có thể đòi
lại những phương diện không được biết này của những
nhân cách của chúng ta bằng cách làm hiện hành hay cường
điệu những phần của một giấc mộng. Qua tiến trình này
chúng ta nhận biết đầy đủ hơn những thái độ, những
sợ hãi, ước muốn của chính chúng ta, như thế cho phép tiến
trình cá nhân hóa và trưởng thành không bị cản trở.
Thí
dụ gây ấn tượng sau đây về sự hiện hành của một phần
giấc mộng theo kiểu chữa trị Gestalt sẽ minh họa kỹ thuật
của Perls về làm việc với giấc mộng. Người phụ nữ kể
lại một giấc mộng trong đó một bình xịt nhỏ là một
trong nhiều món để trên bàn trang điểm, và bà lần lượt
cường điệu hóa các món khác nhau. Khi đến cái bình xịt,
bà kêu lên, “Tôi bị một áp lực lớn lao. Tôi cảm thấy
mình sắp nổ tung.” Sự hiện hành của giấc mộng này cung
cấp một phản hồi nhanh chóng và rõ ràng về một vấn đề
không giải quyết được của cuộc đời bà.
Một
trường phái khác của tâm lý học hiện thời xem trọng kinh
nghiệm giấc mộng được Medard Boss đại diện. Boss xem giấc
mộng là một thực tại cần được hiểu như một giai đoạn
tiểu sử. Trong tiến trình hiểu những giấc mộng của người
ta, Boss khuyến khích người mộng kinh nghiệm thực sự và
ở trong khoảnh khắc độc nhất ấy.
Không
phải tất cả nhà tâm lý học đều công nhận tiềm năng
to lớn của sự làm việc với giấc mộng ở một mức độ
cao cấp. Chẳng hạn, trong trường phái hiện tượng luận
do Bross và Keny chủ xướng, những giấc mộng được xem là
tạo lập một “cái nhìn mờ ảo và chật hẹp về thế giới”,
và là “cá nhân, thiếu kém và hạn hẹp so với trạng thái
thức”. Trường phái những liên hệ đối tượng như Fairbairin
tiêu biểu xem những giấc mộng là những hiện tượng loạn
tinh thần, nồi thập cẩm của những lo lắng, ước muốn
và thái độ.
Một
số lý thuyết khoa học hiện thời cũng đi xa hơn trong việc
phủ nhận nguyên lý tổ chức ý nghĩa trong trạng thái mộng.
J. Allen Hobson của Trường Y khoa Harvard đề nghị trong cuốn
sách Trí Óc Mộng một “bộ phận phát sanh trạng thái mộng”
nằm trong cuống não. Bộ phận phát sanh khi làm hoạt động
nhưng nơ-ron “lửa” một cách ngẫu nhiên và bộ não tìm
cách làm cho những dấu hiệu yếu ớt đó có ý nghĩa bằng
cách tổ chức chúng thành câu chuyện mộng. Những người
khác đã đề nghị những giải thích mang tính cơ học tương
tự về những hiện tượng mộng. Crick và Mitchison gợi ý
rằng những giấc mộng xảy ra để trừ bỏ thông tin vô ích.
Những nối kết không quan trọng và tạm thời được đem
vào như vậy được thải bỏ và quên đi.
Những
lý thuyết kế tiếp của Sagan và những người khác cố gắng
giải thích những hành vi sáng tạo nổi tiếng nhất sanh trong
trạng thái mộng đã đề nghị rằng những giấc mộng như
vậy phát sanh từ hoạt động không bị ngăn cấm của não
phải. Theo lý thuyết này, não trái thường thống trị vào
ban ngày, sẽ bị dồn nén khi những giấc mộng hoạt động.
Kết quả là, não phải ít bị ngăn cấm và trở nên trực
giác và sáng tạo một cách kỳ diệu. Lý thuyết này giải
thích chẳng hạn sự khám phá của Kekule về phân tử benzen
như một thí dụ của sự khéo léo của não phải chủ yếu
về nhận biết ngược với hoạt động phân tích hơn của
não trái. Lý thuyết này, dù thú vị, cũng không giải thích
được mọi loại thần giao cách cảm và những giấc mộng
sáng tạo.
John
Grant, một chuyên gia về nghiên cứu giấc mộng, mới đây
đã có những cố gắng đáng kể cho những giải thích đối
với sự thần giao cách cảm trong mộng. Kết luận của ông
sau nhiều cố gắng vạch trần những đòi hỏi cảm xúc là
chỉ có chín mươi lăm phần trăm thần giao cách cảm trong
mộng và những giấc mộng báo trước tương lai có thể giải
thích được theo những định luật và khoa học đã biết.
Sự thống kê của riêng ông và sự bất lực trong việc giải
thích năm phần trăm những giấc mộng khác thường kia tham
dự vào tương lai thì rất trùng hợp với lý thuyết hiện
tượng mộng của Norbu Rinpoche. Lý thuyết này công nhận vừa
cả những giấc mộng thông thường mà nguồn gốc là những
ước muốn và những lo âu của chúng ta, cũng như cả những
giấc mộng loại sáng tỏ và sáng tạo sanh khởi từ tỉnh
giác.
Nhiều
cách tiếp cận khoa học và phân tích còn tranh cãi rằng nội
dung của tất cả các giấc mộng chỉ là hỗn loạn hay tượng
trưng và gồm một thùng hổ lốn những lo âu, ước muốn
và thái độ. Kết quả là những người làm việc với giấc
mộng hiện thời ở Tây phương nói chung không nhận biết
hay hiểu những khả năng của sự làm việc với giấc mộng
có trong những xã hội truyền thống. Khi tâm lý học chiều
sâu của Tây phương làm việc với giấc mộng như một lối
tiếp cận với sức khỏe tinh thần của cá nhân, sự hiểu
biết của nó về những khả năng làm việc với giấc mộng
bằng sự cải thiện, là còn hạn chế. Những khả năng khác
và sự cần thiết xác định những ưu tiên xuất hiện khi
chúng ta thám hiểm những hệ thống làm việc với giấc mộng
trong những nền văn hóa khác.
LÀM
VIỆC VỚI GIẤC MỘNG
TRONG
NHỮNG NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Những
hệ thống cho sự làm việc với giấc mộng và tỉnh giác
trong mộng được tìm thấy hàng nghìn năm trước trong Phật
giáo, Lão giáo, Ấn Độ giáo, Su-fi giáo, và những văn hóa
truyền thống trên khắp thế giới.(10) Những hệ thống làm
việc với giấc mộng này đã và thường vẫn còn được
che phủ trong màn bí mật và chỉ dành cho người nhập môn.
Những kinh nghiệm mộng được kể lại của những người
dân có truyền thống mà văn hóa của họ tương đối còn
nguyên vẹn có thể mở rộng tầm hiểu của chúng ta về những
khả năng của sự làm việc với giấc mộng và tỉnh giác
trong mộng, gồm những hiện tượng minh bạch, thần giao cách
cảm, và những giấc mộng báo trước.
Những
Thổ Dân Úc tin vào sự hiện hữu của tổ tiên, họ có năng
lực hơn người còn sống, và được xem là có thân thể khác
với người như tảng đá, gốc cây hay một hòn đảo. Theo
những tác giả của một cuốn sách tổng hợp về văn hóa
Thổ Dân, Mộng, Nghệ Thuật của Úc Châu Thổ Dân biên tập
bởi Peter Sutton, chiều kích tâm linh trong đó những sinh thể
này hiện hữu được diễn tả là “Thời gian mộng”. Những
tổ tiên, được biết như “những Người mộng”, có thể
tiếp xúc nhờ giấc mộng. Điều này nhấn mạnh niềm tin
của người Thổ Dân vào nhiều loại sinh thể và những chiều
kích chuyển tiếp trong đó những loại sinh thể này cư ngụ.
Đáng
ghi nhận là những niềm tin Thổ Dân về những bản văn, nghệ
thuật và những bài ca, chúng đến từ những giấc mộng.
Một bài ca, câu chuyện, bức vẽ hay các sáng tác phẩm khác
được nhận trong một giấc mộng như là sản phẩm của sự
sáng tạo nguyên gốc từ một tổ tiên. Những tặng vật nghệ
thuật này được xem là truyền dẫn theo kênh hơn là những
sáng tạo của con người. Trong bộ lạc người mộng được
tôn kính như một kênh dẫn qua đó minh triết của tổ tiên
được truyền đạt, chứ không phải người phát sanh ra minh
triết đó. Theo những huyền thoại và những chuyện kể về
giấc mộng của người dân Bản Địa, những sản phẩm nghệ
thuật đã đến trong những giấc mộng từ thời xa xưa và
tiếp tục làm phong phú văn hóa Thổ Dân ngày nay.
Dân
Senoi mà ngày nay gọi là Malaysia cho chúng ta một thí dụ về
một chủng tộc truyền thống đặt cho sự làm việc với
giấc mộng sáng tạo một giá trị cao khác thường. Patricia
Garfield trong cuốn sách Mộng Sáng Tạo của bà trình bày những
kỹ thuật mộng của người Senoi theo nhà nhân chủng học
Kilton Stewart. Theo Stewart, người Senoi chú tâm khác thường
vào công việc mộng và phát triển những phương pháp khúc
chiết để ảnh hưởng và rút cảm hứng sáng tạo từ những
giấc mộng – nhờ sự tăng cường, tự gợi ý, và thảo
luận hàng ngày về những giấc mơ của họ. Bác sĩ Garfield
tóm tắt những mục đích then chốt của sự làm việc với
giấc mộng như sau : đối mặt và vượt qua nguy hiểm ở trong
một giấc mộng, và làm cho giấc mộng có một kết quả tích
cực hay sáng tạo. Những kết quả hòa nhập của công việc
này rất có thể là một nguyên nhân cho sự xảy ra sự rối
loạn trí óc. Tuy nhiên, những nhà nghiên cứu về sau không
đồng ý với lời tuyên bố của Stewart rằng xã hội Senoi
tiến gần đến một lý tưởng không tưởng.
Có
lẽ người Senoi có một động lực mạnh mẽ cho sự phát
triển kiểm soát giấc mộng bởi vì tầm quan trọng họ đặt
cho những khả năng này. Những nhà nghiên cứu hiện thời
tường trình rằng khả năng ảnh hưởng đến những giấc
mộng hướng đến những kết quả tích cực có vẻ có những
hiệu quả như tăng cường tự tin và tính sáng tạo.
Tiềm
năng sáng tạo của những giấc mộng được đánh giá cao
trong văn hóa truyền thống Tây Tạng. Trong Phật giáo Tây Tạng
có một loại giấc mộng được đặt tên là Milam Ter hay “kho
tàng mộng”. Những kho tàng này là những giáo pháp được
xem là sự sáng tạo của những bậc giác ngộ. Những giáo
pháp được che dấu hay cất kín một cách có chủ ý để
làm lợi lạc cho những thế hệ tương lai. Như một chứng
tỏ cho sự minh triết của chúng, những vị tạo ra những
kho tàng này thường tiên tri tên của người sẽ khám phá
ra chúng và thời gian khám phá.
Những
hệ thống Phật giáo và đạo Bon(11) về sự tu tập tỉnh
giác trong giấc mộng xuất hiện đã hàng ngàn năm, theo Norbu
Rinpoche và Lopon Tenzin Namdak.(12) Trong phỏng vấn trình bày trong
cuốn sách này, Namkhai Norbu Rinpoche bình luận rằng tu tập
tỉnh giác trong mộng được thảo luận rộng trong bản văn
rất cổ Mahamaya Tantra, tên tác giả không được biết đến.
Khenpo Palden Sherab, một học giả Phật giáo có tiếng, đồng
ý rằng những tantra là xưa cổ không thể nghĩ bàn. Theo Khenpo,
nhiều ngàn năm trước đức Phật Thích Ca Mâu Ni, những tantra
đã được các đức Phật thời quá khứ dạy cho cả loài
người và loài không phải người.
Chẳng
hạn, hãy xem kinh nghiệm mộng lạ thường Namkhai Norbu Rinpoche
đã có khi nhập thất ở Massa-chussetts mùa hè năm 1990. Đêm
này qua đêm khác một người đàn bà mà Rinpoche xem là một
dakini(13) xuất hiện trong giấc mộng của ngài và dạy ngài
một bộ phức tạp những điệu múa với những bước chân
rắc rối cho khoảng ba mươi sáu vũ công. Mỗi ngày Rinpoche
viết ra những bài học từ những giấc mộng của đêm trước.
Ngài cũng dạy một nhóm học trò của ngài điệu múa này,
nó đi kèm một bài ca đặc biệt để làm sâu thêm thiền
định. Bản thân giai điệu thì được nhận trong giấc mộng
khác vào những năm trước. Nghe trực tiếp chuyện kể về
những giấc mộng này, và đã tham dự vũ điệu tinh tế này,
tôi chỉ có thể nói rằng kinh nghiệm của Rinpoche thì sâu
xa vượt khỏi ngôn ngữ.
Vừa
sau sự nhập thất của Rinpoche, ngài được một vị thầy
Mỹ Bản Địa có tên là Sấm Sét đến thăm. Sấm Sét là
hậu duệ của một dòng lâu dài Y Học Mỹ Bản Địa gồm
những người chữa trị. Sau khi nghe những câu chuyện về
điệu múa của Rinpoche và xem những tấm ảnh khi chúng tôi
học nó, bà nhận xét rằng nó giống với Điệu Vũ Hồn Ma
của người Mỹ Bản Địa.
Những
giấc mộng Norbu Rinpoche kể lại sau đây có thể giúp minh
họa tiềm năng con người trong trạng thái mộng khi tỉnh giác
phát triển.
Năm
1959 tôi đã rời Tây Tạng đến Sikkim. Tình cảnh ở trong
Tây Tạng trở nên xấu đi nhanh chóng. Tôi càng lo âu cho những
người trong gia đình ở Tây Tạng. Nhiều người trong chúng
tôi cầu nguyện Tara xin giúp đỡ. Chính trong thời gian này
tôi có giấc mộng sau đây :
Tôi
đang đi bộ qua một vùng núi non. Tôi còn nhớ những cái cây
và hoa đẹp. Gần đường đi có những con thú hoang nhưng chúng
hiền từ với tôi. Tôi ý thức rằng tôi đang trên đường
đến chùa của Tara ở trên núi phía trước mặt. Tôi đến
một chỗ gần chùa, nơi có một miếng đất với nhiều cây
và hoa đỏ. Cũng có một cô gái trẻ khoảng mười một mười
hai tuổi.
Khi
cô gái trẻ thấy tôi, cô lập tức đưa cho tôi một bông
hoa đỏ, và hỏi tôi đi đâu. Tôi trả lời, “Tôi đến chùa
Tara để cầu nguyện cho Tây Tạng.” Cô nói, “Ông không
cần đến chùa, chỉ nói lời cầu nguyện này.” Rồi cô
lập lại nhiều lần cho tôi một lời cầu nguyện, bắt đầu
bằng, “Om Jetsumma...” Tôi bắt đầu đọc lời cầu nguyện
này, lập lại nó khi đang cầm bông hoa. Tôi lập lại nhiều
lần, rồi tôi thật sự tỉnh giấc khi nói lớn lời cầu
nguyện.
Vài
năm sau tôi có một giấc mộng liên quan đến việc này. Trong
giấc mộng, tôi lại thấy mình nơi miếng đất đánh dấu
sắp đến chùa của Tara. Cũng như giấc mơ trước, nhưng không
có cô gái trẻ. Tôi nhìn phía trước tôi, và có một ngôi
chùa trên đỉnh núi. Tôi tiếp tục hành trình cho đến khi
đến nơi. Đó là một ngôi chùa giản dị, không vẽ hay trang
hoàng đẹp đẽ. Nó hướng về hướng Tây.
Tôi
đi vào và nhận thấy trên vách có một bức vẽ mạn đà
la Shitro một trăm vị hóa thần hòa bình và hung nộ. Trên
giá sách có nhiều sách Tây Tạng, gồm Tanjur và Kanjur. Tôi
nhìn qua bộ sách và thấy một người Tây Tạng ở cửa. Ông
mặc giống một vị lama, nhưng không hoàn toàn giống. Ông
nói với tôi, “Anh có thấy Tara đang nói chưa ?”
Tôi
trả lời tôi chưa thấy Tara đang nói, nhưng tôi muốn thấy.
Người đàn ông dẫn tôi đến một phòng có những bức tượng.
Khi ông hướng về cánh cửa để đi ra, ông nói, “Tara đang
nói ở đây.” Tôi không thấy gì cả, nhưng rồi tôi nhận
thấy người đó nhìn lên một đỉnh cột trụ. Tôi trông
theo, và ở trên đỉnh cột trụ là một bức tượng Tara Lục.
Ngài được tượng trưng là một em bé khoảng bảy, tám tuổi.
Đó là một bức tượng đẹp, nhưng tôi không nghe tượng
nói, và sau đó tôi thức dậy.
Chương
tiếp theo trong câu chuyện này không phải là một giấc mộng.
Năm 1984 tôi đi lên phía Bắc Nepal hướng đến Tu Viện Tolu,
tôi nhận ra miếng đất trong giấc mộng, nơi cô gái đưa
tôi bông hoa và lời cầu nguyện. Tôi nhìn lên và có một
ngôi chùa. Khi tôi đến, mọi sự đúng như trong giấc mộng.
Tôi bước đến cột trụ và tìm kiếm “Tara đang nói”.
Bức tượng không có ở đó. Đó là chi tiết duy nhất khác
với giấc mộng. Không lâu sau đó, tôi nghe có một học trò
của tôi cúng dường chùa một tượng Tara Lục được đặt
trên đỉnh cột trụ như là một tưởng niệm. Nếu ngày nay
bạn du lịch đến chùa ấy bạn có thể thấy nó ở đó.
PHÁT
TRIỂN TỈNH GIÁC TRONG GIẤC MỘNG
Khả
năng phát triển tỉnh giác trong trạng thái mộng và có từ
đó những kinh nghiệm cảm ứng cũng như khả năng kiểm soát
giấc mộng được biên chép khá nhiều. Những thực hành phác
họa ở sau trong cuốn sách này làm cho có thể đưa đến việc
mộng ở mức độ cao cấp hơn.(14) Những so sánh xuyên qua
các nền văn hóa chỉ rõ sự hiện hữu của một loại kinh
nghiệm mộng đã thúc đẩy tiến bộ văn hóa và tôn giáo
nhân loại. Những giấc mộng này, mà Norbu Rinpoche ám chỉ
là những giấc mộng sáng tỏ, có vẻ khởi sanh từ sự tập
trung mãnh liệt tâm thức vào một vấn đề hay chủ đề đặc
biệt, cũng như qua thiền định và nghi lễ. Những kết quả
đáng kinh ngạc, sáng tạo hay siêu việt thường khởi lên
từ những giấc mộng đặc biệt này, một số trong đó có
thể được truyền theo kênh.
Trong
một hội thảo tỉnh giác trong giấc mộng tôi hướng dẫn
năm 1989, một người tham dự kể lại giấc mộng sau đây
: “Khi tôi là một đứa bé tôi thường có một giấc mộng
tái diễn : có một người già, lùn và xấu xí làm tôi sợ
hãi. Mỗi khi ông xuất hiện tôi bỏ chạy nhưng không biết
chạy đâu trong cơn ác mộng, hay muốn ngất khi bỏ trốn.
Cuối cùng trong một giấc mộng tôi trở nên rất bực mình
và quyết định không muốn bị đe dọa nữa. Tôi quay lại
phía ông ta và nói với ông ta rằng ông chỉ là một phần
của giấc mộng của tôi. Khi làm thế tôi không sợ ông ta
chút nào. Giấc mộng không bao giờ trở lại sau buổi đó.”
Thậm
chí những kinh nghiệm mộng tương đối thứ yếu của chính
tôi đôi khi có vẻ ủng hộ cho khả năng những giấc mộng
dự báo tương lai. Chẳng hạn, năm vừa rồi tôi tham dự một
buổi thể thao với hai người bạn. Tôi rất ấn tượng bởi
sân vận động đầy màu sắc. Đêm ấy tôi mơ thấy một
người chơi bóng chày. Hình của anh ta trên trang đầu một
tờ báo. Tôi cố gắng đọc và nhớ. Sáng hôm sau tôi tôi
chỉ còn nhớ tên Clark. Vừa thức dậy tôi đi tìm tờ New
York Times, như thói quen bình thường, và khám phá một tấm
ảnh của Will Clark, một đấu thủ bóng chày, trên trang đầu.
Có thể bạn biện luận rằng đó chỉ là trùng hợp ngẫu
nhiên. Nếu thế, bạn cũng biện luận như Aristotle đã làm
để chống lại Heraclitus, người tin vào giấc mộng báo trước.
Không kể gì giấc mộng của tôi về Will Clark có là tiên
tri hay không, bản thân tôi đi đến chỗ tin rằng trong loại
giấc mộng sáng tạo cấp cao hơn, có một phạm trù báo trước
tương lai.
Nếu
thực sự như vậy, điều ấy gợi ý rằng tương lai là đang
có theo một cách nào đó trong hiện tại. Trong Phật giáo Tây
Tạng, đạo Bon, và những truyền thống khác, những người
giác ngộ được xem là có khả năng thấy quá khứ, hiện
tại và tương lai.
Nếu
quả thực rõ ràng có một loại những giấc mộng cấp cao
hơn, những câu hỏi sẽ sanh ra về việc người ta có thể
khai triển khả năng của mình đối với chúng như thế nào
và có hay không những nguyên nhân (vượt khỏi khả năng tăng
thêm tính sáng tạo của chúng) để trau dồi khả năng này.
Theo truyền thống Dzogchen (Đại Toàn Thiện) của Tây Tạng,
chìa khóa để làm việc với những giấc mộng là sự khai
triển tỉnh giác lớn hơn trong trạng thái mộng. Đây là cấp
độ tỉnh giác phân biệt sự mộng bình thường so với quả
tối hậu của sự chứng ngộ toàn triệt với trạng thái
mộng. Norbu Rinpoche bàn luận sự khác biệt này trong chương
về sự thực hành ánh sáng tự nhiên.
Trong
một đêm, có khoảng tám giờ để ngủ, trong đó hai giờ
hay hơn nữa có thể được dùng để nằm mộng. Chúng ta có
thể nhớ lại những giấc mộng từ mỗi thời ấy không ?
Chúng ta nhớ những chi tiết rõ ràng ra sao ? Một cá nhân không
tỉnh giác với những giấc mộng của mình, không thể nhớ
nhiều, đã hy sinh phần lớn sự tỉnh giác của mình trong
cuộc đời. Người này bỏ lỡ cơ hội khám phá những chiều
sâu phong phú và màu mỡ của tâm linh cũng như phát triển
về tâm linh. Chúng ta hãy xem thông điệp của lời cầu nguyện
Phật giáo này :
Khi
trạng thái mộng ló dạng,
Chớ
nằm trong vô minh như một xác chết.
Hãy
đi vào cõi giới tự nhiên của tỉnh táo không dao động.
Hãy
nhận biết những giấc mộng của con và chuyển hóa ảo tưởng
thành quang minh.
Chớ
ngủ như một con vật.
Chớ
thực hành trộn lẫn ngủ và thực tại.
Không
nghi ngờ rằng những giấc mộng minh bạch và những kinh nghiệm
sáng tỏ là những cơ hội hấp dẫn ích lợi cho sự tự trọng,
hợp nhất của nhân cách và vượt khỏi sợ hãi. Cũng cần
thiết đặt những cơ hội xảy ra đó trong bối cảnh tìm
tòi sự chuyển hóa tâm linh hay giác ngộ. Chừng nào một nền
văn hóa như văn hóa của chúng ta có khuynh hướng đánh giá
kinh nghiệm chỉ cho kinh nghiệm, thì có mối nguy hiểm lầm
lẫn cho những cái cây là rừng.
Một
lama từ truyền thống Phật giáo Tây Tạng so sánh sự theo
đuổi kinh nghiệm giấc mộng minh bạch với những trò chơi
giải trí thuần túy, trừ phi kinh nghiệm sanh khởi như một
sản phẩm phụ của sự khai triển tính sáng tỏ thiền định
của một cá nhân qua thực hành Dzogchen ban đêm về ánh sáng
trắng hay yoga giấc mộng Mật thừa. Dù kinh nghiệm giấc mộng
minh bạch có vẻ có giá trị tương đối, từ viễn cảnh
Phật giáo sự ích lợi của nó là giới hạn trừ phi cá nhân
biết làm thế nào áp dụng tỉnh giác minh bạch trong những
trạng thái sau khi chết của Bardo Chonyid và Bardo Sipa.
Trong
phái Dzogchen, đã hàng ngàn năm quen thuộc với những kinh nghiệm
giấc mộng minh bạch cũng như những hiện tượng siêu tâm
lý như thần giao cách cảm và biết trước, có một khuyên
bảo vĩnh hằng từ thầy đến trò là người ta phải không
bám chấp vào kinh nghiệm. Điều này ngược với khuynh hướng
Tây phương cho kinh nghiệm là giá trị cho chính nó. Những
cách tiếp cận Tây phương cũng khuyến khích một phân tích
có hệ thống về nội dung của những giấc mộng, trong khi
những vị thầy Dzogchen khuyến khích người thực hành chớ
bám vào những hiện tượng giấc mộng.
Dù
những ích lợi tương đối từ sự khảo sát rộng rãi chủ
đề giấc mộng có vẻ rõ ràng, những ích lợi ấy chỉ đối
với người sơ học. Đối với người thực hành cao cấp,
bản thân tỉnh giác có giá trị tối hậu hơn kinh nghiệm
và nội dung, bất kể mang tính sáng tạo bao nhiêu. Những vị
thầy lớn đã thuật lại rằng những giấc mộng đã hoàn
toàn ngừng dứt khi tỉnh giác trở thành tuyệt đối, tất
cả được thay thế bằng sự sáng tỏ quang minh của một
bản tánh không thể diễn tả.
Sự
trình bày những kỹ thuật dành cho sự làm việc với giấc
mộng từ những truyền thống cổ xưa này là quan trọng bởi
vì những truyền thống cổ xưa ấy có nguy cơ biến mất.
Dù cho đã có nhiều cuốn sách viết về chủ đề tổng quát
những giấc mộng, vẫn chỉ có một số ít đặt sự làm
việc với giấc mộng vào một bối cảnh tâm linh. Những vị
thầy Phật giáo, đạo Bon và Lão giáo đã nói với tôi rằng
tình hình đó đã khiến họ có những quyết định dạy công
khai hơn.
Trong
một đường lối cá nhân, chương trình này nhằm để tập
trung sự chú ý vào năng lực và sự phong phú của việc duy
trì tỉnh giác suốt trong thời gian ngủ thường bị để mặc.
Dù hoàn cảnh chúng ta ra sao, nếu chúng ta trau dồi khả năng
này, chúng ta có được một viên ngọc như ý. Ở Tây phương
sự thăm dò khoa học về giấc ngủ và giấc mộng là hoàn
toàn mới, nhưng trong cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn,
khoa học bí ẩn của tỉnh giác trong mộng và sự thăm dò
đã được yêu chuộng từ hàng ngàn năm.
Những
nhà tâm lý học tiền phong của thế kỷ hai mươi đã bình
giảng về hiện tượng mộng. Sigmund Freud gọi những giấc
mộng là “con đường vương giả đến vô thức”, và Fritz
Perls gọi chúng là “con đường vương giả đến hợp nhất”.
Trong cách của chúng những xác nhận này có thể đúng, nhưng
chúng bị lu mờ bởi khả tính rằng tỉnh giác với những
giấc mộng là một con đường đến giác ngộ.
Tôi
biết ơn dịp may được phụ giúp vào sự biên chép những
kinh nghiệm giấc mộng phi thường và những giáo lý về trạng
thái mộng của vị thầy Dzogchen Namkhai Norbu Rinpoche.
Michael
Katz
New
York City
23
tháng Tư, 1991
CHÚ
THÍCH CHO LỜI GIỚI THIỆU
1.
Chất kích thích thần kinh ảnh hưởng tâm thức, đôi khi khởi
dẫn những cái nhìn thấy hay ảo giác. Được dùng bởi những
shaman (thầy pháp) trong những văn hóa bản địa để tiếp
xúc với thế giới hồn linh, những chất kích thích thường
được dùng trong những nghi lễ chữa lành. Những chất đó
chẳng hạn là peyote và vài loại nấm và xương rồng.
2.
Những thần linh âm phủ được xem là sống dưới đất và
liên hệ với nông nghiệp và sự màu mỡ của vùng đất.
Những người tiền-Hy Lạp, tức là một văn hóa mẫu hệ,
thờ cúng những thần linh này. Những thần linh ấy có thể
so sánh với những thần bảo vệ địa phương mà người Tây
Tạng tin là ở những nơi chốn đặc biệt.
3.
Aesclepius (người La Mã gọi là Aesculapius) là con của thần
Apollo và được con quái vật người ngựa Chi-ron nuôi trong
hang của nó. Aesclepius trở thành một y sĩ vĩ đại và bỏ
hang của Chiron để cứu giúp người dân Hy Lạp. Là một người
chữa bệnh tài ba, người Hy Lạp thờ ông như là một vị
thần và xây nhiều đền tôn vinh. Trong những đền này, Aesclepius
có vẻ sắp đặt những giường cho người bệnh, như vậy
đã thiết lập những bệnh viện đầu tiên. Ông bước đi
với một cây gậy bện bằng những con rắn thiêng (biểu tượng
hiện đại của y học), những con rắn này được xem là biết
những nguyên nhân và những cách chữa bệnh. Đôi khi ông làm
cho những bệnh nhân ngủ bằng một “ngọn gió huyền thuật”
và nghe điều họ nói trong giấc mộng của họ. Thường thường
lời họ nói giải thích cái gây ra sự ốm đau, và từ thông
tin này ông có thể cho một cách chữa. Những thầy tế lễ
tiếp tục cầu nguyện ông sau khi ông chết, và ông tiếp tục
xuất hiện trong những giấc mộng của những người bệnh
để cho họ lời khuyên về cách chữa trị.
4.
Shaman, thầy pháp là một từ Siberia phát xuất từ hình thức
cổ điển của thuật bùa chú ở Nam Á châu. Qua những nghi
lễ, ca hát, đánh trống và chất kích thích thần kinh, những
thầy pháp đi vào xuất thần để chữa bệnh và bói toán.
5.
Từ Những Tác Phẩm của Aristotle Dịch Sang Anh Ngữ, xuất
bản W. D. Ross (Oxford : Clarendon Press, 1931), Vol 1, Chương 1.
6.
Laberge, Kelzer và những nhà nghiên cứu giấc mộng khác đã
tìm cách phát triển và tập hợp những phương pháp để khơi
dẫn sự nằm mộng minh bạch. Những phương pháp này gồm
việc trực tiếp đi vào sự mộng nhờ tập trung một cách
tự nhiên vào hình ảnh xảy ra do thôi miên trước khi vào
giấc ngủ (xem Kelzer, Mặt Trời và Bóng, trang 144), và tự
kỷ ám thị mà người mộng sẽ tức thời trở nên minh bạch
trong việc nhận biết những điều phi lý trong trạng thái
mộng. Chẳng hạn, người biên tập mới đây có một giấc
mộng trong đó ông nhận thấy một người và một con chó
tìm cách nhảy từ mái nhà này sang mái nhà kia nhưng không
được và rớt theo một cách không phù hợp với luật trọng
lực. Sự tỉnh giác về sự phi lý này là một phần của
một giấc mộng minh bạch.
Những
phương pháp khác gồm những cách khác nhau dùng tự kỷ ám
thị để có sự minh bạch trong giấc mộng. Steven Laberge (xem
Mộng Minh Bạch, trang 48-78) đặc biệt hoạt động cho sự
hệ thống hóa những kỹ thuật này. Sự đưa vào giấc mộng
minh bạch bằng cách nhớ gồm sự thức dậy trong đêm sau
khi mộng, đặc biệt là những điều phi lý, và làm một gợi
ý mạnh mẽ rằng nếu một điều phi lý hay dấu hiệu mộng
xuất hiện trở lại người ta sẽ tức thời trở nên minh
bạch. Trong kỹ thuật này người ta giữ ý định trở nên
minh bạch tức thời trước khi trở lại ngủ. Laberge tường
trình rằng sự hiệu quả của kỹ thuật này được nâng
cấp bởi sự sử dụng đồng thời những lời khuyên kỹ
thuật như kính bảo hộ mắt chớp lên ánh sáng cường độ
thấp theo những chuyển động nhanh của mắt khi bắt đầu
mộng.
Một
kỹ thuật khác được các nhà nghiên cứu mộng bàn luận
là thử trạng thái. Từ này ám chỉ sự thực hành tự hỏi
mình vào những khoảng thường xuyên trong ngày, đồng thời
phân tích hoàn cảnh để có sự trả lời chắc chắn. “Thử
và phê phán trạng thái” (Mộng Minh Bạch, trang 58) trong nhiều
trường hợp đã dẫn đến một tiến trình thử tương tự
trong giấc mộng, và rồi đến sự minh bạch.
Những
kỹ thuật tìm cách khơi dẫn sự minh bạch này trái ngược
với sự thực hành ánh sáng tự nhiên trong những truyền thống
Phật giáo, đạo Bon và Lão giáo như Norbu Rinpoche bàn luận,
chúng đặc biệt không chú tâm vào sự phát triển sự minh
bạch mà xem sự minh bạch là một phó sản tự nhiên của
sự khai triển tỉnh giác và hiện diện.
7.
Những diễn tả kinh nghiệm giấc mộng minh bạch này là dễ
sợ và có tính giải thoát, hay có thể xem giấc mộng minh
bạch của Kelzer bị nhốt trong tù là để nhắc nhở ông nhu
cầu làm sao đạt đến “sự tròn vẹn của tự do tâm thức
mà tôi nguyện ước”, có vẻ giống như chủ đề trong “Ẩn
dụ cái Hang” của Plato.
Trong
triết lý này, Plato diễn tả những người đang ở trong hang
trở nên quen với những cái bóng câm lặng phản chiếu trong
hang. Người ở trong hang không biết có một thực tại hùng
vĩ, sinh động hơn, và nghi ngờ sự xác thật của mặt trời.
Những
diễn tả những giấc mộng minh bạch có một cường độ
phi thường, giàu màu sắc và những cảm giác khác có thể
gợi lên một “mùi vị của giác ngộ”. Có lẽ người mộng
tạm thời phá vỡ những kiểu thức bị quy định theo thói
quen thường thống trị tri giác, ám chỉ việc đang sống trong
hang.
8.
Sự thích thú với Phật giáo và triết học Đông phương của
Jung là khá lớn để cho ông viết lời đề tựa cho bản dịch
lần thứ nhất của cuốn sách về cái chết của Phật tử
Tây Tạng, Bardo Thodol. Nhưng không may, do những sự dịch sai
lầm trong xuất bản Sách Tây Tạng về Đại Giải Thoát bởi
Evans Wentz, Jung không hề có một cái hiểu về giáo lý Đại
Toàn Thiện Dzogchen qua bản văn trong đó. Sự hiểu lầm của
Evans Wentz về Dzogchen đưa ông đến sự dịch sai, như “bản
tánh thanh tịnh bổn nguyên của tâm” thành “một tâm”.
Do
đó Jung giải thích sai lầm “một tâm” như ám chỉ đến
vô thức, điều này không thể được. Bản tánh thanh tịnh
của tâm nói đến giáo lý cột trụ của Phật giáo, Đại
Toàn Thiện. Hương vị của thực hành Dzogchen được diễn
tả sau này trong cuốn sách này của Namkhai Norbu, và cũng trong
bản văn gốc của thiền sư Tây Tạng Mipham (1846-1914).
Cho
một sự thảo luận thấu triệt về sự hiểu sai nói ở trên,
độc giả có thể đọc bản dịch lại mới đây cuốn Sách
Tây Tạng về Đại Giải Thoát của John Reynolds.
9.
Không rõ đến mức nào Jung đã bị ảnh hưởng trong ý niệm
của ông về năng lực tâm linh vũ trụ bởi những lý thuyết
Phật giáo Mật thừa và Lão giáo về năng lực bên trong, gọi
là “lung”, “prana” và “khí” của Phật giáo Tây Tạng,
Ấn Độ giáo và Lão giáo theo thứ tự.
Trong
hệ thống Mật thừa Anu Yoga, “lung” hay không khí bên trong
được nói là lưu thông qua những kinh mạch bên trong gọi
là “tsa”. Theo Norbu Rinpoche và các lama khác trong truyền thống
Dzogchen, “lung” có thể được tịnh hóa và lưu thông theo
những con đường bên trong đặc biệt. Nhưng phương pháp hoàn
thành những mục tiêu này là những bài tập hơi thở tỉ
mỉ và những bài tập thân thể. Những bài tập này được
gọi là Yantra Yoga, hay Tsa Lung.
10.
Ngày nay rõ ràng là có nhiều dân tộc gọi là sơ khai với
những đường lối khúc chiết để giải thích và thao tác
với giấc mộng. Điều có vẻ giống nhau là từ hàng ngàn
năm một số ít người được nhập môn trong các nền văn
hóa khác nhau đã thực hành thao tác với giấc mộng, mộng
minh bạch và hơn nữa, trong khi hầu hết người bình thường
– như hiện giờ – ngủ một cách không có ý thức.
11.
Đạo Bon hay Yung-drung Bon : Những giáo lý được tìm thấy
trong trường phái Bon phát sanh từ Phật Tenpa Shenrab, xuất
hiện trong thời tiền sử ở Trung Á. Bon nghĩa là lời dạy
hay pháp, và Yung-drung nghĩa là vĩnh cửu hay không thể hủy
hoại. Yung-drung thường được tượng trưng bằng một chữ
Vạn xoay theo chiều trái. Hướng trái tượng trưng cho nguồn
gốc mẫu hệ của Tây Tạng (trái liên hệ đến năng lực
nữ, phải là nam). Yung-drung là một biểu tượng của cái
bất khả hoại của những giáo lý Bon như dorje (vajra) trượng
kim cương là biểu tượng của những giáo lý Phật giáo Mật
thừa.
Yung-drung
Bon cũng được biết là Bon Mới. Lopon Tenzin Namdak phân biệt
hai giai đoạn phát triển của đạo Bon. Giai đoạn thứ nhất
là “Bon Cũ” hay “Bon Nguyên Thủy”, tương tự với pháp
thuật Bắc Á. Giai đoạn thứ hai là Yung-drung Bon với nguồn
gốc của nó trong những giáo lý của Phật Tenpa Shenrab.
Tenzin
Namdak sinh ở miền Đông Tây Tạng và được giáo dục ở
Menri, Tu Viện chủ quản của đạo Bon ở Trung Tây Tạng. Năm
1959 ông trở thành một Lopon, trưởng của những nghiên cứu
hàn lâm và dẫn một đoàn các tu sĩ Bon qua Ấn Độ. Trong
đầu những năm 1960, ông tổ chức cộng đồng đạo Bon ở
Dolangi Himachal Pradesh, và xây dựng một tu viện và một trường
lama ở đó. Ông là vị thầy trưởng và là học giả đạo
Bon cao nhất trong những người Tây Tạng ở nước ngoài. Lopon
Tenzin Namdak là người giảng cho David Snellgrove viết cuốn Chín
Đường Lối của đạo Bon. Lopon sống ở Anh ba năm và nói
trôi chảy tiếng Anh.
12.
Lopon Tenzin Namdak, một vị thầy thiền định cầm đầu phái
Yung-drung Bon của đạo Bon, nói rằng truyền thống Bon – bao
gồm những thực hành tỉnh giác trong mộng – đã có từ
18.000 năm trên một vùng đất gồm Tây Iran và Tây Tây Tạng.
Theo
lịch sử đạo Bon, một siêu nhân, Tenpa Shen-rab, hiện thân
vào thời đó, là vị phát sanh của đạo này. Để so sánh,
những nhà khảo cổ học nói về sự hoạt động rõ ràng
của tôn giáo – chôn người chết với những đồ vật –
từ 30.000 năm trước công nguyên. Xa hơn thì có những di tích
khảo cổ của người Cro Mag-non, tìm thấy khắp Phi châu, Âu
châu, và từ Iran đến Á châu, khoảng 100.000 trước công nguyên.
13.
Dakini : Tây Tạng, Khadro. Kha là không gian ; dro là đi. Như thế
từ này chỉ người đi trên trời, đi trong không gian. Dakini
là hiện thân của trí huệ và cuối cùng vượt khỏi sự
phân biệt giới tính mà được xem là nam. Có nhiều loại
dakini gồm dakini trí huệ, người đã giác ngộ. Những thí
dụ loại này là Mandarava, Yeshe Tsogel và Vajra Yogini. Cũng có
loại dakini ăn thịt, cũng như dakini thế gian, hiện thân năng
lực nữ tính thế gian. Những dakini tượng trưng năng lực
cho phép những giáo lý được dạy.
14.
Phần sau của sách này là một loạt những giấc mộng của
Namkhai Norbu Rinpoche do ngài kể lại khi hành hương đến động
Maratika ở Nepal. Trong cuộc hành hương, Norbu Rinpoche mộng thấy
một bản văn dài hơn trăm trang, gồm những giáo huấn cho
những thực hành thiền định cao cấp. Những giấc mộng sáng
tạo một cách kỳ diệu như vậy là loại giấc mộng của
sự sáng tỏ.
1 Bản
Chất và những Loại Giấc Mộng
Trong
một kinh đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng nhiều ẩn dụ để
diễn tả thế giới hiện tượng mà chúng ta thường xem là
thực. Những diễn tả ẩn dụ này ví thực tại của chúng
ta như sao băng, một ảo ảnh, một ngọn đèn bơ nhấp nháy,
những hạt sương buổi sớm, bong bóng nước, tia chớp, một
giấc mộng, và mây. Theo đức Phật, mọi hiện hữu hợp tạo,
tất cả các pháp, và tất cả các hiện tượng thực ra là
không thực và biến đổi trong khoảnh khắc như những thí
dụ này.
Một
kinh khác dùng những ẩn dụ thi ca phụ thêm để chỉ ra bản
chất của tình trạng không thực của chúng ta. Những ẩn
dụ đó là sự phản chiếu của mặt trăng trong nước, một
ảo ảnh, một thành phố bằng những âm thanh, một cầu vồng,
một sự phản chiếu trong gương và cũng một giấc mộng.
Thí
dụ giấc mộng trong những kinh điển này bởi vì tất cả
chúng ta đều biết rằng nếu chúng ta khảo sát một giấc
mộng chúng ta sẽ chẳng tìm ra cái gì cụ thể. Dù những
nguyên nhân chánh và phụ cho sự sanh khởi của nó có tìm
thấy được, vẫn chẳng có gì thực về bản thân giấc mộng.
Dù
có nhiều điều kiện khác nhau dẫn đến việc mộng, sản
phẩm của những điều kiện, những giấc mộng của chúng
ta, nói chung có thể gom vào hai phạm trù chính : những loại
thường hơn là những giấc mộng xuất hiện từ những dấu
vết nghiệp(1) và những loại giấc mộng xuất hiện từ sự
sáng tỏ của tâm.
Trong
phạm trù những giấc mộng gây ra bởi nghiệp, có những giấc
mộng chủ yếu liên hệ đến ba trạng thái của hiện hữu,
nghĩa là thân, năng lực hay ngữ, và những căng thẳng của
tâm của cá nhân ; và có một loại khác liên hệ đến những
dấu vết nghiệp. Cái sau có ba nguyên nhân, tức là những
dấu vết của nghiệp phát sanh trong đời quá khứ, trong tuổi
thơ và trong lúc gần đây của cá nhân.
Trong
truyền thống y học Tây Tạng, một y sĩ truy tìm nguồn gốc
một căn bệnh cũng sẽ xem xét những giấc mộng của người
bệnh thuộc cái nào trong ba hiện hữu. Với thông tin này,
ông có thể khám phá tình trạng và hoàn cảnh đích thực
của thân, năng lực, và tâm của người bệnh. Đôi khi một
cá nhân có một bệnh nặng khó chữa, trường hợp đó có
thể do những nguyên nhân nghiệp phát sanh trong thời trẻ hay
thậm chí đời quá khứ. Cũng có thể bệnh là kết quả của
một nguyên nhân nghiệp biểu lộ từ những hành động mới
đây. Như thế, phương pháp khảo sát những giấc mộng trở
thành một trong những phương tiện quan trọng nhất để phân
tích và khám phá những nguyên nhân chánh và phụ của vấn
đề.
Những
giấc mộng liên hệ đến ba hiện hữu là sao ? Những giấc
mộng này sanh khởi do một loại kinh nghiệm của thân, ngữ,
tâm. Như thế, những kinh nghiệm trực tiếp liên hệ đến
những nguyên tố, năng lực và những xúc cảm có thể trở
thành những nguyên nhân tức thời cho sự biểu lộ của kinh
nghiệm mộng nào đó, tốt, xấu hoặc trung tính.
Chẳng
hạn, một người ngủ trên một cái giường trong một tư
thế bất tiện có thể khó chịu hoặc đau. Sự gây khó chịu
trở thành một nguyên nhân tức thời cho một giấc mộng xấu.
Hay nếu một người ngủ không tốt do bị chặn sự thở,
những giấc mộng bị ngạt hay bị bóp cổ có thể khởi lên.
Hơn nữa, không khó để hiểu rằng những cảm xúc như vui
hay buồn phối hợp với tâm cũng có thể là nguyên nhân phụ
tức thì sanh ra giấc mộng. Những thí dụ này về giấc mộng
liên hệ đến những điều kiện của ba hiện hữu của cá
nhân.
Về
những giấc mộng liên hệ đến những dấu vết của nghiệp,
có một loại giấc mộng bao gồm những dấu vết của nghiệp
mà nguyên nhân phát sanh trong một đời trước. Trong loại
giấc mộng này, những sự vật không quen thuộc có thể xuất
hiện và người ấy không hề kinh nghiệm chúng trong đời
này, như những cái nhìn thấy xứ sở khác hay những người
dân xa lạ. Những giấc mộng này có thể lập lại thường
đến độ người mộng trở nên thông thạo với thế giới
không quen thuộc kia. Những kinh nghiệm như vậy hàm ý sự
có mặt của một thói quen rất mạnh từ một đời quá khứ
đã để lại một dấu vết nghiệp trong cá nhân. Hay một
giấc mộng xuất hiện về một xứ sở lạ với một người
lạ muốn quấy nhiễu hay giết người nằm mộng ; kết quả
người nằm mộng rất sợ hãi. Điều này đôi khi có nghĩa
một tình huống tương tự xảy ra trong một đời trước –
những tình trạng của người đó bị ảnh hưởng rất mạnh
và để lại một dấu vết nghiệp. Dấu vết này xuất hiện
lại khi những điều kiện phụ đã chín. Loại giấc mộng
nghiệp thứ nhất này xảy ra, dù không phải tất cả mọi
người đều thường kinh nghiệm nó.
Những
giấc mộng nghiệp loại thứ hai có những nguyên nhân được
phát triển trong thời trẻ của người nằm mộng. Nếu lúc
nhỏ, người ấy thình lình sợ hãi hay bị một tai nạn, kinh
nghiệm ấy có thể để lại một dấu vết, và như vậy những
giấc mộng có thể tái diễn về sau trong đời liên hệ đến
biến cố một cách rõ nét hoặc hao hao. Hoặc chẳng hạn,
một người khi còn nhỏ kinh nghiệm một trận động đất
với sự sợ hãi lớn lao, thì về sau trong cuộc đời dấu
vết ấy có khả năng sống lại với những nguyên nhân phụ
thích hợp như kinh nghiệm một trận động đất khác.
Loại
giấc mộng nghiệp thứ ba gồm những giấc mộng phát sanh
từ những hành động mới đây nhưng làm xúc động người
ấy một cách sâu xa. Người ấy có thể giận dữ cực độ
trong thời gian mới đây, và như một hậu quả, có thể đã
đánh nhau với ai đó. Sự tức giận mạnh mẽ này để lại
một dấu vết ; vì thế một giấc mộng khởi sanh tương tự
với tình huống hay chủ đề đó.
Những
nguyên nhân của ba loại giấc mộng này chủ yếu là nghiệp,
nghĩa là, liên hệ với một biến cố gây cho con người xúc
động sâu xa và để lại những dấu vết của sự căng thẳng,
sợ hãi hay cảm xúc mạnh mẽ khác. Khi những dấu vết còn
tồn tại, những giấc mộng với một chủ đề tương ứng
sanh khởi thường hơn là một điều hợp lý.
Có
nhiều giấc mộng tương tự liên hệ đến sự sáng tỏ của
một cá nhân, nghĩa là, những giấc mộng liên hệ đến ba
hiện hữu thân, ngữ, tâm và những giấc mộng liên hệ đến
những dấu vết nghiệp của cá nhân.
Về
loại giấc mộng sáng tỏ liên hệ đến ba hiện hữu, tất
cả chúng sanh người có trong bản tánh đích thực của họ
tiềm năng vô cùng và những phẩm tính không biểu lộ. Dù
mặt trời thường trực chiếu soi, đôi khi chúng ta không thể
thấy nó vì mây che, và có lúc chúng ta có thể thấy nó giữa
những đám mây trong vài khoảnh khắc. Tương tự, đôi khi
sự sáng tỏ của cá nhân tự nhiên xuất hiện ; một kết
quả của điều này là sự xuất hiện của những giấc mơ
của sự sáng tỏ.
Người
đang thực hành Pháp cần cố gắng thư giãn, buông lỏng. Qua
thư giãn thân, năng lực, và tâm, những nguyên tố và những
năng lực trở nên quân bình và qua nguyên nhân phụ và tức
thời này những loại giấc mộng sáng tỏ sẽ sanh khởi. Điều
này đặc biệt đúng cho hành giả đang làm những thực hành
liên hệ đến những luân xa(2) và những kinh mạch,(3) chúng
kiểm soát khí prana(4) và năng lực.
Với
một số cá nhân, những loại giấc mộng sáng tỏ này sanh
khởi nhờ sự sáng tỏ của tâm họ, thậm chí không cần
những biện pháp phụ là thư giãn thân hay kiểm soát năng
lực. Khi một người thực hành đã trưởng thành hay đã phát
triển, có một sự giảm thiểu những chướng ngại thường
ngăn ngại sự sáng tỏ tự nhiên của tâm. Theo thí dụ về
mặt trời, những đám mây giờ đây biến mất đi nhiều và
vô số tia sáng mặt trời có thể biểu lộ trực tiếp.
Khi
mọi điều kiện được đúng và thân, ngữ, tâm được thư
giãn nhờ một thực hành phát triển, bấy giờ nhiều loại
giấc mộng sáng tỏ xuất hiện, một số có thể báo trước
biến cố tương lai. Cũng như những giấc mộng bình thường
có những nguyên nhân nghiệp từ những đời quá khứ, những
giấc mộng của nghiệp trước kia có thể thức dậy trở
lại. Dựa vào khả năng của người mộng, có thể nhớ lại
một đời quá khứ trong toàn bộ của nó. Một trăm hay thậm
chí một trăm ngàn đời có thể được nhớ lại trong một
giấc mộng. Chúng ta có thể đọc trong những cuộc đời các
vị bồ tát và a la hán loại giấc mộng phi thường này xuất
hiện qua sự sáng tỏ không bị ngăn che.
Một
thí dụ về những giấc mộng của sự sáng tỏ mà người
thực hành có thể có như một kết quả của những dấu vết
nghiệp được tích tập trong thời trẻ có thể như sau. Vào
lúc nhỏ, một người có thể có nhiều vị thầy phi thường,
hay đã nhận được những giáo pháp và lễ nhập môn, hay
đã học những phương pháp thực hành. Về sau người đó
có thể có những giấc mộng về những việc này trong đó
đi sâu hơn vào sự hiểu biết ấy. Người ấy thậm chí có
thể có những hiểu biết hay những phương pháp thực hành
trong giấc mộng mà nó chưa từng nghe. Người ta có thể có
nhiều giấc mộng lý thú thuộc loại này.
Những
giấc mộng liên hệ đến những kinh nghiệm mới đây có thể
sanh khởi như sau : Một người đọc cái gì đó, có thể là
một bản kinh văn rất quan trọng, hay có một buổi nói chuyện
sâu xa về thực hành Pháp. Điều này có thể là nguyên nhân
để có những giấc mộng về quá khứ, hiện tại và thậm
chí về tương lai.
Đấy
là những loại giấc mộng sáng tỏ. Chúng là một sự tiếp
tục và phát triển của loại mộng bình thường và chủ yếu
sanh khởi đối với những người thực hành đã có kinh nghiệm
nào về sự làm việc với những giấc mộng của họ hay với
người có kinh nghiệm duy trì sự sáng tỏ và tỉnh giác trong
giấc mộng. Chúng là loại những giấc mộng biểu lộ qua
sự sáng tỏ của bản tâm mình, hay rigpa.(5)
Có
nhiều phương pháp thực hành Pháp được học khi thức có
thể được áp dụng trong tình trạng mộng, dựa trên sự
phát triển tỉnh giác trong mộng. Thật ra, người ta có thể
phát triển những thực hành này dễ dàng hơn và nhanh chóng
hơn trong giấc mộng nếu người ta có khả năng sáng tỏ,
minh bạch. Thậm chí có một số sách nói rằng nếu một người
áp dụng một thực hành trong một giấc mộng, sự thực hành
sẽ hiệu quả hơn chín lần so với khi nó được áp dụng
trong những giờ thức.
Trạng
thái mộng là không thực. Khi chúng ta tự khám phá điều này
trong giấc mộng, năng lực bao la của sự thể nghiệm này
có thể loại bỏ những chướng ngại liên hệ đến cái nhìn
thấy bị quy định. Vì lý do này, sự thực hành giấc mộng
là rất quan trọng để giải thoát chúng ta khỏi những thói
quen. Chúng ta đặc biệt cần sự trợ giúp đầy năng lực
này, bởi vì những luyến ái tình cảm, sự quy định và sự
làm lớn mạnh thêm cái ta, những cái ấy tạo thành cuộc
sống bình thường của chúng ta đã được tích tập, tăng
cường từ bao năm.
Trong
một nghĩa đích thực, mọi cái nhìn thấy mà chúng ta thấy
trong cuộc đời mình thì giống như một giấc mộng lớn.
Nếu chúng ta khảo sát chúng kỹ càng, giấc mộng lớn của
cuộc đời và những giấc mộng nhỏ hơn của một đêm không
khác nhau lắm. Nếu chúng ta thực sự thấy bản tánh cốt
yếu của cả hai, chúng ta sẽ thấy rằng thực ra không có
khác biệt nào giữa chúng. Nếu chúng ta cuối cùng giải thoát
mình khỏi chuỗi xích của những xúc cảm, những bám luyến,
và cái ta nhờ sự chứng ngộ này, chúng ta có khả năng giác
ngộ rốt ráo.
CHÚ
THÍCH CHƯƠNG MỘT
1.
Những dấu vết nghiệp : Theo giáo lý về nghiệp, mọi hành
động đều có những hậu quả kèm theo, chúng không thể tránh
được, nhưng không nhất thiết tức thời. Từ ngữ “những
dấu vết nghiệp” ám chỉ những “hạt giống” hiện hữu
như những tiềm năng không biểu lộ và chúng sẽ chín khi
có những điều kiện phụ mà cần thiết.
2.
Luân xa (chakra) : Những trung tâm không phải vật chất mà tâm
linh ở trong thân thể vào những nơi đặc biệt. Theo siêu
hình học Phật giáo, những luân xa chính tìm thấy ở đỉnh
đầu, cổ họng, trái tim, rốn và cơ quan sinh dục.
3.
Kinh mạch : Những đường kinh qua đó khí bên trong gọi là
prana chảy khắp thân thể.
4.
Prana : Những khí bên trong, theo Norbu Rinpoche, chảy trong thân
thể và có thể được điều khiển để tăng cường năng
lực, sự lưu thông và tập trung bởi những hành giả cao cấp
của Yoga Yantra.
5.
Rigpa : Tánh giác hay sự hiện diện thuần túy của tâm tự-toàn
thiện tự nhiên. Có thể xem thêm, Chu Kỳ Ngày và Đêm của
Namkhai Norbu.